ÐẠI-THỪA CHƠN-GIÁO: ÐẠI ÐẠO PHỤC HƯNG – CAO ÐÀI XUẤT THẾ

Oct 7, 17 | Tâm Duyên | 192 views | No Comments



Share |




ÐẠI-THỪA xuất bản kỳ hai,
Phục hưng CHƠN-GIÁO phổ khai Ðại Ðồng.
Ðến ngày chỉnh lập Hoa Long,
Thế gian mới biết danh ông CAO-ÐÀI.
Kinh truyền chẳng luận dở hay,
Ai người huệ trí tầm ngay chơn truyền.
Là phương tạo Phật tác Tiên,
Là đường siêu thoát lưu truyền muôn năm.


_____________


CHƯƠNG II
HÌNH-NHI THƯỢNG-HỌC
ÐẠI-THỪA TÂM-PHÁP

_____________


Play MP3-1:

Play MP3-2:


20 tháng 9 – Bính Tý (1936)

ÐẠI ÐẠO PHỤC HƯNG – CAO ÐÀI XUẤT THẾ


Thi:

CAO quá đỗi cao mấy kẻ tầm,
ÐÀI linh thần khí tụ nơi tâm,
THƯỢNG điền lập đảnh âm dương kết,
ÐẾ dĩ long thăng hổ giáng lâm.

Cười . . . Cuộc đời cay nghiệt, nhiều nỗi éo le, nạn nọ tai kia kế đến ngày tạo Thiên lập Ðịa. Máy hành tàng chưa thấu đáo, phép nhiệm mầu cơ Tạo đã bày ra. Ôi là thảm khổ cho đời sẽ chịu vùi chôn trong cuộc tang thương biến đổi.

Thầy nay giáng đàn là đem đôi lời Ðạo-đức giảng giải cho đời thức tỉnh giấc ngây ngần huỳnh-lương chi mộng.

Thi:

Ðại-Ðạo vô hình giục chúng-sanh,
Ðạo khai Thiên Ðịa Ðạo lưu hành,
Ðạo truyền xuống thế đời an trị,
Ðạo-đức năng tu quả vị thành.

Ðạo là vô-vi mà hữu tác. Ðạo có động mà có tịnh, để dưỡng dục chúng-sanh và lưu hành trong Càn-Khôn Vũ-Trụ. Cũng trong một “Lý” một “Khí” mà Ðạo đã tạo thành nghìn giống muôn vẻ. Ðạo lại lúc ẩn hồi bày, cứ biến hóa đổi thay, thiệt là toàn năng cơ mầu nhiệm.

Ðạo hay sanh mà hay sát, nhưng sanh hay sát cũng do tại lòng người đào tạo mà ra. Lắm khi nó ở chỗ gần mà người kiếm nơi xa, nó ở chỗ dễ mà người tầm nơi khó. Vả Ðạo không xa người, chỉ tại người thường xa Ðạo; mà hễ người xa cách Ðạo thì người khó sống đời. Ðạo lại vô ảnh, vô hình, vô thinh, vô xú, bởi vậy lắm khi người tầm không đặng, kẻ kiếm không ra đó cũng vì lúc nó lại, hồi nó qua, không bao giờ ngưng nghỉ.

Ðây Thầy giải sơ chỗ Ðạo vô-vi mà ứng lộ nơi hữu hình

Tại sao Ðại-Ðạo phục hưngCao-Ðài xuất thế ?

Ðạo phục hưng là vì lòng bác ái, từ bi của Thầy thấy cuộc tuần huờn hầu mãn, cơ dĩ định cận kề, không lẻ để đám con thảy phải chung chịu trong cuộc tang điền thương hải, mà bị chôn lấp cả xác hồn, nên mới giáng thế phục hưng chơn truyền để chỉnh đốn đời u lệ trở lại đời Nghiêu, Thuấn, cho người người rõ Ðạo-đức tu hành, hầu thuận theo Thiên lý mà bỏ dữ làm lành và kềm nhơn dục để xa đường tội lỗi.

Ðạo lập ra cốt yếu để độ phần hồn của nhơn loại cho thoát khỏi chốn mê đồ, vòng tân khổ, nên mới gieo chơn truyền khắp chỗ, cốt tỉnh ngộ nhơn sanh.

Ðã biết rằng Ðạo là thanh thanh, tịnh tịnh, không ứng lộ ra ngoài, nhưng muốn lập giáo phải làm sao?

Phải bày cơ hữu hình để chỉ cho rõ lý mới được. Vậy cách lập giáo của Thầy cũng không chi lạ, chỉ noi theo Tam Giáo trước mà làm qui-cũ chuẩn-thằng rồi đem gồm về một mối chánh.

Tam-Giáo trước là: Nho, Thích, Ðạo vì hoằng khai cũng đã lâu đời, nên bị biến cãi mà thành thử phải thất chơn truyền làm cho sai lạc mất hết cả Thiên-cơ mầu nhiệm, bởi đó nhơn sanh tu tuy nhiều mà thành thì chẳng có.

Lại cũng bị thất truyền mà Tam-Giáo lần lần phải chịu lu lờ mờ mịt. Nẽo chơn không ai đến, đường chánh chẳng người đi, nên cỏ mọc, bìm leo, gai rào, cây lấp. Vì lẽ đó nhơn loại phải chịu mãi trong vòng dây luân-hồi tứ khổ, đày đọa mãi ở chốn trần ai. Nhơn sanh cũng vì vậy mà lần lần tiêu Ðạo-đức, phế tinh thần mới chuộng sự hữu hình, nên bày những âm thinh, sắc tướng. Không ai còn để chí, lưu tâm đến chỗ thâm huyền cao viễn, chỉ ưa sự dễ dàng, tạng thấy, tạng nghe, rồi cứ dẫy lòng nhơn dục tham mê, mới gây tội ác nặng nề, phải mang lấy sừng lông mà bị thối hóa lại súc sanh và luân-hồi lục-đạo.

Ba nhà Tôn-Giáo đã thất chơn-truyền:

1.- Ðạo THÍCH, Ðạo THIỀN bày dị đoan từ đời Thần-Tú làm mê hoặc chúng-sanh. Vậy cũng phổ độ, cũng giựt giành mà chỉ đem con người vào đường u ám, lạc lầm. Kinh sấm truyền lại mà không khảo cứu, kiếm tầm cho ra chơn lý, chẳng định trí tham-thiền, không gom thần nhập- định.

2.- Còn NHO-GIÁO, sau đời Mạnh-Tử, càng ngày càng lạc lầm, đường Thiên-lý chẳng cần, chỗ thâm nhiệm không rõ, chỉ học đặng khoe tài hay giỏi, dục lợi cầu danh, tổn nhơn ích kỷ chớ không chịu học để sửa mình, tầm hiểu cho tột cùng cái lý cao siêu huyền bí, cái cơ nguồn cội muôn loài.

Học là cốt để mở mang tinh-thần trí-hóa đặng trau giồi cho tận thiện, tận mỹ cái cơ hữu hình, chớ học mà để cầu vinh hay là mong mỏi đến quyền cao chức cả, ấy là người tiểu-nhơn hạ-trí, không biết cầu lấy cái cao siêu quí trọng, nhứt là Thiên-Chức mà Trời đã nấy trao cho.

Con người có hai cái phận sự: thứ nhứt là Thiên-Chức, thứ nhì là Nhơn-Tước. Thiên-Chức là cái chức vụ Thiên-nhiên của Trời phú cho người, còn Nhơn-Tước là cái tước phẩm phàm trần của người phong cho người.

Người quân tử bao giờ cũng cần phải trau giồi tánh cách cho hoàn toàn, đào luyện tinh thần cho thuần khiết, để lo cho tròn cái Thiên-Chức ấy. Vã con người hễ Thiên-Chức đã hoàn toàn thì Nhơn-Tước nào lại khó chi. Nhưng người đời lại hay có tánh ham ngọn mà bỏ gốc, nên hằng đem hết thần hồn mà say đắm về Nhơn-Tước chớ không còn nhớ đến cái Thiên-Chức chút nào. Ấy thiệt là đám hủ nho vậy.

3.- Còn ÐẠO-GIÁO là huyền bí, thậm chí ư huyền bí, chỉ có người bực thượng-trí mới thấu đáo chỗ căn nguyên, còn bực thường-nhơn hạ-trí thì rất khó thông cơ mầu nhiệm, bởi vậy mới hiểu lầm tưởng sái mà bày ra phép tắc, phù chú làm cho mê hoặc thói đời thêm hư phong tục, khiến người nhiễm lấy dị đoan nào là hô-phong hoán-võ, tróc quỉ, trừ ma, bày binh, bố trận, mới biến ra tả Ðạo bàng-môn, thiệt là rất hại.

Ngày nay Thầy đến đây đem ba nền Tôn-Giáo hiệp nhứt lại, tạo thành một Tòa lớn lao để đời đời kiếp kiếp cho nhơn sanh nương vào đó mà lánh cơn nạn khổ thảm sầu. Ba nhà Tôn Giáo ấy tuy đổ sập mặc dầu, nhưng Thầy cũng vì lòng từ bi, chọn lựa cái nào còn đúng đắn thì Thầy lấy, cái nào hư nát thì bỏ ra; như cột, kèo, xuyên, trinh, ngói, gạch, cái nào còn nguyên thì dùng, cái nào bể nát hay hư hao, bị mối ăn, sâu đục thì bỏ ra. Cây nào cong vạy thì uốn nó lại, trừ ra uốn không nổi mới bỏ. Thầy lấy các vật ấy ráp lại thành một Tòa ÐẠI-ÐẠO cho nhơn sanh sùng bái, tu hành là tòa nhà ngày nay Thầy lập thành đó.

Tại sao ba nhà Tôn Giáo đó phải bị siêu đổ? Là tại cái nền tảng không đặng cứng cát, vững vàng, cất ở trên nổng cát, bảo sao gió thổi không xiêu, giông to chẳng đổ. Chớ còn ngày nay Thầy đến đây lập một Tòa CAO-ÐÀI ÐẠI-ÐẠO thì trước hết Thầy đã biểu các con xây nền đấp móng dưới cho chặt chịa, vững vàng rồi mới cất Tòa nhà đồ sộ ấy lên, thì sẽ đặng bền vững lâu dài hơn ba nền Tôn-Giáo trước.

_____________


CÁCH THỨC THỜ PHƯỢNG



Ðây Thầy giải sơ về cách thức thờ phượng của Cao-Ðài Ðại-Ðạo. Tại sao Thầy lại bảo các con tạo ra “Thánh Nhãn” mà thờ, không dạy thờ hình tượng như các Tôn Giáo khác? Các con phải biết rằng: Trời là Lý thì Lý ấy rất thông linh bao quát Càn-Khôn Thế-Giới. Thầy đâu phải có xác phàm như các con mà tạo hình thể như các con, nên chi thờ Thiên-Nhãn là thờ Thầy.

Tại sao Thiên-Nhãn là Thầy? Thầy có dạy trước: “Nhãn thị chủ tâm, lưỡng quang chủ tể, quang thị thần, thần thị Thiên, Thiên giả ngã giả“. Nhãn là trái tim của con người. Trái tim ấy là Tạo-Hóa tức là Thần mà Thần là cái hư vô. Lý hư vô ấy là Trời vậy.

Người tu hành chừng nào luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần, luyện thần hườn hư, luyện hư huờn vô thì huyền quang nhứt khiếu ấy mở hoát ra.

Huyền quang nhứt khiếu ấy là chi? Là Thiên-Nhãn vậy. Nó ở ngay nê huờn cung, gom trọn chơn dương chánh đạo. Hai con mắt của các con là nhục nhãn, tức là âm với dương, thì cũng như Thái-Cực là Thiên-Nhãn, còn lưỡng quang là Nhựt Nguyệt hằng soi sáng khắp Càn-Khôn, cứ tuần huờn mãi, hết ngày đến đêm, hết đêm đến ngày, không bao giờ dứt sự hành tàng của Tạo-Hóa.

Thi:

Luyện thuốc kim đơn rõ Ðạo mầu,
Thành Tiên tác Phật tại song-Mâu,
Âm dương toàn ẩn cơ tại “Mục”,
Thần khí thông linh tại thượng đầu.

Ðây Thầy giải về: Vô Cực Ðăng.

Trước khi chưa phân Trời Ðất thì khí hư vô bao quát Càn-Khôn sáng soi đầy trong Vũ-Trụ. Nó là một cái trung tâm điểm tức là Ðạo. Ðạo ấy mới sanh Thái-Cực, hóa lưỡng nghi. Lưỡng nghi là âm với dương (động với tịnh). Có âm dương rồi mới hóa sanh muôn vật.

BanThoCMVVTTNgọn đăng các con thờ chính giữa đó là giả mượn làm tâm đăng. Phật Tiên truyền Ðạo cũng do đó, các con thành Ðạo cũng tại đó. Nó ngay chính giữa không lay động, xao xuyến, chiếu soi khắp cả Càn-Khôn. Mặt Nhựt, Mặt Nguyệt có lúc sáng, hồi tối, chớ nó thì giờ khắc nào cũng tỏ rạng không lu lờ. Nhơn vật nhờ đó mà sanh, nhờ đó mà thành, nhờ đó mà an vui, Trời Ðất nhờ đó mà quang minh trường cửu, người tu hành nhờ đó mà tạo Phật tác Tiên, siêu phàm nhập Thánh. Hễ chinh qua bên tả thì thành tả-đạo, xê qua bên hữu thì lại bàng-môn, ngay ở giữa là chánh Ðạo. Các con nên tường lý ấy. Lý ấy ở trong tâm. Tâm an tịnh, vô-vi tự-nhiên bất động là chánh Ðạo, tâm còn tính mưu thần, chước quỉ, độc ác, hiểm sâu, ấy là bàn môn tả Ðạo, chớ chi các con.

Còn Hai Chén Nước là âm dương (động và tịnh). Âm dương là cơ động tịnh của Trời Ðất tức là thần khí của các con. Tu hành không nhờ thần khí lấy gì luyện đắc Thánh thai. Trời Ðất không có âm dương làm sao hóa sanh vạn vật, muôn vật không trống mái làm sao sanh sản thêm ra. Vậy âm dương là cái diệu động tịnh của Trời Ðất vậy. Âm dương lại có thêm cái thể dụng của âm dương nữa là Nhựt, Nguyệt, tức là Cặp Ðèn (lưỡng nghi). Người tu hành biết cách hồi quang phản chiếu thì đắc kim đơn cơ tại mục là vậy.

Trên có Lư Hương tức là Tiên-Thiên lập đảnh, tượng ngũ khí, ngũ hành.

Dưới có Lư Trầm là Hậu-Thiên an lư, hóa ngũ linh, ngũ đức. Trên đầu là đảnh, dưới đơn-điền là lư.

Còn Hoa, Quả, Trà là tam-bửu của các con. Ngày nào hiệp tam-bửu rồi là ngày thành Ðạo.

Trường Thiên

Khí hư-vô tạo ngôi Thái-Cực,
Tức là ngôi độc nhứt quang minh,
Vô-vi, vô-ảnh, vô-hình,
Thần thông quảng đại chí linh diệu-huyền.
Trong Vũ-Trụ trọn quyền sanh hóa,
Nắm trong tay khắp cả Càn-Khôn,
Nấng nuôi vĩnh kiếp trường tồn,
Làm cho xác thịt linh-hồn an vui.
Người tâm chí nhiễm mùi Ðạo-đức,
Gia công tìm mẹo mực Tạo Ðoan,
Rõ thông trong máy hành tàng,
Bảo tồn thân thể vững vàng bền lâu.
Khắp Vũ-Trụ một bầu Thiên Ðịa,
Cơ vận hành bốn phía mở mang,
Phân ra Ðịa-Ngục Thiên-Ðàng,
Các con sao vén nổi màn huyền vi.
Ðạo ẩn tàng, có khi ứng lộ,
Phật, Tiên truyền để độ chúng-sanh,
Chỉ phương siêu thoát rành rành,
Thuận tùng Thiên-lý tu hành lại ngôi.
Phép Ðạo tránh luân-hồi tứ khổ,
Mà tầm vào đến chỗ quang minh,
Bày ra giả tướng hữu hình,
Ðặng làm thể Ðạo chí linh diệu-huyền.
Người gọi là tiểu Thiên Ðịa đó,
Người với Trời nào khó khác chi,
Hễ Trời có những món gì,
Người người đều cũng đủ y như Trời.

Trong thân thể đổi dời tấn-hóa,
Người biết tu mau khá trau giồi,
Coi như có lỡ thì bồi,
Cho đầy đủ lại phục hồi cựu nguyên.
Phật nhập-định tham-thiền tầm lý,
Mà dưỡng thần, tinh, khí đủ đầy,
Làm cho bánh phép hằng xây,
Âm dương luân chuyển gió mây vận hành.
Tiên tịnh-tịnh thanh-thanh bất động,
Ðể cái tâm trống lỗng chẳng xao,
Tâm xao biển dậy ba đào,
Trược thanh cũng phải lộn nhào đó con!
Con biết Ðạo giữ còn tâm Ðạo,
Mang thân người lộn lạo âm dương,
Pháp-luân con chuyển cho thường,
Xuất huyền nhập tẫn là đường giao thông.
Luyện âm tuyệt lòng trong đắc quả,
Âm tuyệt rồi Ðạo đã thuần-dương,
Thuần-dương thẳng đến Thiên-Ðường,
Làm Tiên, Thánh, Phật thoát đường tử sanh.
Chơn-dương hết thì thành ma quỉ,
Âm dương đồng tức thị là người,
Hạo nhiên cướp đặng tốt tươi,
Ðem vào nuôi nấng thân người trường sinh.
Dạy sơ qua hiểu rành lấy trẻ,
Phép nhiệm mầu không lẽ chỉ nhiều,
Tìm vào đường giác thì siêu,
Biết phương thoát khổ phải chìu Thiên-cơ.
Ðạo không thấy, nghe rờ sao đặng,
Ðạo im lìm phẳng lặng tự-nhiên,
Ðạo thông lưu khắp hậu tiền,
Ðạo là then máy diệu-huyền biết bao.
Ðạo không thấp, không cao chi cả,
Ðạo không dùng phép lạ hoặc nhơn,
Ðạo là chí-chánh chí-chơn,
Toàn năng, toàn thiện là đơn luyện thành.
Ðạo dưỡng dục vận hành bao quát,
Ðạo độ người hay sát hay sanh,
Suy cho thấu, hiểu cho rành,
Giải sơ hình thể chúng-sanh bề ngoài.
Tôn chỉ Ðạo Cao-Ðài chỉ rõ,
Mượn hữu hình bày tỏ chỗ vô,
Thiên-Bàn làm cái Bản Ðồ,
Coi ngoài mà biết điểm tô trong mình.

Tuy là sự giả hình sắp đặt,
Trái trông sao thì mặt cũng in,
Người tu phải biết giữ gìn,
Chuẩn thằng qui củ mà tìm Thiên-cơ.
Tại sao lại dạy thờ Thiên-Nhãn?
Thiên-Nhãn là căn bản chúng-sanh,
Ðó là một đấng trọn lành,
Một ngôi chúa tể hóa sanh muôn loài.

Trong các giống, các nòi do đó,
Mà ngày nay mới có tại đây,
Hạ-nguơn máy Tạo vần xây,
Nên chi Từ-Phụ dựng gầy cơ quan.
Biết tu sớm hội bàn lập vị,
Trước dạy rồi nhãn thị chủ tâm,
Tâm là chủ-tể cao thâm,
Quang minh chánh đại muôn năm vững vàng.
Phải biết rõ “lưỡng quang chủ tể”,
“Quang thị Thần, Thần thể thị Thiên”,
Thiệt là diệu-diệu huyền-huyền,
Trời người có một chẳng riêng khác gì!

Trời là Lý vô-vi tuyệt diệu,
Tức là thần phản chiếu Càn-Khôn,
Người kêu bổn tánh linh-hồn,
Ðời đời kiếp kiếp trường tồn không hư.
Phép tu biến đầu từ suốt cuối,
Khai huyền quang tánh muội đắc thông,
Toàn tri hiển hiện chơn không,
Huyền quang khai xuất nhãn thông côn-đoài.
Ðoạt lấy chỗ bổn lai diện mục,
Luyện cho thành cửu khúc minh châu,
Tha-tâm thông mối nhiệm mầu,
Lấy kim đơn tại sông mâu vào lò.
Thần cảnh thông Ðạo do tâm đắc,
Diệt lục trần, lục tặc ngoài trong,
Làm sao cho lậu-tận thông,
Thành tâm tuyệt vọng trống trong mới mầu.
Ðạo hư vô người hầu đoạt lấy,
Thiên-Nhãn thông mới thấy suốt tường,
Nhãn là thần đã thuần-dương,
Công viên quả mãn đắc trường sanh an.
Cách sắp đặt Thiên-Bàn thờ phượng,
Mượn hữu hình sắc tướng truyền đăng,

Tam-Tông đem Ðạo khai hoằng,
Dụng tâm chánh-giác công bằng chấp trung.
Nói sao cho tận cùng lý Ðạo,
Vẽ vời ra máy Tạo khó thay!
Mỗi người có tánh Như-Lai,
Tầm ra thấy sẵn Thiên-Thai bên mình.
Chỗ chí diệu, chí linh Ðạo cả,
Âm dương hòa sanh hóa Phật Tiên,
Cái cơ động tịnh diệu-huyền,
Luyện thành chánh quả nhờ truyền âm dương.
Trời, Ðất, Người, một phương một lý,
Trong mình người thần khí giao nhau,
Cang nhu, trống mái một mầu,
Ðục trong lừa lọc thì mau chứng thành.
Năm Cây Nhang ngũ hành mới tượng,
Mới phân ra bốn hướng bốn phương,
Cặp Ðèn là tiểu âm dương,
Tức là Nhựt, Nguyệt chiếu chương đêm ngày.

Vận hành mãi trở day lăn lộn,
Soi sáng cùng chốn chốn nơi nơi,
Làm cho rực rỡ Ðất, Trời,
Người là đôi mắt ấy thời khác chi?
Mắt thuộc hỏa là Ly thần trụ,
Luyện thâu về cho đủ một cân,
Kim đơn nhờ hiệp khí thần,
Tan ra là khí tụ đông thành hình.
Tinh, Khí, Thần, trong mình có đủ,
Hoa, Quả, Trà thể dụ tam-quang,
Lư Trầm để tại trước bàn,
Tiên-Thiên lập đảnh, hậu(1) càn an lư.

Chú thích:

(1) Hậu là hậu-thiên.

lotus

MỤC LỤC
ÐẠI-THỪA CHƠN-GIÁO


* * * * *

CHƯƠNG I
HÌNH-NHI HẠ-HỌC
GIÁO-LÝ CÔNG-TRUYỀN



DTCG

1. Thánh Tựa * Ðộng-Ðình-Hồ Ðại-Tiên-Trưởng
2. Khai Kinh
Giác-Minh Kim-Tiên
Thỉ-Tổ Ðại-Tôn-Sư (Hồng-Quân Lão-Tổ)
Tam-Thanh Thượng-Giáo

3. Tam-Giáo Thánh-Nhơn
4. Cao-Ðài Xuất Thế * Ðại-Ðạo Hưng Truyền
5. Giải Nghĩa Bốn Chữ “Ðại-Thừa Chơn-Giáo”
6. Chỉ Ý Thuyết Minh
Thầy lập Cao-Ðài Ðại-Ðạo như thế nào?

7. Ðại-Ðạo Luận
Tại sao cơ Ðạo rẽ chia?

8. Nền Tảng Cao-Ðài Ðại-Ðạo
9. Tôn Chỉ của Cao-Ðài Ðại-Ðạo * Luận về chữ “Hữu” và “Vô”
10. Quân-Tử và Tiểu-Nhơn
11. Kiên Nhẫn * Hạnh Người Tu
12. Hòa Hiệp
13. Ðoàn Thể
14. Ðạo-Ðức
15. Xả Thân Giúp Ðời
16. Hai Mối Ðại Ân
17. Tỉnh Thế
18. Trách Ðời
19. Quả Báo Luân Hồi
20. Lý Thiên-Nhiên và Lý Tự-Nhiên
21. Khởi Trung Tâm Ðạo
22. Khuyến Tu cho thuận Thiên-Ý
23. Ðức Tin
24. Lý Ðạo * Phép Tu
25. Luyện Kỷ Tu Thân
Qui Tam-Bửu Ngũ-Hành

26. Tầm Tu Chơn-Ðạo
Luyện Ðạo Tu Hành


_____________


CHƯƠNG II
HÌNH-NHI THƯỢNG-HỌC
ÐẠI-THỪA TÂM-PHÁP



DTCG

1. Tiên-Thiên Cơ-Ngẫu
2. Hậu-Thiên Cơ-Ngẫu * Thầy lược luận chữ “Tu”
3. Luận về Ðại-Ðạo Tâm-Truyền
4. Nhơn Vật Tấn Hóa
5. Thập-Tự Tam-Thanh * Tam-Giáo * Ngũ Hành * Cao-Ðài Ðại-Ðạo và Cao-Ðài Tôn-Giáo
6. Sắc Không Luận
7. Luận về Chữ “TÂM” * Cái Báu của Nguơn-Tinh
8. Xuất Thần – Thất Tình
9. Tồn Tâm Dưỡng Tánh
10. Tham Thiền Nhập Ðịnh
11. Luyện Ðạo
12. Tam Thừa Cửu Chuyển
13. Dưỡng Sanh Tánh Mạng
14. Vũ Trụ
15. Thiên-Ðàng Ðịa-Ngục
16. Ðại-Ðạo Phục Hưng * Cao-Ðài Xuất Thế * Cách Thức Thờ Phượng




Leave a Reply