QUÁN TÂM PHÁP – BÀI 3

Jan 28, 20 | | 380 views | No Comments



Share |




THIÊN KHAI MINH ĐẠO AYASANTA

MẬU DẦN 1998


——*****——


QUÁN TÂM PHÁP



——*****——


Đánh máy: Tâm Duyên


——*****——



BÀI 3:




Hôm nay tất cả thiền sinh nghe Cha giảng tiếp về phần Mật Pháp Quán Tâm. Thầy đã nói với các con nếu con người chỉ biết có trái tim và khối óc và chỉ dụng ở trái tim và khối óc thì chắc rằng con người không thể bước vào thế giới tâm linh, mà nếu không có trái tim khối óc thì cũng không định được thế nào là tâm linh, thế nào là khoa học hiện hữu, bởi lẽ ấy khi con người muốn tiến hoá ở trên khía cạnh giải thoát tâm linh thì con người phải biết diệu dụng cả con tim, khối óc và tâm trí mình.

Khi nói đến con tim và khối óc thì các con phải biết nó là một phương tiện nuôi dưỡng cái thân xác của mình. Còn nói đến tâm và trí thì các con phải biết nó là diệu dụng cái phương tiện thực hiện tất cả những công việc làm bằng hành động, nếu không có cái tâm và cái trí thì chắc chắn rằng thân ấy trở thành vô dụng. Mà nếu nói có tâm và trí thì tâm trí ấy bởi ở đâu để vận chuyển nó, phải nói rằng nó khế hợp giữa khoa học nhân thể và khoa học tâm linh, nếu trên thân người có ngũ tạng lục phủ, có khối óc, có kinh lạc, kinh lạc là một phương tiện vô hình để vận chuyển qua trung tâm khu óc não điều khiển cơ thể hoạt động được, mà thân thể được cảm xúc từ pháp trần bên ngoài thì không phải do bộ hệ thần kinh mà do căn thức. Khi căn thức thấy được pháp trần có phải bởi thức hay không? Khi thức nhận pháp trần và chuyển vào cho căn thức thì cái biết được pháp trần có phải bởi thức hay không?

Các con phải phân biệt được thức biết hay căn biết, căn thì nó thường hành như căn nhĩ thường hằng nghe mà nghe được nếu đứng trên khoa học nhân thể, nghe được tiếng động là nhờ thần kinh do sự điều khiển trung tâm khu óc não vận hành, còn nếu biết được thì do nơi thức biết được. Vậy nghe được hữu là bởi thần kinh hệ, cảm biết được là bởi thức, còn bởi cơ quan nào để con người phân biệt được đúng sai, chơn giả?

Hay tóm lại nếu phát khởi ra tình chí con người mà nơi phát khởi ra tình chí con người là cơ quan đó đưa con người đi vào nghiệp lực hay giải thoát, đứng về mặt khoa học nhân thể thì Cha linh hồn các con không đề cập đến mà ở đây Cha muốn nói các con trên khía cạnh khoa học tâm linh.

Cha muốn nói khía cạnh bất diệt không sanh nên không tử. Còn về mặt khoa học nhân thể có sanh thì phải có tử, mà ở khoa học nhân thể chỉ có nhiệm vụ thọ cảm, chiêu cảm là một phương tiện tối ưu để thọ nhận giúp đỡ cho sự tiến hoá tâm thức con người.

Cha thí dụ: Nếu các con có một nghiệp lực mà không có thân thể để thân ấy thọ cảm nghiệp lực vui buồn, giận hờn, sung sướng, êm ái… thì làm sao tâm thức các con ý thức cảm vời toi luyện thọ nghiệp mà buông bỏ, vì lẽ ấy mặc dù các con tu để giải thoát trong tâm thức nhưng phương tiện nhân thể các con rất cần thiết. Đã biết rằng cần thiết thì các con nên diệu dụng bảo dưỡng cho phương tiện tiếp giao thọ cảm được tốt để tâm thức các con toi rèn trên đường giải thoát. Như các con thấy trong xã hội thật công bằng và bình đẳng, công bằng ở đây không phải tất cả những người được sanh ra đều đồng một giai cấp, nằm trong đồng hoàn cảnh mà con người sanh ra rất là công bằng do con người tự tạo cho mình một vai trò và một địa vị trong xã hội của mình, không Thượng Đế nào, không một Đấng quyền năng nào có quyền tối ưu tạo cho một con người nào có địa vị trong xã hội cả, mà địa vị hoàn cảnh để con người vay trả, trả vay cái nghiệp bởi con người tự tạo.

Tạo từ lúc nào? Tạo ở đâu và đến đây tại sao tác động vào con người không hơn không kém, tạo từ đâu, tạo từ vô lượng kiếp trước từng hành động, từng tư tưởng con người. Hành động và tư tưởng ấy nếu con người không biết hoá giải, không biết thoát ra hành động thì tư tưởng ấy tự nó sẽ nhiếp vào mạt na thức của con người, vì mạt na thức là cái kho chứa đựng tất cả hành động giao tiếp của lục căn qua lục thức để tiếp lục trần. Như vậy có phải lục thức dẫn lục căn ra tiếp giao với lục trần bởi ý niệm con người nghiệp lực và lục thức ấy chuyển nghiệp lực vào mạt na thức để biến đổi con người từ kiếp nầy cộng nghiệp, trả nghiệp để chuyển giao từng kiếp một cho đến những kiếp mà con người sống và tự ý thức. Như vậy trong mạt na thức được ghi nhận do lục thức, mạt na thức không hề chuyển vận hay định nghiệp lực của mình mà mạt na thức chỉ ôn chứa tư tưởng tác tạo nghiệp lực kiếp sau của mình do ý thức chuyển nghiệp mà thôi, bây giờ làm sao không còn có sự chuyển nghiệp lực và tác nghiệp lực vào mạt na thức để chuyển vận nghiệp lực từ kiếp nầy sang kiếp khác.

Vậy các chư hiền phải định cho thật rõ tại sao có tâm thức và có trí thức cộng thêm nữa là có ý thức, thì ý thức trí thức nằm đâu và tâm thức nằm đâu, nếu các thiền sinh cứ mãi dụng tâm thức thì các thiền sinh tự cột mình vào luân hồi nghiệp quả vì tâm bổn là không mà giờ nầy chư hiền về sống bằng tâm thức mà tâm thì ở đâu, tâm thể hiện qua vật hữu hiện có. Cha thí dụ cho các con thấy, Cha nói rằng: “Đối với Sương Aya có một ắt thời gian nào đó cái tâm là cây quạt và cột tâm ấy vào cây quạt nên đến giờ nầy nó mới có hiện hữu cây quạt ở đây.” Vậy tâm thức con người ở đâu? Tâm ở đâu? Ở trên tất cả muôn vật hiện hữu mà khi thức đưa nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân vào những vật hữu ấy thì tâm vô hiện hoá để ý thức điều khiển chuyển vận tâm đến sự hiện hữu những pháp trần thì đó là tâm gì? Đó là tâm phụ mà nếu các con cứ lấy ý thức vận hành tâm phụ vận chuyển trong pháp trần, tự đem muôn ngàn pháp trần cột lấy thân và thân đời đời là một địa ngục để nhốt chơn thể, một ngôi nhà trống, một thời gian sau ngôi nhà chật cả pháp trần thì các con cũng thấy ngôi nhà mạt na thức khởi đầu không hề có, sau một thời gian sống các con chứa đầy hết niệm pháp trần để rồi chính con là hiện thân của tất cả pháp trần trong mạt na thức các con đó. Tất cả nghiệp lực trong đó có nghiệp vui, nghiệp sướng, nghiệp buồn, nghiệp đau khổ,… nhưng cuộc đời dù vui sướng hay đau buồn cũng đều là trong trần đau khổ, như vậy các con tự hỏi lại mình thế nào để các con thoát ra khỏi cái tâm sanh tử luân hồi.

Bởi đang nghĩ đến tâm giải thoát nên có tâm luân hồi, vẫn biết rằng bởi có phụ tâm nên mạt na thức đầy dẫy chứa bao nhiêu nghiệp vui, buồn thì tất cả những cái đó cấu tạo nên hình hài tâm thức các con trong kiếp sống nầy, không ai tạo nên các con cả, ý niệm tư tưởng được đúc kết trong mạt na thức được đúc kết trong mạt na thức và tất cả những cái gì trong mạt na thức sẽ cấu tạo thành con người con trong vũ trụ. Bây giờ muốn giải thoát mọi nghiệp lực với tất cả mọi người thì các con phải giải thoát từ mạt na thức chớ không phải giải thoát trên thân tứ đại, không phải các con mặc áo đạo là đã giải thoát xong, các con phải giải thoát trong từng ý nịêm. Ý niệm làm thế nào khi thức giao với trần vì căn thân bổn nó tự thường hằng nghe, thấy, cảm giác… và vô phân biện không dấy lên vọng niệm thì nghiệp lực cũng tự không ghi vào. Các con nên nhớ tu cũng là một nghiệp lành, một cái nghiệp để giải thoát, tất cả nghiệp trong trần, dữ hay lành đều là nghiệp nhưng dụng nghiệp lành giải thoát nghiệp dữ, khi nghiệp dữ mất nghiệp lành tự nó an như, từ an như ấy sẽ tìm thấy được ánh sáng ở trong mạt na thức, nguồn sáng từ đâu có? Tự nó đã có ngay từ khi tất cả những gì đã có hiện hữu ở ngoài càn khôn, nó tự có ngay khi bây giờ, giả danh Đấng Tạo Hoá, hay giả danh Đấng Thượng Hoàng, hay Đấng Mẩu Hoàng, ngay khi âm dương vừa có thì nguồn sáng các con cũng từ đó, nguồn sáng nó vô nhiểm, nguồn sáng vô nhiểm cho nên bao nhiêu nghiệp lực nằm trong ấy nguồn sáng ấy tự nó cũng không phân tán, bởi nghiệp lực che khuất nguồn sáng nên các con tưởng rằng nó đã mất, nên ngày giờ nầy cứ mãi trao dồi nguồn sáng. Các con hãy biết được từng giờ phút một hãy buông ý niệm nên nhớ buông ý niệm chớ không phải diệt ý niệm vì diệt ý niệm nầy thì ý niệm khác sẽ sanh ra, ý niệm tự nó không có mà bởi dục tính con người phát khởi ý niệm.

Ở đây Cha muốn nói về dục tính, các con đừng cô đọng chỉ có dục thể xác mà thôi, cái dục tính là Trời sanh ra muôn vạn pháp trần, lấy pháp trần để thi thố dục tính, nếu không có gì đứng ở không không vô Trời Đất dục tính ấy các con không biết nó có, bởi tạo ra muôn loài vạn vật Thầy tạo ra đàn ông phải có đàn bà, bởi có dục tính Thầy tạo ra đàn bà phải có đàn ông để đối trị và thể hiện dục tính, tạo ra âm phải có dương để có dục tính âm dương, các con phải thấy tự âm dương nó có sự hút, khí âm dương không hề có dục tính nên sự vận hành âm dương luôn luôn thuận, nếu vận hành âm dương có dục tính trong ý niệm thì vận hành âm dương nghịch lý, để tự nó vận hành phi niệm ý thì mới thụân lý Trời, còn nếu các con cứ mãi vận hành bằng ý niệm thì nếu ý niệm thanh có nghiệp lực thanh, ý niệm trược có nghiệp lực trược, nếu các con cảm thọ pháp trần mà không cảm thức nên không có ý niệm thì con người trở thành vô tri. Thọ cảm thức giác biết thời tiết nóng mà không có dụng quạt đối trị thời tiết nóng như vậy con người đạt đến hữu vô niệm.

Ở đây Cha phân tích cho các con thấy chính ngay Thượng Đế muốn tiến hoá thì Thượng Đế cũng vẫn cọ xát vào sự vận hành tiến hoá của vũ trụ thì các con cũng thế. Muốn vận hành tiến hoá tâm thức thì cũng cọ máy ý niệm, Cha đã nói các con rằng ý niệm thanh và ý niệm trược, các con vận dụng ý niệm thanh chớ đừng bao giờ diệt ý niệm trược, đã lỡ nịêm trược nghiệp quả xấu đến cứ trả đi đừng diệt ý niệm trược, biết được cứ trả mãi hãy niệm thanh, khi biết mình chưa vô niệm thì từ niệm thanh hãy chuyển hoá niệm thanh đến vô niệm, từ vô niệm các con phát khởi nguồn sáng đó là huệ trí, nếu các con cứ mãi vận hành đời sống các con bằng tâm thức, bằng ý thức, bằng niệm thì đời đời ở mãi trong lục đạo.

Nên từ nay các con đừng bao giờ khử trừ niệm trược và đừng bao giờ dụng niệm trược vì các con diệt nó sẽ sanh, các con đừng dụng nó thì nó không thao tác được, các con dụng niệm thanh, niệm trược mổi ngày đến với các con qua nghiệp lực, khi thọ nghiệp lực bất niệm cảm dời nghiệp lực, thọ nghiệp lực rồi mất Cha sẽ phân biệt cho các con tại sao dụng niệm thanh là niệm thanh khi đem cây quạt về, sử dụng đối trị khí hậu nóng đó tạm gọi là ý niệm thanh, không phải đem quạt về làm của hay khoe khoang rằng mình là người thừa phương tiện, hai niệm khởi để có một vật hữu nhưng một niệm thanh và một niệm trược. Khi thức giác đã thọ cảm nên dụng niệm thanh để dụng pháp trần các con hiểu tới đây chưa, nếu các con không biết dụng niệm thanh để dụng pháp trần thì các con là người vô trí, nếu không có thức giác để cảm thọ thì các con trở thành vô giác và mọi pháp trần nầy đều trở thành vô nghĩa đối với con người, khi các con dụng vật trong hữu dụng thì các con đi thuận đạo lý rồi đó. Khi mình đi thuận đạo lý có phải rằng trong niệm thanh tự nó đã có ánh sáng, khi niệm trược đã dứt chỉ còn niệm thanh thì niệm thanh tự nó đã có hào quang, hào quang ấy là trí huệ . Các con đứng ra sử dụng pháp trần trong xã hội luôn luôn sử dụng niệm thanh, hãy dụng niệm thanh nguồn gốc từ trí huệ, nếu các con không có trí huệ các con dụng mãi niệm trược như Cha thí dụ các con sự chuyển giao mọi pháp trần trong trần hạ nầy, nếu nói sợ nghiệp quả và con người cứ mãi co vào một góc độ để sống và chịu đựng rồi đến ngày chết để khỏi có nghiệp lực mình kiếp sau nầy thì xã hôi nầy đi đến đâu và con người đi đến đâu?

Tất cả đều đi đến huỷ diệt, thử hỏi luật tiến hoá con người cấu trúc ra tiến hoá hay huỷ diệt con người mãi ý niệm trược cũng bị diệt mà con người không dám bước vào nhận định và làm việc cho đúng tiến hoá cũng bị hoại. Ở đây Cha nhắc sáu căn các con đừng sợ nó đã thường hằng nghe, thấy, cảm vời để thọ nhưng tất cả muốn biết ở pháp trần nhờ sáu thức, sáu thức tiếp giao lục trần mà các con vô niệm thì không có gì chỉ còn ở niệm khi thức dẫn căn giao trần tâm khởi niệm là các con mở địa ngục, thức có bổn phận chuyển giao căn đến với trần nhưng vô niệm thì Niết bàn tại đó.

Cha giã từ.

——*****——


QUÁN TÂM PHÁP – LỜI GIỚI THIỆU
QUÁN TÂM PHÁP – BÀI 1
QUÁN TÂM PHÁP – BÀI 2
QUÁN TÂM PHÁP – BÀI 3
QUÁN TÂM PHÁP – BÀI 4
QUÁN TÂM PHÁP – BÀI 5
QUÁN TÂM PHÁP – BÀI 6
QUÁN TÂM PHÁP – BÀI 7
QUÁN TÂM PHÁP – BÀI 8
QUÁN TÂM PHÁP – BÀI 9
QUÁN TÂM PHÁP – BÀI 10
QUÁN TÂM PHÁP – LUẬN HUYẾT MẠCH
QUÁN TÂM PHÁP – LUẬN NGỘ TÁNH
QUÁN TÂM PHÁP – LUẬN PHÁ TƯỚNG




Leave a Reply