CÁCH THỨC THỜ PHƯỢNG THIÊN NHÃN

Jun 25, 16 | Tuệ Minh | 843 views | No Comments



Share |




Ðây Thầy giải sơ về cách thức thờ phượng của Cao-Ðài Ðại-Ðạo. Tại sao Thầy lại bảo các con tạo ra “Thánh Nhãn” mà thờ, không dạy thờ hình tượng như các Tôn Giáo khác? Các con phải biết rằng: Trời là Lý thì Lý ấy rất thông linh bao quát Càn-Khôn Thế-Giới. Thầy đâu phải có xác phàm như các con mà tạo hình thể như các con, nên chi thờ Thiên-Nhãn là thờ Thầy.

Tại sao Thiên-Nhãn là Thầy? Thầy có dạy trước: “Nhãn thị chủ tâm, lưỡng quang chủ tể, quang thị thần, thần thị Thiên, Thiên giả ngã giả“. Nhãn là trái tim của con người. Trái tim ấy là Tạo-Hóa tức là Thần mà Thần là cái hư vô. Lý hư vô ấy là Trời vậy.

Người tu hành chừng nào luyện tinh hóa khí, luyện khí hóa thần, luyện thần hườn hư, luyện hư huờn vô thì huyền quang nhứt khiếu ấy mở hoát ra.

Huyền quang nhứt khiếu ấy là chi? Là Thiên-Nhãn vậy. Nó ở ngay nê huờn cung, gom trọn chơn dương chánh đạo. Hai con mắt của các con là nhục nhãn, tức là âm với dương, thì cũng như Thái-Cực là Thiên-Nhãn, còn lưỡng quang là Nhựt Nguyệt hằng soi sáng khắp Càn-Khôn, cứ tuần huờn mãi, hết ngày đến đêm, hết đêm đến ngày, không bao giờ dứt sự hành tàng của Tạo-Hóa.

Thi:

Luyện thuốc kim đơn rõ Ðạo mầu,
Thành Tiên tác Phật tại song-Mâu,
Âm dương toàn ẩn cơ tại “Mục”,
Thần khí thông linh tại thượng đầu.”

Ðây Thầy giải về: Vô Cực Ðăng.

Trước khi chưa phân Trời Ðất thì khí hư vô bao quát Càn-Khôn sáng soi đầy trong Vũ-Trụ. Nó là một cái trung tâm điểm tức là Ðạo. Ðạo ấy mới sanh Thái-Cực, hóa lưỡng nghi. Lưỡng nghi là âm với dương (động với tịnh). Có âm dương rồi mới hóa sanh muôn vật.

thiennhan

Ngọn đăng các con thờ chính giữa đó là giả mượn làm tâm đăng. Phật Tiên truyền Ðạo cũng do đó, các con thành Ðạo cũng tại đó. Nó ngay chính giữa không lay động, xao xuyến, chiếu soi khắp cả Càn-Khôn. Mặt Nhựt, Mặt Nguyệt có lúc sáng, hồi tối, chớ nó thì giờ khắc nào cũng tỏ rạng không lu lờ. Nhơn vật nhờ đó mà sanh, nhờ đó mà thành, nhờ đó mà an vui, Trời Ðất nhờ đó mà quang minh trường cửu, người tu hành nhờ đó mà tạo Phật tác Tiên, siêu phàm nhập Thánh. Hễ chinh qua bên tả thì thành tả-đạo, xê qua bên hữu thì lại bàng-môn, ngay ở giữa là chánh Ðạo. Các con nên tường lý ấy. Lý ấy ở trong tâm. Tâm an tịnh, vô-vi tự-nhiên bất động là chánh Ðạo, tâm còn tính mưu thần, chước quỉ, độc ác, hiểm sâu, ấy là bàn môn tả Ðạo, chớ chi các con.

Còn Hai Chén Nước là âm dương (động và tịnh). Âm dương là cơ động tịnh của Trời Ðất tức là thần khí của các con. Tu hành không nhờ thần khí lấy gì luyện đắc Thánh thai. Trời Ðất không có âm dương làm sao hóa sanh vạn vật, muôn vật không trống mái làm sao sanh sản thêm ra. Vậy âm dương là cái diệu động tịnh của Trời Ðất vậy. Âm dương lại có thêm cái thể dụng của âm dương nữa là Nhựt, Nguyệt, tức là Cặp Ðèn (lưỡng nghi). Người tu hành biết cách hồi quang phản chiếu thì đắc kim đơn cơ tại mục là vậy.

Trên có Lư Hương tức là Tiên-Thiên lập đảnh, tượng ngũ khí, ngũ hành.

Dưới có Lư TrầmHậu-Thiên an lư, hóa ngũ linh, ngũ đức. Trên đầu là đảnh, dưới đơn-điền là lư.

Còn Hoa, Quả, Trà là tam-bửu của các con. Ngày nào hiệp tam-bửu rồi là ngày thành Ðạo.

Trường Thiên

Khí hư-vô tạo ngôi Thái-Cực,
Tức là ngôi độc nhứt quang minh,
Vô-vi, vô-ảnh, vô-hình,
Thần thông quảng đại chí linh diệu-huyền.
Trong Vũ-Trụ trọn quyền sanh hóa,
Nắm trong tay khắp cả Càn-Khôn,
Nấng nuôi vĩnh kiếp trường tồn,
Làm cho xác thịt linh-hồn an vui.
Người tâm chí nhiễm mùi Ðạo-đức,
Gia công tìm mẹo mực Tạo Ðoan,
Rõ thông trong máy hành tàng,
Bảo tồn thân thể vững vàng bền lâu.
Khắp Vũ-Trụ một bầu Thiên Ðịa,
Cơ vận hành bốn phía mở mang,
Phân ra Ðịa-Ngục Thiên-Ðàng,
Các con sao vén nổi màn huyền vi.
Ðạo ẩn tàng, có khi ứng lộ,
Phật, Tiên truyền để độ chúng-sanh,
Chỉ phương siêu thoát rành rành,
Thuận tùng Thiên-lý tu hành lại ngôi.
Phép Ðạo tránh luân-hồi tứ khổ,
Mà tầm vào đến chỗ quang minh,
Bày ra giả tướng hữu hình,
Ðặng làm thể Ðạo chí linh diệu-huyền.
Người gọi là tiểu Thiên Ðịa đó,
Người với Trời nào khó khác chi,
Hễ Trời có những món gì,
Người người đều cũng đủ y như Trời
.
Trong thân thể đổi dời tấn-hóa,
Người biết tu mau khá trau giồi,
Coi như có lỡ thì bồi,
Cho đầy đủ lại phục hồi cựu nguyên.
Phật nhập-định tham-thiền tầm lý,
Mà dưỡng thần, tinh, khí đủ đầy,
Làm cho bánh phép hằng xây,
Âm dương luân chuyển gió mây vận hành.
Tiên tịnh-tịnh thanh-thanh bất động,
Ðể cái tâm trống lỗng chẳng xao,
Tâm xao biển dậy ba đào,
Trược thanh cũng phải lộn nhào đó con!
Con biết Ðạo giữ còn tâm Ðạo,
Mang thân người lộn lạo âm dương,
Pháp-luân con chuyển cho thường,
Xuất huyền nhập tẫn là đường giao thông.
Luyện âm tuyệt lòng trong đắc quả,
Âm tuyệt rồi Ðạo đã thuần-dương,
Thuần-dương thẳng đến Thiên-Ðường,
Làm Tiên, Thánh, Phật thoát đường tử sanh.
Chơn-dương hết thì thành ma quỉ,
Âm dương đồng tức thị là người,
Hạo nhiên cướp đặng tốt tươi,
Ðem vào nuôi nấng thân người trường sinh.
Dạy sơ qua hiểu rành lấy trẻ,
Phép nhiệm mầu không lẽ chỉ nhiều,
Tìm vào đường giác thì siêu,
Biết phương thoát khổ phải chìu Thiên-cơ.
Ðạo không thấy, nghe rờ sao đặng,
Ðạo im lìm phẳng lặng tự-nhiên,
Ðạo thông lưu khắp hậu tiền,
Ðạo là then máy diệu-huyền biết bao.
Ðạo không thấp, không cao chi cả,
Ðạo không dùng phép lạ hoặc nhơn,
Ðạo là chí-chánh chí-chơn,
Toàn năng, toàn thiện là đơn luyện thành.
Ðạo dưỡng dục vận hành bao quát,
Ðạo độ người hay sát hay sanh,
Suy cho thấu, hiểu cho rành,
Giải sơ hình thể chúng-sanh bề ngoài.
Tôn chỉ Ðạo Cao-Ðài chỉ rõ,
Mượn hữu hình bày tỏ chỗ vô,
Thiên-Bàn làm cái Bản Ðồ,
Coi ngoài mà biết điểm tô trong mình.

Tuy là sự giả hình sắp đặt,
Trái trông sao thì mặt cũng in,
Người tu phải biết giữ gìn,
Chuẩn thằng qui củ mà tìm Thiên-cơ.
Tại sao lại dạy thờ Thiên-Nhãn?
Thiên-Nhãn là căn bản chúng-sanh,
Ðó là một đấng trọn lành,
Một ngôi chúa tể hóa sanh muôn loài.
Trong các giống, các nòi do đó,
Mà ngày nay mới có tại đây,
Hạ-nguơn máy Tạo vần xây,
Nên chi Từ-Phụ dựng gầy cơ quan.
Biết tu sớm hội bàn lập vị,
Trước dạy rồi nhãn thị chủ tâm,
Tâm là chủ-tể cao thâm,
Quang minh chánh đại muôn năm vững vàng.
Phải biết rõ “lưỡng quang chủ tể“,
Quang thị Thần, Thần thể thị Thiên“,
Thiệt là diệu-diệu huyền-huyền,
Trời người có một chẳng riêng khác gì!
Trời là Lý vô-vi tuyệt diệu,
Tức là thần phản chiếu Càn-Khôn,
Người kêu bổn tánh linh-hồn,
Ðời đời kiếp kiếp trường tồn không hư.
Phép tu biến đầu từ suốt cuối,
Khai huyền quang tánh muội đắc thông,
Toàn tri hiển hiện chơn không,
Huyền quang khai xuất nhãn thông côn-đoài.
Ðoạt lấy chỗ bổn lai diện mục,
Luyện cho thành cửu khúc minh châu,
Tha-tâm thông mối nhiệm mầu,
Lấy kim đơn tại sông mâu vào lò.
Thần cảnh thông Ðạo do tâm đắc,
Diệt lục trần, lục tặc ngoài trong,
Làm sao cho lậu-tận thông,
Thành tâm tuyệt vọng trống trong mới mầu.
Ðạo hư vô người hầu đoạt lấy,
Thiên-Nhãn thông mới thấy suốt tường,
Nhãn là thần đã thuần-dương,
Công viên quả mãn đắc trường sanh an.
Cách sắp đặt Thiên-Bàn thờ phượng,
Mượn hữu hình sắc tướng truyền đăng,
Tam-Tông đem Ðạo khai hoằng,
Dụng tâm chánh-giác công bằng chấp trung
.
Nói sao cho tận cùng lý Ðạo,
Vẽ vời ra máy Tạo khó thay!
Mỗi người có tánh Như-Lai,
Tầm ra thấy sẵn Thiên-Thai bên mình.
Chỗ chí diệu, chí linh Ðạo cả,
Âm dương hòa sanh hóa Phật Tiên,
Cái cơ động tịnh diệu-huyền,
Luyện thành chánh quả nhờ truyền âm dương.
Trời, Ðất, Người, một phương một lý,
Trong mình người thần khí giao nhau,
Cang nhu, trống mái một mầu,
Ðục trong lừa lọc thì mau chứng thành.
Năm Cây Nhang ngũ hành mới tượng,
Mới phân ra bốn hướng bốn phương,
Cặp Ðèn là tiểu âm dương,
Tức là Nhựt, Nguyệt chiếu chương đêm ngày.
Vận hành mãi trở day lăn lộn,
Soi sáng cùng chốn chốn nơi nơi,
Làm cho rực rỡ Ðất, Trời,
Người là đôi mắt ấy thời khác chi?
Mắt thuộc hỏa là Ly thần trụ,
Luyện thâu về cho đủ một cân,
Kim đơn nhờ hiệp khí thần,
Tan ra là khí tụ đông thành hình.
Tinh, Khí, Thần, trong mình có đủ,
Hoa, Quả, Trà thể dụ tam-quang,
Lư Trầm để tại trước bàn,
Tiên-Thiên lập đảnh, hậu càn an lư.(1)

Trích: Đại Thừa Chơn Giáo

Chú thích:

(1) Hậu là hậu-thiên.

NAM MÔ CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT
Ý NGHĨA BẮT TAY ẤN TÝ
Ý NGHĨA ÁO DÀI TRẮNG
HÀNH TRANG NGƯỜI ĐẠO CAO ĐÀI




Leave a Reply