BÍ PHÁP LUYỆN ĐẠO – PHẦN THỰC HÀNH

May 9, 19 | | 239 views | No Comments



Share |




BÍ PHÁP LUYỆN ĐẠO
BÁT NƯƠNG DIÊU TRÌ CUNG GIÁNG BÚT


TỪ HUỆ CHẤP BÚT

Kỉ Mùi 1979


* * * * *


PHẦN THỰC HÀNH





Đêm 21 rạng 22 tháng 4 năm Kỉ Mùi (1979)


Bát Nương mừng các con.

Đêm nay, Bát Nương giảng tiếp về Bí Pháp Luyện Đạo.



Hôm qua nói về Giáo Lý Cao Đài hơi nhiều, nay trở lại phần Thực Hành cho các con lãnh hội.

Luyện đạo thực hành là phần luyện và tịnh tại Vạn Pháp cung hay Trí Huệ cung. Trước khi thực hành phần luyện và tịnh, phải theo các điều khoản sau đây:

1) Mở đầu là Lễ Trấn Pháp và Trấn Thần. Trấn pháp và trấn thần là lễ khánh thành Vạn Pháp cung và Trí Huệ cung. Mặc dầu tại Trí Huệ cung đã có Đức Hộ Pháp trấn pháp rồi, nay phải trấn pháp lại. Trấn thần là lễ nhập khóa của các vị tu chơn.

Trước khi vào phần luyện và tịnh, Bát Nương sẽ truyền dạy cho Từ Huệ 2 bí pháp này.

2) Trấn thần xong, nhập tịnh luôn 100 ngày thì làm lễ xuất tịnh. Sau xuất tịnh, ai được căn bản nào thì giữ căn bản nấy, để rồi sau đó có thể tiếp tục luyện thêm, luyện cho đến khi nào có kết quả mới thôi. Chỉ trừ vị nào căn quả ít mà bỏ cuộc, còn vị nào đoạt pháp rồi thì tùy nghi mà lập công đức với Đức Chí Tôn. Cấm không được chia phe phái rồi sau sẽ thành tả đạo bàng môn.

3) Tại Trí Huệ cung hay Vạn Pháp cung, hội thánh quản lý việc xuất nhập, hành chánh, nội qui, kỉ luật, ăn uống, cúng kiếng.

4) Chỉ được ăn uống trong 3 bữa ăn chính: sáng điểm tâm, trưa cơm, chiều cơm. Không được ăn những thứ nóng như: ớt, tiêu, gừng, tỏi vì những thứ này làm hại thần hoặc tản thần.

5) Cơm chỉ có hai thứ ăn được: tùy theo hội thánh, đó là ăn chay theo lối cổ truyền Việt Nam hoặc cơm gạo lứt muối mè theo lối của người Nhật.

6) Không làm việc nặng nhọc suốt 100 ngày luyện đạo.

7) Khi luyện đạo phải mặc áo dài trắng, không cần mặc đại phục.

8) Chỗ tịnh và luyện tại giường ngủ của mỗi người.

9) Không đèn nhang hay vật gì khác.

10) Tạo điều kiện cho không có muỗi, tốt nhất là nên ở trong mùng khi tịnh luyện

11) Bắt đầu phần luyện và tịnh thì lấy dấu mặc niệm Đức Chí Tôn thêm sức hiệp thần và cầu xin Đức Hộ Pháp trấn giữ Nê Hườn Cung.

12) Dứt phần luyện và tịnh, đưa hai bàn tay chà xát vào nhau, rồi đưa hai bàn tay lên vuốt hai mí mắt, vuốt từ trong ra ngoài.Vuốt mắt xong thì vuốt mặt từ trán xuống càm, rồi từ càm ra sau ót. Làm như vậy một lần gọi là xả luyện.

* * * * *



LUYỆN TINH HÓA KHÍ : PHẦN THỰC HÀNH


Luyện tinh hóa khí phần thực hành có ba phần quan trọng: trường chay tuyệt dục, tu chơn, luyện kỉ. Ba phần này lúc nào cũng thực hiện song song với nhau để phần này hổ trợ cho phần kia.


1. Trưòng chay tuyệt dục:

Đức Chí Tôn nói: “Nếu các con còn ăn mặn mà luyện đạo, rủi có ấn chứng làm sao giải tán cho đặng. Đến khi được hườn, nghĩa là đắc đạo thì trượt khí vẫn còn. Mà trượt khí là vật chất tiếp điễn thì chưa ra khỏi làn không khí đã bị sét đánh tiêu diệt. Còn như biết khôn ẩn núp tại thế mà làm một bậc nhơn tiên thì kiếp đọa trần vẫn còn chưa mãn”.

Theo thánh ngôn của Đức Chí Tôn trên đây, ta thấy phần luyện đạo phải trường chay. Nhưng trường chay không chưa đủ, mà còn phải tuyệt dục nữa. Dục ở đây không phải là muốn mà là tư tưởng dục tình. Tuyệt dục có nghĩa là bỏ điều dâm dục. Bỏ dục tình, bởi trường chay mà không tuyệt dục cũng như nấu cơm mà không đổ nước vậy. Hơn nữa, tuyệt dục là nguyên tắc nghịch chuyển, đem chơn tinh lên nuôi chơn khí, dùng chơn khí xuất chơn thần.

Đức Hộ Pháp cũng nói ở phần luyện trí như sau:

– Ẩm thực tinh khiết (trường chay)

– Tư tưởng tinh khiết (tuyệt dục, bỏ tư tưởng dục tình).

– Tín ngưỡng mạnh mẽ nơi Chí Tôn và Phật Mẫu (đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp), ấy là chìa mở Bát Quái đài tại thế.


2) Tu chơn:

Muốn cho thể xác trong sạch, ta phải bỏ lục dục thất tình, nói chung là nhơn đạo. Dục ở đây là muốn, phần giáo lý đã nói rõ điều này rồi.


3) Luyện kỉ:

Tức là phần thực hành Bí Pháp Luyện Đạo. Luyện kỉ có hai phần: luyện và tịnh. Luyện 15 phút, tịnh 15 phút. Mỗi đêm chọn một giờ nhất định, như chọn 24 giờ thì mỗi đêm cứ đúng 24 giờ là hành pháp (tức 12 giờ khuya).

Thời gian luyện tinh hóa khí là 50 ngày. Phần này nhà Phật gọi là nấu bầu Âm Dương, Tiên gia gọi là tu luyện linh đơn, Nho gọi là qui phục chơn nhất khí.

Bắt đầu luyện và tịnh, mặc áo dài trắng, ngồi tại đầu giường ngủ, ngồi bán kiết già trên gối gòn (gối tai bèo). Làm dấu mặc niệm Đức Chí Tôn, cầu xin Đức Chí Tôn thêm sức hiệp thần, cầu Đức Hộ Pháp trấn giữ Nê Hườn Cung. Cầu nguyện xong, thòng hai tay xuống, tay trái bắt ấn tý để vào lòng bàn tay phải. Tay phải hơi xòe ra, đừng nắm lại. Hai tay xuôi xuống cho thong thả. Lưng thẳng lên, đừng khòm xuống. Hơi thở điều hòa thong thả. Mắt nhắm lại. Trong thời gian 100 ngày luyện đạo, 15 phút luyện phải thở bụng. Thở bụng có nghĩa là hít hơi vô bằng mũi, hơi vô tới phổi nhưng ngực không có phình lên, dùng tư tưởng đưa hơi đó xuống đơn điền, lúc đó bụng lại phình lên.

Khi thở ra thì hơi phổi ra, chớ không phải từ đơn điền đưa ra. Tư tưởng không nghĩ gì hết, không nghĩ là từ đơn điền ra, nhưng bụng lại xẹp xuống. Hít thở như vậy gọi là thở bụng hoặc là khí công.

Ngày xưa, người ta dùng khí công để luyện đạo. Nay khí công đã thất truyền nên chỉ còn dùng để chữa bệnh và luyện võ nghệ mà thôi.

Bây giờ, Bát Nương dùng khí công để luyện đạo, tức là phù hợp với thánh ý của Đức Chí Tôn, như Đức Chí Tôn đã nói: “Từ ngày đạo bế, luật tu hãy còn nguyên, luyện pháp không dời đổi. Song thiên đình mỗi phen đánh tản thần không cho hợp cùng tinh, khí. Nay Thầy hườn nguyên chơn thần cho các con đắc đạo.” Luyện pháp tức khí công, khí công tức luyện đạo. “Công tham thái cực” là như vậy.

Hít thở trong 15 phút như vậy ước độ 180 lần. Mỗi phút hít thở độ 12 lần. Tuy nhiên, tính thời gian thở là 15 phút, chớ đừng đếm số lần thở. Hít thở bằng mũi bình thường. Những lúc hít vô, dùng tư tưởng nghĩ là hơi vô từ mũi-phổi-đơn điền. Trong khi đó bụng lại phình lên. Còn thở ra thì không nghĩ gì cả, nhưng bụng lại xẹp xuống.

Đơn điền ở dưới rốn độ hai lóng tay trỏ. Đơn điền là mạng môn, là cửa sống của con người. Nơi đây qui tụ tinh chất của con người và hướng dẫn tinh chất theo đường thuận chuyển để tạo thành một hài nhi mới. Đơn điền do ý điều khiển. Nếu ý muốn tinh chất đó đi xuống để tìm khoái lạc cho thể xác thì tinh chất đi xuống để thoả mãn dục tình (tức là thuận chuyển). Nếu ý không muốn tinh chất đi xuống mà muốn đi lên, tức là hướng thượng (tức là nghịch chuyển) thì tinh chất sẽ đi lên để thỏa mãn tâm linh. Cái ngoắc ngoéo của luyện tinh hóa khí là ở chỗ đó, cái khó cũng là ở chỗ đó. Xưa kia, khi luyện đạo tới phần này, người ta gọi là chuyển luân xa, mà chuyển luân xa không phải như vậy.

Đơn điền là một cái huyệt. Nếu theo khoa học dùng phương pháp giải phẫu tìm thì không thấy, vì nó không có hình tướng như tâm, can, tì, phế, thận; nhưng mà có. Nó có sức mạnh phi thường. Ngưòi xưa tập võ thường vận khí nơi đơn điền, đánh ra một chưởng, chưởng này có sức mạnh ngàn cân. Người phương Tây tập thể dục vận khí công nơi đơn điền để cử tạ nặng hơn 200 kí-lô-gam.

Đơn điền là nơi chỉ huy sức mạnh của con người, chỉ huy sức mạnh của thể xác, mà sức mạnh của thể xác là khí Hậu Thiên do tinh chất của vật chất biến thành. Hơi thở là khí Tiên Thiên. Đem hơi thở vào đơn điền là đem khí Tiên Thiên vào hòa hợp với khí Hậu Thiên. Tiên Thiên, Hậu Thiên hòa hợp, thể xác sẽ có sức mạnh phi thường.

Ở phần giáo lý về luyện đạo, Bát Nương có nói: muốn thể xác cường tráng, phải tập thể dục mỗi ngày và lấy Tiên Thiên khí nuôi Hậu Thiên khí là như vậy.

Đem hơi thở vào như vậy 180 lần là đủ, tức là 15 phút. Khi đủ 180 lần, ta lấy tay sờ đơn điền coi có nóng hay không. Nếu có nóng thì lấy tay xoa mạnh vài ba lần. Bởi vì nóng là khí Tiên Thiên hơi nhiều, ta xoa như vậy là làm cho khí Tiên Thiên tan đi hết là xong.

Tập hít thở như vậy, mỗi đêm mỗi tập. Tập được 30 ngày thì bầu Âm Dương rất sung mãn. Âm Dương phát khởi vạn năng, tạo cho thể xác một sức mạnh hữu hình. Sức mạnh đó có được là nhờ tập thể dục cộng với sự trường chay tuyệt dục của thể xác, cộng với tu chơn, tức là từ bỏ lục dục thất tình của tinh thần.

Sức mạnh đó biến thành chơn tinh. Muốn đem chơn tinh nuôi chơn khí thì phải nghịch chuyển. Qua 15 phút luyện đến 15 phút tịnh.

* * * * *



Đêm 22 rạng 23 tháng 4 năm Kỉ Mùi (1979)


Bát Nương mừng các con.

Đêm qua, Bát Nương dạy 15 phút luyện.

Đêm nay đến 15 phút tịnh. Luyện và Tịnh liên quan mật thiết với nhau. Luyện phải tịnh, tịnh phải luyện. Phần này nhà Phật gọi là thiền. Luyện là đời, Tịnh là đạo.

Đạo không đời không sức, đời không đạo không quyền. Đạo đời hiệp một mới mong tạo thời cải thế.” Người đạo biết áp dụng câu này là đủ sức thành Tiên, thành Phật. Người đời biết áp dụng câu này là đủ quyền cai quản năm châu.

Luyện là ngày, Tịnh là đêm. Ngày để cho cơ thể hoạt động, đêm để cho tâm linh hoạt động. Ngày là dương, đêm là âm. Âm dương hòa hợp phát khởi càn khôn. Luật dinh hư tiêu trưởng của Trời là như vậy.

Thời gian tịnh là 15 phút. Khi tịnh cũng ngồi bán kiết già. Mắt nhắm lại nhưng đừng cố gắng lắm, chỉ sụp mí xuống là được. Mặt hướng ngay tới trước, đừng ngó xuống hoặc ngó lên quá. Tay chân thân thể đừng nhúc nhích. Toàn thân vắng lặng, yên tịnh, nghiêm trang.

Trong 15 phút tịnh, thở bình thường, nghĩa là thở phổi, hít hơi bằng mũi, hơi vô tới phổi ngừng lại, ngực phình lên rồi thở ra, ngực lại xẹp xuống. Không dùng tư tưởng đưa hơi xuống đơn điền. Thở như vậy gọi là thở phổi.

Ta nên nhớ: LUYỆN THỞ BỤNG – TỊNH THỞ PHỔI.

15 phút này rất quan trọng. Tập trung tư tưởng lại, tập trung ý nghĩ lại, đừng cho dấy lên. Tập trung ý nghĩ lại đừng suy nghĩ gì nữa, đừng nhớ việc này, việc khác.

Ngày xưa, luyện đạo đến phần này, nhà Phật gọi là “tâm viên ý mã“. Tâm là con vượn, ý là con ngựa. Tâm ý chạy nhảy lung tung. Tâm ý càng bị tập trung chừng nào thì tâm ý lại càng suy nghĩ. Phần này coi vậy mà rất khó. Ngày xưa, tịnh đến phần này, ngưòi ta đếm hơi thở để tập trung ý lại, nhưng không có kết quả. Bởi vì có đếm là có nhớ, có 1 tức có 2, đếm 1 sẽ đếm 2. Như vậy, tâm ý vẫn còn hoạt động. Tịnh là bắt tâm ý không hoạt động nữa, không cho tới mức không không.

Muốn cho tâm ý không hoạt động nữa, trước hết ta phải từ bỏ dục tình, từ bỏ lợi danh, từ bỏ ham muốn, cho tới không ham muốn thành Phật nữa. Không ham muốn, tức không suy nghĩ, không so đo, không cân nhắc, cho tới mức không không. Chừng đó, trong cái không không đó lộ ra một ánh sáng. Trong ánh sáng đó, ta thấy ý điều khiển lục dục thất tình. Tâm điều khiển ý.

Bây giờ, ta đem ý về một chỗ, đem tâm về một chỗ. Đem ý về một chỗ gọi là thành ý, đem tâm về một chỗ gọi là chánh tâm. Thành ý, chánh tâm là phương luyện kỉ tốt nhất. Thành ý, chánh tâm sẽ tạo ra một tư tưởng mới, tư tưởng bác ái – công bình, tức là tư tưởng vị tha. Tư tưởng vị tha sẽ tạo được sức mạnh vô hình để bồi bổ tâm linh.

– Luyện là sức mạnh hữu hình.

– Tịnh là sức mạnh vô hình.

Hai sức này hòa hợp sẽ dẫn dắt con người hướng thượng, tức là hướng về Thượng Đế, hướng về Thái Cực Thánh Hoàng.

Luyện 15 phút, tịnh 15 phút, cộng chung là 30 phút. Khi đủ 30 phút, làm động tác xả luyện. Tịnh luyện được như vậy được 30 ngày thì thể xác đầy đủ sinh lực, tư tưởng sáng suốt, tâm hồn thơ thới nhẹ nhàng, thần sắc tươi nhuận. Như vậy, tinh đã hóa khí. Ta phải tiếp tục tịnh và luyện thêm 20 ngày nữa để cho tinh hóa khí hoàn toàn và đem tinh từ đơn điền (tức bầu âm dương) qua hỏa hầu (tức là đốt xương sống thứ 7), dự trữ tại hỏa hầu 20 ngày thì chơn tinh biến thành âm dương khí.

30 ngày trước và 20 ngày sau cộng chung là 50 ngày thì hết phần luyện tinh hóa khí.

* * * * *



Đêm 23 rạng 24 tháng 4 năm Kỉ Sửu (1979)


Bát Nương mừng các con.

Đêm nay nói thêm về luyện tinh hóa khí.

30 ngày đầu luyện tinh hóa khí tại bầu âm dương (đơn điền). Khi bầu âm dương đầy đủ sinh lực thì dấu hiệu đầu tiên nhận biết là: nam phái sanh cường lực, nhiều khi ban đêm có di tinh và mộng tinh; nữ phái thì hay mơ mộng về đường tình ái.

20 ngày kế cũng là luyện tinh hóa khí, nhưng để đưa chơn tinh đó từ bầu âm dương qua hỏa hầu, tức là đốt xương sống thứ 7, nghĩa là từ đốt xương sống dưới cùng đếm lên đốt thứ 7. Phía trước là đơn điền, phía sau là đốt xương sống thứ 7. Đốt này rất quan trọng, nó chịu đựng sự chống chỏi của cơ thể mà cũng là nơi phân phát các dây thần kinh. Nó còn là nơi tập trung mọi sự hiểu biết của ngũ giác quan rồi chuyển lên óc.

Trong 20 ngày sau của phần luyện tinh hóa khí, ta cũng thực hành 15 phút luyện, 15 phút tịnh. Cách thức giống 30 ngày đầu, nhưng phần luyện có khác. Bắt đầu thở bụng ước độ 180 cái, nghĩa là tròn 15 phút, cũng hít vô bằng mũi, dùng tư tưởng đưa hơi đó xuống đơn điền và hỏa hầu, bụng phình lên, khi tới hỏa hầu thì thôi, lại thở ra, bụng xẹp xuống thở ra, đưa hơi thở từ phổi ra, chớ không đưa từ hỏa hầu ra (số hơi mà ta dùng tư tưởng đưa qua hỏa hầu). Khi hít vô thì tâm niệm: mũi-phổi-đơn điền-hỏa hầu.

Chú ý: một vài hơi hít thở đầu thì tâm niệm đầy đủ như vậy, nhưng đến những hơi thở kế tiếp thì phải tâm niệm: mũi-hỏa hầu, bỏ bớt chữ phổi và đơn điền.

Tới hỏa hầu thì ngừng. Vừa tới hỏa hầu thì vừa đủ một hơi hít vô. Hết hít vô thì tới thở ra, nhưng lặng thinh không nói gì hết. Luyện và tịnh như vậy 20 ngày nữa thì tinh hoàn toàn hóa khí. Khi đó, tinh biến thành âm dương khí hay gọi là chơn tinh.

Đủ 180 hơi luyện, đến 180 hơi tịnh.

Tịnh cũng như 30 ngày đầu, cũng thở như thường lệ, tức là thở phổi. 15 phút yên lặng là để gom tâm ý lại một chỗ và bắt nó yên lặng rốt ráo, yên lặng tuyệt đối, nghĩa là không còn một niệm nào xuất hiện trong thần trí nữa. Đó là phần tịnh uyên thâm, phần tịnh vô vi. 15 phút ngồi tịnh là để dùng phép hồi quang phản chiếu soi thấu nội tâm, lắng nghe nội tâm hoạt động.

Thời gian luyện là khác, thời gian tịnh là khác. Luyện dùng ngũ giác quan, tịnh bế hết ngũ giác quan. Thở mà không thở, không để ý đến thở, không cho đến mức không không. Ngày xưa, theo nhà Phật thì khi tịnh tới mức không không sẽ đạt được huệ, tức là đạt được lục thông. Ở đây, ta tịnh tới mức không không thì tâm ý tạo thành một sự sáng suốt để hướng dẫn âm dương khí lên ót.

Phần luyện tinh hóa khí hơi khó, nên Bát Nương nói nhiều, giải thích tỉ mỉ cho các con dễ hiểu, luyện đạo mới có kết quả. Phần luyện khí hóa thần và phần luyện thần hườn hư rất dễ, nên Bát Nương nói ít vì hai phần này ít phụ thuộc vào ta, mà phụ thuộc rất nhiều vào Đức Chí Tôn, Đức Hộ Pháp và Đức Thượng Phẩm.

Nếu ta được hồng ân của Đức Chí Tôn thì hai phần này đoạt rất dễ dàng.

* * * * *



LUYỆN KHÍ HÓA THẦN : PHẦN THỰC HÀNH


Khi thấy trong mình thơ thới nhẹ nhàng, thần trí mở mang, thể xác khỏe mạnh thì tiếp qua phần luyện Khí hóa Thần.

Thời gian 40 ngày, mỗi ngày 30 phút, 15 phút luyện, 15 phút tịnh.

20 ngày đầu đưa hơi thở từ hỏa hầu lên ót, 10 ngày kế tiếp đưa hơi thở từ ót vô óc, 10 ngày sau từ óc qua Huyền Quan Khiếu.

Khi luyện cũng ngồi bán kiết già, làm dấu mật niệm Đức Chí Tôn, cầu xin Đức Chí Tôn thêm sức hiệp thần, cầu xin Đức Hộ Pháp trấn giữ Nê Hườn Cung. Xong, nhắm mắt lại, bắt đầu hít thở 180 cái. Các con phải nhớ: luyện thở bụng, tịnh thở phổi; luyện thì tâm niệm, tịnh thì không tâm niệm gì hết.

Bây giờ bắt đầu hít thở 180 cái. Hít vô thì tâm niệm: mũi-phổi-đơn điền-hỏa hầu-ót. Hơi thở đầu thì tâm niệm như vậy, còn mấy lần sau thì tâm niệm ngắn thôi (tâm niệm: mũi-ót), đồng thời bụng phình lên. Tới ót thì thôi, cũng vừa đủ một hơi hít vô. Hết hít thì thở ra, bụng xẹp xuống.

Chú ý: đưa hơi thở từ hỏa hầu lên ót, phải đưa trong hành tủy của xương sống, bởi vì trong hành tuỷ mới là nơi tập trung các đường kinh mạch, các dây thần kinh, các hệ thống liên lạc của ngũ giác quan từ các nơi lên óc.

Đưa hơi thở từ hỏa hầu lên ót là đưa âm dương khí lên ót, dự trữ lại ót đủ 20 ngày cho âm dương khí hoàn toàn đầy đủ mới đưa vô óc, và 10 ngày sau mới đưa qua huyền quan khiếu.

Tóm lại: 20 ngày từ hỏa hầu lên ót, 10 ngày từ ót vô óc, 10 ngày từ óc qua huyền quan khiếu, tất cả là 40 ngày của phần luyện khí hóa thần.

Trong phần đưa âm dương khí từ hỏa hầu lên ót. Mấy ngày đầu không thấy gì, nhưng mấy ngày sau có nhiều khi xương sống nghe ớn lạnh hoặc nghe nhột nhạt như có vật gì bò, hoặc rùng mình nghe khó chịu, hoặc có những hiện tượng khác. Những hiện tượng như vậy rất tốt, chứng tỏ phần luyện khí hóa thần sắp có kết quả, không có gì nguy hiểm, đừng sợ, cứ tiếp tục luyện.

Khi hơi thở từ đơn điền qua hỏa hầu, nó sẽ biến thành âm dương khí. Ở nam phái sẽ hết mộng tinh, ở nữ phái sẽ hết phần kinh nguyệt.

Hết 15 phút luyện đến 15 phút tịnh. Tịnh tức là ngồi yên lặng, hơi thở bình thường (thở phổi), nhắm mắt lại, dùng phép hồi quang phản chiếu soi thấu nội tâm, nghe nội tâm hoạt động. Nội tâm tức lương tâm, tức điểm linh quang Đức Chí Tôn phó thác. Nội tâm hoạt động, tức là lương tâm điều khiển ý, bảo ý lắng đục tìm trong, tức là điều khiển lục dục thất tình. Kiểm điểm xong thì từ bỏ, loại dần cái xấu và giữ lại cái tốt. Từ bỏ từng cái một cho đến khi nào không còn cái gì để từ bỏ, nghĩa là bỏ cho đến không không, là phương pháp luyện ý và tu tâm đó vậy.

Đức Hộ Pháp cũng có nói trong phần luyện kỉ như sau: đó là phương pháp trị tâm, vì tâm là hình ảnh của thiên lương. Đức tâm và khôn ngoan là kho chí bửu, ngoài ra là của bỏ, là đồ vô giá trị. Ai đã cố oán kẻ thù của mình thì không giữ thanh tâm chơn chánh cho đặng. Ai chẳng oán hận mới thắng kẻ thù nghịch của mình. Sự thù hận là khối thảm khổ cho nhơn loại, là mối sầu khổ đệ nhất của con người, nên người hiền thì không biết đến, hoặc từ bỏ thù hận oán ghét.

Thắng đặng khí nộ của mình thì không chọc ai giận giữ.

Lấy thiện trừ ác, lấy nhơn nghĩa trừ bạo tàn.

Lấy lòng quảng đại đặng mở tâm lý hẹp hòi.

Lấy chánh trừ tà, ấy là đường thương huệ kiếm.

Đặc biệt phần này, Đức Hộ Pháp dạy từ bỏ khí nộ của mình, lấy lòng quảng đại đặng mở tâm lý hẹp hòi. Đó là luyện tâm-trí-ý rất quan trọng. Đó là kiểm điểm để từ bỏ, từ bỏ cho đến hết cái xấu, từ bỏ cho đến khi không còn cái gì để từ bỏ. Lúc đó, trí sẽ sáng suốt, làm ngòi nổ cho Huệ quang khiếu mở ra, bừng sáng ra, tức là khí đã hóa thần.

* * * * *



Đêm 24 rạng 25 tháng 4 năm Kỉ Mùi (1979)


Bát Nương mừng các con.

Đêm nay, Bát Nương giảng tiếp phần luyện Khí hóa Thần.

20 ngày đầu của luyện khí hóa thần là đưa âm dương khí từ hỏa hầu lên ót. Còn lại 20 ngày sau chia làm hai: 10 ngày luyện đưa âm dương khí từ ót vô óc, 10 ngày sau luyện đưa âm dương khí từ óc qua Huệ quang khiếu, tức là Huyền quang khiếu. Câu kinh: “Phá nhứt khiếu chi huyền quang” là như vậy.

Khi luyện đưa âm dương khí hỏa hầu lên ót 20 ngày cũng thở bụng. Nhưng bây giờ, mỗi lần hít vô thì tâm niệm: mũi-phổi-đơn điền (bụng phình lên) -hỏa hầu-ót. Vừa hít vô vừa tâm niệm như vậy, tới ót thì hết một hơi hít vô. Nhưng hơi hít đầu thì tâm niệm đầy đủ như vậy, còn những hơi sau thì tâm niệm vắn tắt: mũi-ót mà thôi. Hết hít thì thở ra. Khi thở ra thì bụng xẹp xuống.

10 ngày đưa vô óc và 10 ngày từ óc đưa ra Huyền quang khiếu cũng tâm niệm từng chặng như vậy.

Hết 15 phút luyện đến 15 phút tịnh. Tịnh cũng bế hết ngũ giác quan, thở phổi nhưng không để ý đến thở.

Hết 20 ngày luyện đưa âm dương khí từ hỏa hầu lên ót, đến 10 ngày luyện đưa âm dương khí từ ót vô óc và 10 ngày từ óc ra Huyền quang khiếu.

Phần luyện khí hóa thần 10 ngày sau cùng này là quan trọng. Khi luyện cũng hít vô và tâm niệm: mũi-phổi-đơn điền (bụng phình lên)-hỏa hầu-ót-óc-Huyền quan khiếu. Tới Huyền quan khiếu thì hết một hơi hít vô. Hơi hít vô lần đầu thì tâm niệm đầy đủ như vậy, nhưng những hồi sau thì tâm niệm vắn tắt: mũi-Huyền quan khiếu. Hít vô, bụng phình lên; thở ra, bụng xẹp xuống.

Mười ngày luyện khí hóa thần này rất quan trọng. Trong 10 ngày này, óc làm việc rất nhiều. Óc tiếp nhận âm dương khí từ ót đưa vô, đồng thời cũng tiếp nhận thần từ Nê Hườn Cung – tức mỏ ác đưa xuống, nghĩa là tiếp nhận chơn tinh từ dưới đơn điền đưa lên, mà cũng tiếp nhận điển lực càn khôn vũ trụ (tức là tiếp nhận Hỗn ngươn khí, mà Hỗn ngươn khí là thần) từ Nê hườn cung do Đức Hộ Pháp đưa vào. Lúc này, Âm dương khí và Hỗn ngươn khí quyện vào nhau, quấn quít nhau, quay tròn như chong chóng, tạo thành một ánh sáng huyền diệu như ánh sáng Thái cực, như tia sáng laser để mở Huyền Quan Khiếu. Câu kinh: ”Công tham Thái cực” là như vậy.

Đức Chí Tôn nói: ”Thầy đã hườn nguyên chơn thần cho các con đắc đạo. Con đã hiểu ”Thần cư tại nhãn”, nhãn đây không có nghĩa là con mắt phàm mà là con mắt thiêng liêng, con mắt thứ ba, tức là Huyền quan khiếu đó vậy“.

Khi tinh-khí hiệp với thần, nó sẽ biến thành một tia sáng, như tia sáng Thái cực, như tia laser, phóng thẳng vào Huyền quan khiếu, làm Huyền quan khiếu mở ra, tức là con mắt thứ ba mở ra. Câu kinh: ”Phá nhứt khiếu chi huyền quan” là như vậy.

Khi con mắt thứ ba mở ra, sẽ ngó thẳng vào càn khôn vũ trụ, ngó thẳng vào tam thập lục thiên, tam thiên thế giới. Ngó lên thấy, thấy nên muốn đến, muốn đi đến đó, nhưng thể xác không đi được, nên tự nhiên trong thể xác chúng ta xuất hiện ra một người nữa. Ngưòi đó là đệ nhị xác thân, tức là chơn thần của ta đó vậy.

Khi chơn thần xuất ra như vậy là Khí đã hóa Thần. Tiếp theo là phần luyện Thần hườn Hư

* * * * *



LUYỆN THẦN HƯỜN HƯ: PHẦN THỰC HÀNH


Luyện Thần hườn Hư là luyện đem chơn thần ra khỏi thể xác và đem chơn thần vào cõi Vô Vi, tức là đem điểm linh quang về với Đức Chí Tôn.

Đức Chí Tôn có nói: “Cái xác thiêng liêng này khi còn ở xác phàm thì khó xuất ra lắm, vì nó bị xác phàm kéo níu. Cái chơn thần ấy của Thánh-Tiên-Phật thì huyền diệu vô cùng, bất tiêu bất diệt. Bậc chơn tu khi còn xác phàm nếu đắc đạo thì có thể xuất ngoại trước buổi chết mà vân du thiên ngoại. Duy chơn thần ấy mới đặng đến trước mặt Thầy.”

Trong 40 ngày luyện khí hóa thần, quan trọng là đưa khí âm dương từ óc qua Huyền quan khiếu. Trong khoảng 10 ngày, không biết ngày nào Huyền quan khiếu mở ra. Nếu Huyền quang khiếu mở ra sớm thì tiếp phần luyện thần hườn hư ngay, không chờ đủ 10 ngày như đã ấn định. Tuy nhiên, nếu Huyền quang khiếu mở chậm, nghĩa là hết 10 ngày đưa âm dương khí từ óc qua Huyền quang khiếu mà Huyền quang khiếu chưa mở ra thì vẫn tiếp tục luyện thêm 10 ngày nữa. Sau khi hết 10 ngày nữa mà Huyền quang khiếu vẫn chưa mở ra, nghĩa là đủ 100 ngày nhập tịnh thì bắt buộc phải xuất tịnh, chờ cơ hội khác, chớ không được ở lại thêm một ngày nữa, dù một ngày cũng không được. Nhưng nếu 10 ngày sau cùng, Huyền quan khiếu mở ra, tức là chơn thần xuất ra được thì tiếp tục luyện qua 10 ngày luyện thần hườn hư. Như vậy là 110 ngày. Đây là trường hợp ngoại lệ.

Luyện thần hườn hư 10 ngày, mỗi ngày 30 phút: 15 phút luyện, 15 phút tịnh.

Trong 15 phút luyện, mở đầu cũng ngồi bán kiết già, làm dấu mật niệm Đức Chí Tôn, cầu xin Đức Chí Tôn thêm sức hiệp thần, cầu xin Đức Hộ Pháp trấn giữ Nê hườn cung. Rồi thì bắt đầu thở bụng, hít thở như phần luyện khí hóa thần. Hít vô cũng tâm niệm: mũi-đơn điền (bụng phình lên)-hỏa hầu-ót-óc-Huyền quan khiếu. Tới Huyền quang khiếu thì hết một hơi hít vô. Hết hít vô thì thở ra, thở ra thì bụng xẹp xuống. Một hơi đầu thì tâm niệm như vậy, nhưng mấy lần sau, chỉ niệm vắn tắt: mũi-Huyền quan khiếu. Mỗi hơi thở ra là một tâm niệm.

Nhiều khi chơn thần xuất ra trong 15 phút luyện, cũng có nhiều khi đến phần tịnh, chơn thần mới xuất ra. Cái khó là khi chơn thần xuất ra là bị xác phàm kéo níu. Bây giờ muốn cho xác phàm không kéo níu nữa, ta phải làm cho xác phàm ngủ quên đi. Luyện và tịnh làm cho xác phàm ngủ quên vậy.

Tịnh là bế hết ngũ giác quan, thở mà không nghe thở. Tâm ý tập trung lại, yên lặng cho tới mức không không. Không không cho thể xác ngủ quên. Khi thể xác ngủ quên trong cái yên lặng không không đó thì tự nhiên bốc lên một ánh sáng. Ánh sáng đó là chơn thần xuất ra. Khi chơn thần xuất ra thì thể xác cũng thức theo. Khi thể xác thức dậy thì có hai sự hiểu biết giống nhau: sự hiểu biết của thể xác và sự hiểu biết của chơn thần. Hiểu biết lẫn nhau để điều khiển lẫn nhau. Chơn thần muốn đi thì điều khiển thể xác. Thể xác muốn về thì điều khiển chơn thần. Điều khiển hổ tương như vậy để cho chơn thần đi ra mà không đi luôn, mà cũng để cho thể xác muốn xuất chơn thần lúc nào cũng được. Câu kinh: “Tánh hiệp vô vi thống tam tài chi bí chỉ” là như vậy.

Luyện thần hườn hư là luyện cách làm cho chơn thần xuất ra bất cứ lúc nào ta muốn, và làm cho chơn thần đi thật xa mà trở lại dễ dàng. Được như vậy là luyện thần hườn hư đã thành công.

Khi chơn thần xuất ra rồi, ta luyện cho sợi dây từ khí biến thành làn sóng điện. Như Bát Nương đã nói ở phần giáo lý, bằng cách đi tới đi lui, đi xa đi gần, liên lạc thường xuyên giữa thể xác và chơn thần để cho dây từ khí thun giãn già dặn thêm lên, cho đến khi nào chơn thần đi thật xa mà sợi dây từ khí vẫn còn liên lạc với thể xác, bấy giờ ta mới có thể đi khắp càn khôn vũ trụ.

Muốn đi khắp càn khôn vũ trụ, ta phải cầu xin với Đức Thượng Phẩm. Khi ấy, Đức Thượng Phẩm chỉ cần điều động cây Long Tu Phiến là chơn thần ta đến nơi theo ý muốn. Cho nên Đức Hộ Pháp có nói khi trấn pháp tại Trí Huệ cung Thiên Hỷ động ngày 14 tháng 12 năm Canh Dần 1950 như sau:

Trong Trí Huệ cung Thiên Hỷ động có hai món bí pháp trấn giữ, đó là cây Long Tu Phiến của Đức Cao Thượng Phẩm, cây Kim Tiên của bần đạo. Toàn thể ngó thấy không có gì hết, mà trong đó quyền pháp vô biên vô giới. Giải thoát đặng cùng chăng là do bao nhiêu đó.”

Đức Hộ Pháp dùng cây Kim Tiên đào độn nguyên khí tức là điển lực càn khôn vũ trụ, đưa vào óc bằng cửa Nê hườn cung, hiệp với chơn tinh từ đơn điền đưa lên làm thành điển lực duy nhất mở đệ bát khiếu tức là Huyền quan khiếu cho chúng ta đoạt đạo.

Khi đoạt đạo, chơn thần mới xuất ra. Khi chơn thần xuất ra rồi, muốn đi đâu lại phải nhờ cây Long Tu Phiến của Đức Thưọng Phẩm là như vậy.

Cây Long Tu Phiến tượng trưng sinh lực, cây Kim Tiên tượng trưng điển lực. Cây Long Tu Phiến điều động tức thời sinh lực càn khôn vũ trụ. Lúc đó tùy theo căn cơ, tuỳ theo duyên phần của nỗi người đoạt đạo và tùy theo nơi mà chơn thần muốn đến mà sinh lực càn khôn vũ trụ kết thành vân xa, hoặc cầu vồng đưa chơn thần đến đó. Nói thì lâu, nhưng chớp mắt đã tới rồi.

Cảnh nơi cõi thiêng liêng hằng sống huyền diệu vô cùng. Cảnh mà không phải cảnh, vật mà không phải vật; vì nó là sinh lực và điển lực của càn khôn vũ trụ hợp thành. Cho nên tuỳ theo căn cơ và duyên phần, tùy theo mức độ giác ngộ, và còn tuỳ theo chủng tộc, trí thức mỗi người đoạt đạo mà nó hiện ra, rồi còn tùy theo trình độ của mỗi người mà tự hiểu biết.

Lâu đài cung điện nơi cõi thiêng liêng hằng sống không giống như ở thế gian; vì ở thế gian là vật chết, còn ở cảnh thiêng liêng là vật sống, lúc nào nó cũng vận hành, co giãn chớp nhoáng chói lòa. Tùy theo tri thức mỗi người hiểu sao thì hiểu, thấy sao thì thấy. Mặc dù vậy, nó cũng vượt ngoài tầm hiểu biết của con người. Cho nên nếu một kiến trúc sư tài ba nhất thế gian mà thấy cung điện nơi Ngọc Hư cung rồi thì điên đi mà chớ. Bởi tài ba nhất thế gian mà so với Ngọc Hư cung thì không được đến một phần, trong khi Ngọc Hư cung muôn triệu lần hơn – cũng như đem một so với muôn triệu. “Diệu diệu huỳnh kim khuyết, nguy nguy Bạch Ngọc Kinh” là như vậy.

Cho tới hình ảnh nơi thiêng liêng hằng sống cũng thế. Chỉ một hình ảnh Đức Phật Mẫu mà khi nhìn ai cũng thấy là Mẹ của mình – Bà Mẹ dưới thế gian này. Bà Mẹ của mình không nói mà mình biết. “Bất ngôn nhi mạc tuyên đại hóa” là như vậy. Có mà không, không mà có, huyền diệu vô cùng. ”Thị không thị sắc, vô vi nhi dịch sử quần linh.” Cho nên vị nào đoạt pháp đặng về cảnh thiêng liêng hằng sống rồi khi trở lại trần gian, họ muốn chết lắm, muốn chết đặng trở lại cảnh thiêng liêng hằng sống cho mau. Về đây đặng hưởng hạnh phúc, cực lạc đời đời. Ham chết lắm, không sợ khổ, tức là giải khổ, thoát khổ, tức là thành Phật rồi vậy.

Khi nhập Vạn Pháp cung hay Trí Huệ cung, những vị nào may duyên đoạt đạo, khi trở lại thế gian, phải bình tĩnh sống và kiên nhẫn sống, sống cho hết mạng căn số kiếp của mình để phụng sự chúng sanh và lập công đoạt vị.

Càn khôn vũ trụ lớn, hàng tỉ tỉ lần lớn hơn, Cái lớn không có tột cùng. Thân thể con người là một càn khôn vũ trụ nhỏ, hàng tỉ tỉ lần nhỏ hơn. Cái nhỏ không có tột cùng. Luyện đạo là để khám phá ra và nói được những phần lớn hơn và nhỏ hơn đó. Các con khám phá và nói ra được tức là các con đắc đạo rồi đó. Người xưa khi luyện đạo thành công rồi, họ biết rõ huyền vi mầu nhiệm của trời đất. Biết để mà biết, chớ không nói ra vì không có ngôn từ để mà nói (bất ngôn nhi mạc tuyên đại hóa). Nếu mà cố nói ra, cố diễn tả một điều gì thì người đời lại cho rằng người đó điên mà thôi. Cũng như các nhà bác học ngày nay, cố giải thích những gì họ mới khám phá ra về vũ trụ không gian với một ngưòi dốt nát ít oi thì họ không thể nào hiểu nổi.

Bổn phận của các con ngày nay, khi đắc đạo rồi, các con phải nói thế nào cho người ta hiểu như các con đã hiểu. Cái khó của các con là đem sự hiểu biết của các nhà bác học về không gian, điện cơ, y khoa, địa lý mà nói với người dốt nát ít oi. Nói cho họ hiểu, làm cho họ hiểu mới khó. Khó nhưng không phải không làm được. Cái khó của Đức Chí Tôn là từ không làm ra có. Cái khó của các con là từ có trở về không. Các con ráng làm đi.

Số người còn lại sau 100 ngày nhập tịnh mà không xuất chơn thần ra được, nghĩa là không đoạt pháp, không đắc đạo, phải bình tĩnh lấy công tâm mà xét nét lại coi:

1- Có đủ tam lập hay một phần trong tam lập chưa?

2- Có giữ đúng trường chay tuyệt dục không? (dục ở đây có nghĩa là tư tưởng dục tình)

3- Có bỏ lục dục thất tình không? (có nghĩa là muốn, tức là nhơn dục)

4- Có tập thể dục mỗi ngày 2 lần không?

5- Có hiểu rõ ràng từng chữ, từng câu, từng ý nghĩa trong Bí Pháp Luyện Đạo của Bát Nương không?

6- 15 phút luyện có thở bụng đầy đủ không? Có một vài lầm lẫn thở phổi không?

7- Khi niệm, có tâm niệm từ chặng để đưa hơi từ mũi-phổi-đơn điền-hỏa hầu-ót-óc-huyền quan khiếu không?

Nếu có một vài lần sai trái hoặc một vài lần thiếu sót thì hãy đọc kỉ lại tài liệu Bí Pháp Luyện Đạo của Bát Nương, ghi nhớ rõ ràng từng nét một, rồi chờ cơ hội khác làm lại một lần nữa. Chỉ trừ khi nào người hành pháp được giảng sư cho xuất tịnh vì lý do cơ thể không hợp với phương pháp luyện đạo này, thì không làm lại một lần nữa.

Sau khi đủ 100 ngày, làm lễ xuất tịnh rồi, người đoạt pháp có quyền định đoạt bổn phận họ đối với Đức Chí Tôn và đối với chúng sanh để lập công đoạt vị cao hơn nữa. Có người không đoạt pháp cũng có một sự sáng suốt vô cùng, gần như sự sáng suốt của các nhà bác học.

Còn những nhà bác học ngày nay trên thế giới, nếu họ may duyên gặp đựợc Bí Pháp Luyện Đạo của Bát Nương, rồi họ thành khẩn tin tưởng và quyết tâm thực hành đúng 100 ngày. Mặc dầu họ không xuất chơn thần ra được như những người đoạt pháp đoạt đạo, nhưng họ sẽ có một sự sáng suốt phi thường và nhờ đó mà họ sẽ có được những thành quả mỹ mãn trên mọi lĩnh vực nghiên cứu.

* * * * *



LỜI DẶN RIÊNG CHO NHỮNG VỊ GIẢNG SƯ Ở TRÍ HUỆ CUNG HAY VẠN PHÁP CUNG


Khi nào người hành pháp đến phần luyện tinh hóa khí mà nơi đơn điền có hơi đau ngấm ngầm, và phần luyện khí hóa thần có hơi nhức xương sống, hoặc nhức đầu, hoặc lùng bùng lỗ tai thì cho xuất tịnh ngay. Sau khi xuất tịnh thì mọi chứng đau này không còn nữa. Sở dĩ có những chứng này là vì cơ thể của họ không hợp với cách luyện tam bửu, chứng tỏ người hành pháp ít có căn cơ nên khó mà luyện tập.

Bí pháp luyện đạo của Bát Nương là phương pháp rốt ráo, không có phương pháp nào khác. Nó có giá trị tuyệt đối, nghĩa là từ nay về sau, lúc nào tu luyện cũng được, không thay đổi gì nữa.

Ai ai cũng có thể luyện Tam Bửu, nhưng luyện được hay không là do duyên phần của mỗi người và do lòng thành khẩn, tín ngưỡng tuyệt đối của mỗi người.

* * * * *


BÍ PHÁP LUYỆN ĐẠO – PHẦN GIÁO LÝ

BÍ PHÁP LUYỆN ĐẠO – PHẦN THỰC HÀNH

DIỄN GIẢI: KINH CHÚC TỤNG NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ




Leave a Reply