ÐẠI-THỪA CHƠN-GIÁO: HẬU-THIÊN CƠ-NGẪU

Sep 2, 17 | Tâm Duyên | 224 views | No Comments



Share |




ÐẠI-THỪA xuất bản kỳ hai,
Phục hưng CHƠN-GIÁO phổ khai Ðại Ðồng.
Ðến ngày chỉnh lập Hoa Long,
Thế gian mới biết danh ông CAO-ÐÀI.
Kinh truyền chẳng luận dở hay,
Ai người huệ trí tầm ngay chơn truyền.
Là phương tạo Phật tác Tiên,
Là đường siêu thoát lưu truyền muôn năm.


_____________


CHƯƠNG II
HÌNH-NHI THƯỢNG-HỌC
ÐẠI-THỪA TÂM-PHÁP

_____________


Play MP3:


Mùng 5 tháng 8 – Bính Tý (1936)

HẬU-THIÊN CƠ-NGẪU


Thi:

CAO siêu huyền-bí Ðạo hư-vô,
ÐÀI điện Linh-Tiêu pháp nhiệm đồ,
NGỌC trắng Ngân-Hà châu chiếu tủa,
ÐẾ hoàng tá thế Ðạo huyền tô.

Nghe Thầy minh “CƠ-NGẪU HẬU-THIÊN“.

Luật Trời là vô-vi, nhưng cũng phải có hai cái năng lực mạnh bạo phi thường là: “nhứt âm, nhứt dương” mới tạo dựng nên Càn-Khôn Võ-Trụ; còn Ðất thì lại “cang nhu”; người thì có “nam nữ”. Ấy là hai cái năng lực tương phản tương đối mà hóa-hóa sanh-sanh.

Tiên-Thiên Cơ-Ngẫu thuộc về “trạng-thái vô-vi”, còn Hậu-Thiên Cơ-Ngẫu thuộc về “cụ-thể hữu-hình” (vật-chất).

Trời, Ðất, người, vật cũng có hai cái cơ thể: âm dương.

Âm là trược, dương là thanh. Thanh xung lên làm Trời, trược giáng xuống làm Ðất, còn giữa thì âm dương lộn lạo mà làm người. Những người khôn-ngoan, sáng-suốt là nhờ bẩm chơn-dương nhiều hơn, còn người mê-muội, ngu hèn là thọ cả phần âm.

Vã như hột giống các ngươi gieo xuống thì nứt mộng mọc lên cũng phân chia ra hai lá, đó là âm dương rõ ràng. Cái sự hiển nhiên của cơ Tạo-Hóa là dẫu nòi giống nào tất cũng có chia ra âm dương mới sanh sản đời nọ sang đời kia mà không bao giờ ngưng dứt.

Trời trong, Ðất đục, nữ trược, nam thanh, cái trong ấy cũng do chỗ đục mà ra, đục do trong mà ngưng giáng. Có thanh ấy mới có trược, có trược ấy mới ra thanh.

Sự sanh sản của loài người là do nơi tinh khí mà ra. Hễ nguơn-tinh tẩu lậu ra ngoài Hậu-Thiên gặp âm-tinh ngưng kết lại thì thành hình. Ðầy đủ ngày giờ thì sản xuất, ấy là Phàm-Thai. Còn nguơn-tinh con người biết tu luyện mà vận hành nghịch chuyển trở lên cho hiệp cùng thần, khí thì cấu kết thành Thánh-Thai. Vậy phàm, Thánh khác xa mà chỉ có một chút đó thôi.

Trong thai, noãn, thấp, hóa (là tứ sanh, các loài bò, bay, máy, cựa) cũng có cơ-ngẫu. Cả muôn loài vạn vật vì cái tâm linh mê dục mà sanh sản nối tiếp nhau. Âm dương cũng vì có cái tính dục tương đối, tương phản mà điều hòa khí chất đầm ấm, huân chưng mới tạo sanh ra muôn loài vạn vật. Vậy thì cái sự sanh đó cũng do nơi hòa mà có. Thế nên Ðạo của Trời, Ðất cũng bất ngoại hai chữ “TRUNG-HÒA”. Có hòa mới có hiệp, có hiệp mới có thương yêu trìu mến nhau mà phát sanh ra cái dục tình.

Vậy mỗi giống nòi nào cũng thảy vì chỗ dục. Ai cũng có một cái tánh dục tình, luyến ái, tại sao?

Tại phu phụ dẫy lòng dâm-dục mới ăn ở nhau, thương yêu nhau rồi cái dâm-tinh, dâm-huyết của hai đàng bèn hiệp lại mà cấu tạo thành một cái xác thân. Lâu ngày đầy đủ liền sanh đẻ ra thì có phải cái xác thân ấy đã do ở chỗ dâm-dục mà sanh ra chăng? Vì thế cái linh-hồn phải bị mang một mảnh hình hài toàn là thân dục. Bảo sao loài người không say đắm về tình đời mà ham ngon chuộng lạ, muốn khoái, ưa vui, mê xinh, thích đẹp rồi chôn nhận cái linh-hồn phải bị giam hãm, phải luống miệt-mài trong cái khám trần ngục khổ vậy.

Bỡi vậy con người ở đời mà ví biết hồi tỉnh thiện tâm, tuyệt dứt lòng phàm, đoạn ngăn tình ái, để lo tu bổ cái nguơn-thần cho sáng suốt, gìn giữ cái nguơn-tinh cho đủ đầy, mà dụng công phu phanh-luyện cho hợp với lẽ vô-vi thanh-tịnh thì có lo gì mà chẳng thoát ngoài cõi tục, sông mê.

Người mà dứt đặng lòng dâm-dục say-mê, tánh kiêu ngạo độc ác, không đắm nhiễm tình đời thì là bực Thần, Tiên tại thế đó rồi.

Nhưng sự làm lành, làm phải thiệt rất khó thay! Ai cũng muốn làm lành, mà lành làm khó được; ai cũng toan bỏ dữ, mà dữ bỏ không rồi. Làm lành đến già đời, lành còn không đủ, làm dữ trong chốc lát, dữ đã quá nhiều.

Vậy Thầy ước mong cho các con phải cố gắng làm lành. Có câu: “Tu là cội phước, tình là dây oan”. Các con tu hành phải cố gắng mới thành công.

Thi Bài:

Trong Trời Ðất, Ðạo mầu quí nhứt,
Làm nấc thanh thoát vực ái hà,
Châu vi khắp cõi ta bà,
Ban truyền chơn-lý điều-hòa Càn-Khôn.
Ðạo độ rỗi linh-hồn thoát khổ,
Nương chơn-truyền tấn bộ đường Tu,
Dầu cho những kẻ ngu phu,
Biết đường tầm Ðạo thiên thu hưởng nhàn.
Dòm trong cuộc thế gian nhân loại,
Gây tội tình sao khỏi họa ương,
Thấy vầy Thầy động lòng thương,
Ban hành Chánh-Giáo mở đường thiện duyên.
Các con mau sẵn thuyền trở lại,
Lánh cơ Trời biến cải tương lai,
Tránh đâu cho khỏi họa tai,
Trọn đời tín ngưỡng Cao-Ðài độ cho.
Người cố gắng lòng lo tu luyện,
Hễ pháp-luân thường chuyển Ðạo khai,
Ðiều hòa ngưng kết Thánh-thai,
Sớm khuya luyện tập giồi mài bửu linh.
Bổ khuyết lấy “Tâm-Kinh vô-tự”,
Thanh tịnh đừng ưu lự loạn tâm,
Huyền cơ đoạt thấu cao thâm,
Tập tành hạnh đức lỗi-lầm chớ mang.
Muốn cho đặng mở-mang trí-hoá,
Thì để tâm khám phá cơ Trời,
Suốt thông máy nhiệm đời đời,
Dinh hư tiêu trưởng cuộc đời hiển nhiên.
Lời bí khuyết tâm-truyền ẩn giấu,
Kẻ hữu duyên mới thấu cội nguồn,
Pháp mầu đóng chặt vào khuôn,
Dòm xem những mấy tấn tuồng thế gian.
Người mắc phải đa mang lắm chuyện,
Linh-hồn không huấn luyện cho thành,
Lọc lừa không khí khinh thanh,
Làm cho nảy tược đơm cành lớn khôn.
Bấy lâu nay linh-hồn chôn chặt,
Khí hậu đè phải mắc si-mê,
Lóng nghe những tiếng Thần-kê,
Tỉnh tâm quày bước trở về cựu ngôi.
Muốn đoạn dứt cho rồi oan nghiệp,
Ðặng Chơn-Thần trực tiếp thiêng-liêng,
Làm cho thấu đáo mối giềng,
Thì tua tin lấy thần-quyền giúp cho.
Ðặng thoát khỏi cái lò sanh-hóa,
Cầu Chơn-Sư mở khóa huyền-vi,
Vén màn bí-mật thông tri,
Càn-Khôn một túi thiếu gì pháp-linh.
Trong Ðạo-Thơ Ðơn-Kinh còn đó,
Chơn-truyền đâu dám tỏ bày ra,
Chỉ là chút đỉnh sơ qua,
Thiên-cơ đâu dám bày ra rõ ràng.
Làm Tiên, Phật những hàng căn kiếp,
Chơn-sư truyền hòa-hiệp âm dương,
Máy linh mấy kẻ thông tường,
Ðủ đầy hạnh-đức thiện-lương mới thành.
Tuy thế-gian tu-hành lắm đó,
Thành Phật, Tiên đâu có được nhiều!
Tầm về cội phước tiêu diêu,
Dễ dàng quỉ-quái ma-yêu choán rồi.
Kinh khuyến thế tô bồi bổn tánh,
Tìm Ðạo mầu hành chánh pháp y,
Về phần bí-khuyết vô-vi,
Truyền nhau bằng miệng mới thì Chơn-Kinh.


Thi:

Kinh sám lưu thông tỉnh thế thời,
Ðạo truyền độ rỗi kẻ lưng vơi,
Biết đường Thiên-lý noi theo bước,
Thoát khỏi sông mê cuộc đổi dời.


Hựu:

Dời non đổi biển khó chi đâu?
Những hạng không tu họa đáo đầu,
Kiếp kiếp sừng lông thay đổi mãi,
Tầm đường thiện phước mấy ai đâu?


_____________


THẦY LƯỢC LUẬN CHỮ “TU”


Thi Bài:

Trong phép Ðạo tu tâm đệ nhứt,
Tu tâm là đứng bực Tiên-Thiên,
Tu thì mới đoạt căn nguyên,
Tu trau tánh mạng diệu-huyền phát sanh.
Phật, Tiên nhờ tu hành mà đắc,
Phép tu là đường tắt nẽo ngay,
Tu sao đứng bảng Thiên-Ðài,
Tu cho siêu thoát trần-ai bể sầu.
Thầy Chúa-Tể pháp mầu hoằng hóa,
Ðạo chỉ truyền tất cả linh-căn,
Luyện tu thoát tục lẽ hằng,
Tu cho cửu-khiếu dường trăng đêm rằm.
Tu thì phải tồn-tâm dưỡng-tánh,
Tu trau tria đức hạnh ôn lương,
Tu phân Ðịa-Ngục Thiên-Ðường,
Thân tu, thân đắc, thân tường Ðạo cao.
Xưa Tam-Giáo dạy trau tâm chí,
Nay tương-truyền huyền-bí Ðạo Tiên,
Tu hành học tánh nhẫn kiên,
Sớm trưa giồi luyện tịnh thiền dưỡng an.
Mặc kẻ thế bua quan cầu lợi,
Giữ phận mình nhân-ngỡi vẹn toàn,
Tu theo chơn-pháp Thầy ban,
Tu trong tam ngũ cơ quan máy Trời.
Ðiều quí nhứt trong đời tu luyện,
Ai hữu-căn giục khiến vào tu,
Hễ tu vẹt phá ám mù,
Ðắc Tiên nên Phật thiên thu an nhàn.
Tu mới đoạt ngôi vàng phẩm báu,
Tu luyện tầm gốc Ðạo Tiên-Thiên,
Phế đời xa lánh lợi quyền,
Học đòi tánh Phật, ý Tiên kia là.
Tu thân đắc mới ra độ thế,
Tu sửa đời u-trệ Hạ-Nguơn,
Tam-Kỳ Ðạo chuyển tuần-huờn,
Châu nhi phục thỉ, Ðạo chơn chánh truyền.
Tu chẳng luận sơn xuyên am cốc,
Tu cũng đừng tịch cốc hành thân,
Tu là tụ khí ngưng thần,
Tu cho tráng kiện mười phần nhàn thanh.
Tu thiền-thị, tu thành mới đúng,
Tu tại gia, chẳng dụng của ai,
Chữ tu nó chẳng ở ngoài,
Tu trong tâm tánh giồi mài điểm linh.
Tu vẹn xử phận mình cho đúng,
Chớ đừng tu ngoài bụng ngoài da,
Khăn nu áo trắng nhuộm dà,
Rốt cuộc cũng quỉ, cũng ma luân-hồi.
Tu Nguơn-Thần lên ngôi cai trị,
Dẹp trừ yên lục quỉ, bảy yêu,
Tu bồi cơ sở Thuấn, Nghiêu,
Gia môn bế chặt, ngựa chiều nhốt trong.
Tu lập đức bồi công độ chúng,
Tu khuyên đừng lạm dụng Phật tông,
Khỉ thì bỏ đậy trong lồng,
Cột xiềng cho chặt kẻo tông chạy ngoài.
Tu thì tu: mắt, tai, mũi, miệng,
Mối dục-tâm sai khiến diệt trừ,
Mới mong lập đảnh an lư,
Long thăng, hổ giáng huệ từ chiếu soi.
Tâm thanh tịnh ra mòi thấy rõ,
Tựu tam-huê đặng có huờn đơn,
Luyện thành Chánh-Giác Chơn-Nhơn,
Minh châu đáy nước xanh dờn sáng soi.
Thọ Pháp Ðạo phải noi phanh-luyện,
Tứ thời tu vận chuyển tâm điền,
Pháp-luân xây mãi liền liền,
Làm cho Hống đặng giao Diên mới mầu.
Tu lớp lang đuôi đầu sau trước,
Hữu căn-duyên thì được ngộ truyền,
Phép tu tạo Phật tác Tiên,
Thiên-cơ ứng hóa diệu-huyền phát sanh.
Bổn phận tu phải đành khờ dại,
Ngữ-ngôn gìn lẽ phải điều hơn,
Tu rồi đừng giận, chớ hờn,
Ðể tâm thanh tịnh, linh-đơn kiết thành.
Tu gạn-đục lưu-thanh tinh khiết,
Thượng phù Thiên trược miệt Ðịa ngưng,
Nước hồ phải quậy tưng bừng,
Tịnh êm lóng lại cặn ngưng thanh phù.
Lẽ thanh trược nhờ tu phân biệt,
Bực Thánh phàm tu biết đôi nơi,
Nhờ tu mà đoạt máy Trời,
Tu nhờ cố sức chiều mơi năng bồi.
Nếm mùi Ðạo, ôi thôi! ngon ngọt,
Mát mẽ lòng vui trót đêm ngày,
Ðạo mầu càng nhiễm, càng say,
Càng cao phẩm vị, càng hay nhiệm mầu.
Thầy triết luận đôi câu tu luyện,
Người biết tu tăng-tiến cao siêu,
Tu sao khỏi phạm Thiên-điều,
Tu thành Tiên, Phật dắt dìu chúng dân.
Nước không Ðạo quân thần rối loạn,
Mới nảy ra phe đảng chiến tranh,
Ðời toan mưu chước giựt giành,
Xa lìa Ðạo-đức đã đành bại suy.
Nhà vô Ðạo lỗi nghì tội quá,
Có cần chi thượng hạ kỉnh tôn,
Loạn luân mất hết trí khôn,
Như nhà không chủ, như đồn không binh.
Người mất Ðạo, như hình cây cỏ,
Sống ở đời mà có biết chi,
Tối-tăm khờ-khạo ngu-si,
Sống càng đê-tiện, ích chi cho người.

Thăng.

lotus

MỤC LỤC
ÐẠI-THỪA CHƠN-GIÁO


* * * * *

CHƯƠNG I
HÌNH-NHI HẠ-HỌC
GIÁO-LÝ CÔNG-TRUYỀN



DTCG

1. Thánh Tựa * Ðộng-Ðình-Hồ Ðại-Tiên-Trưởng
2. Khai Kinh
Giác-Minh Kim-Tiên
Thỉ-Tổ Ðại-Tôn-Sư (Hồng-Quân Lão-Tổ)
Tam-Thanh Thượng-Giáo

3. Tam-Giáo Thánh-Nhơn
4. Cao-Ðài Xuất Thế * Ðại-Ðạo Hưng Truyền
5. Giải Nghĩa Bốn Chữ “Ðại-Thừa Chơn-Giáo”
6. Chỉ Ý Thuyết Minh
Thầy lập Cao-Ðài Ðại-Ðạo như thế nào?

7. Ðại-Ðạo Luận
Tại sao cơ Ðạo rẽ chia?

8. Nền Tảng Cao-Ðài Ðại-Ðạo
9. Tôn Chỉ của Cao-Ðài Ðại-Ðạo * Luận về chữ “Hữu” và “Vô”
10. Quân-Tử và Tiểu-Nhơn
11. Kiên Nhẫn * Hạnh Người Tu
12. Hòa Hiệp
13. Ðoàn Thể
14. Ðạo-Ðức
15. Xả Thân Giúp Ðời
16. Hai Mối Ðại Ân
17. Tỉnh Thế
18. Trách Ðời
19. Quả Báo Luân Hồi
20. Lý Thiên-Nhiên và Lý Tự-Nhiên
21. Khởi Trung Tâm Ðạo
22. Khuyến Tu cho thuận Thiên-Ý
23. Ðức Tin
24. Lý Ðạo * Phép Tu
25. Luyện Kỷ Tu Thân
Qui Tam-Bửu Ngũ-Hành

26. Tầm Tu Chơn-Ðạo
Luyện Ðạo Tu Hành


_____________


CHƯƠNG II
HÌNH-NHI THƯỢNG-HỌC
ÐẠI-THỪA TÂM-PHÁP



DTCG

1. Tiên-Thiên Cơ-Ngẫu
2. Hậu-Thiên Cơ-Ngẫu * Thầy lược luận chữ “Tu”
3. Luận về Ðại-Ðạo Tâm-Truyền
4. Nhơn Vật Tấn Hóa
5. Thập-Tự Tam-Thanh * Tam-Giáo * Ngũ Hành * Cao-Ðài Ðại-Ðạo và Cao-Ðài Tôn-Giáo
6. Sắc Không Luận
7. Luận về Chữ “TÂM” * Cái Báu của Nguơn-Tinh
8. Xuất Thần – Thất Tình
9. Tồn Tâm Dưỡng Tánh
10. Tham Thiền Nhập Ðịnh
11. Luyện Ðạo
12. Tam Thừa Cửu Chuyển
13. Dưỡng Sanh Tánh Mạng
14. Vũ Trụ
15. Thiên-Ðàng Ðịa-Ngục
16. Ðại-Ðạo Phục Hưng * Cao-Ðài Xuất Thế * Cách Thức Thờ Phượng




Leave a Reply