VIÊN THÔNG VỀ PHONG ĐẠI – KHÔNG ĐẠI – THỨC ĐẠI – KIẾN ĐẠI

May 16, 15 | Tâm Duyên | 1,675 views | No Comments



Share |




KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG

Nhẫn Tế Thiền Sư

-o0o-
summer

QUYỂN V

PHẦN THỨ HAI: PHẦN CHÁNH TÔNG

CHƯƠNG II: NƯƠNG CHỖ NGỘ MÀ TU

MỤC BA: HỎI ĐẠI CHÚNG VỀ VIÊN THÔNG

Nghe MP3 (42/61): VIÊN THÔNG VỀ PHONG ĐẠI – KHÔNG ĐẠI – THỨC ĐẠI


* * * * *



XXI. VIÊN THÔNG VỀ PHONG ĐẠI


Kinh: Ngài Lưu Ly Quang Pháp Vương Tử liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, thưa rằng:

– Tôi nhớ hằng sa kiếp về trước, có Phật ra đời hiệu là Vô Lượng Thanh, khai thị Tánh Bổn Giác Diệu Minh cho hàng Bồ Tát, và dạy quán thế giới và thân chúng sanh này đều là do sức gió của vọng duyên chuyển biến ra. Tôi lúc bấy giờ quán sự an lập của không gian, quán sự trôi chuyển của thời gian, quán cái ngừng, cái động của thân, quán cái động niệm của tâm thức, các cái động đều không hai, bình đẳng không sai biệt. Khi ấy, tôi giác ngộ rằng cái Tánh của các động này đến không từ đâu, đi không đến đâu. Tất cả chúng sanh điên đảo trong mười phương nhiều như vi trần đồng một hư vọng. Như vậy cho đến tất cả chúng sanh trong một tam thiên đại thiên thế giới, như hàng trăm con muỗi mòng nhốt trong một đồ vật vo ve kêu loạn ở trong gang tấc, rối rít ồn ào.

Tôi gặp Phật chưa bao lâu thì được Vô Sanh Nhẫn. Khi ấy, tâm khai mở, mới thấy cõi Phật Bất Động ở phương Đông; làm vị Pháp Vương Tử thừa sự mười phương Phật, thân tâm phát ánh sáng, rỗng suốt không ngại.

Phật hỏi về Viên Thông, tôi do quán sát sức lay động như gió vốn không chỗ nương, ngộ Bồ Đề Tâm, vào Tam Ma Địa, hợp cùng một Diệu Tâm của mười phương Chư Phật, được nối tiếp nhau truyền dạy, đó là Thứ Nhất.


Thông rằng: Phương Đông có Lưu Ly Quang Như Lai, Hạnh Nguyện cũng như Phật Di Đà không khác. Vị Pháp Vương Tử cũng như Đức Quan Âm, Thế Chí vậy.Sao là quán sát sức lay động như gió không chỗ nương mà vào Tam Ma Địa? Tánh gió là động, do động mà có tiếng nên Phật Vô Lượng Thanh chỉ dạy hàng Bồ Tát quán các chúng sanh của thế giới này cũng như hàng trăm con muỗi mòng nhốt trong một đồ vật, vo ve kêu loạn, đều là gió Vọng Duyên chuyển biến ra. Cái động của gió thì rất vi tế, mà sức của gió thì rất lớn, đầy khắp pháp giới. Cái động và dừng của thân, cái động niệm của tâm thì gần mà có thể thấy. Còn cái chuyển đổi của không gian, cái trôi chảy của thời gian thì xa xôi nên khó thấy. Dầu khó thấy hay dễ thấy, đều là cái Động này. Tánh của cái Động này đến không từ đâu, đi không đến đâu, toàn khắp thế gian, không có nơi chốn. Vì không nơi chốn, nên vốn không sanh diệt. Vì không sanh diệt, vốn tự chẳng động. Ở chỗ ấy mà quán sát, đắc Vô Sanh Nhẫn, tức là ngộ Bồ Đề, vào Tam Ma Địa vậy. Đây là trong cái Động có Tánh Chẳng Động, chẳng phải là lìa ngoài cái Động mà có riêng cái gọi là Chẳng Động.

Phương Đông thuộc Chấn. Chấn là Động. Phương Đông có cõi Phật Bất Động, tức là động mà tĩnh, đây là ý chỉ của Bổn Giác Diệu Minh vậy. Tánh Giác Diệu Minh vốn tự chẳng động. Bổn Giác Minh Diệu là động mà chẳng động. Nói tóm lại, tất cả chỉ là một Tánh Diệu Chân Như. Mười phương Chư Phật cùng một Diệu Tâm này. Nếu lìa động để cầu tĩnh, tức là chẳng phải Diệu vậy. Cái Bổn Giác cứng bền như kim cương trong sáng, Phong và Kim xát nhau, nên ánh sáng như lưu ly, rỗng suốt không ngại. Truyền một Diệu Tâm, thì không những tự chứng Viên Thông mà còn khiến chúng sanh trong thế giới, hễ có Tánh Động này đều chứng suốt một Viên Thông vậy.

Sa di Cao ban đầu ra mắt Tổ Dược Sơn.

Tổ Dược Sơn hỏi:

– Ở đâu đến?

Đáp:

– Nam Nhạc đến.

Tổ hỏi:

– Đi đến đâu?

Đáp:

– Đến Giang Lăng thọ giới.

Tổ hỏi:

– Thọ giới để làm gì?

Đáp:

– Để khỏi sanh tử.

Tổ nói:

– Có một người chẳng thọ giới, cũng chẳng có sanh tử để khỏi, ông có biết chăng?

Sa di Cao ngay dưới lời nói, đại ngộ mà nói:

– Như thế thì Giới của Phật nào có dùng!

Tổ Sơn nói:

– Sa Di này còn quảy môi răng đấy.

Thầy Cao lễ bái rồi lui ra.

Ngài Đạo Ngô đến đứng hầu, Tổ Dược Sơn nói:

– Vừa rồi có anh Sa Di què giò, có được chút ít hơi hám.

Đạo Ngô nói:

– Chưa thể tin hoàn toàn, cần khám nghiệm mới được.

Đến tối, Tổ Dược Sơn thượng đường gọi rằng:

– Sa Di mới đến hồi sáng đâu rồi?

Thầy Cao bước ra khỏi chúng, đứng.

Tổ Dược Sơn hỏi:

– Ta nghe Trường An rất náo nhiệt, ông có biết chăng?

Thầy Cao nói:

– Nước con hằng yên ổn.

Tổ hân hoan hỏi:

– Chú do xem kinh mà được hay do hỏi Pháp mà được?

Thầy Cao nói:

– Chẳng do xem kinh được hay do hỏi Pháp được.

Tổ Sơn nói:

– Vậy có người chẳng xem kinh, chẳng hỏi Pháp, vì sao chẳng được?

Thầy Cao nói:

– Không nói chẳng được, chính vì kẻ kia chẳng chịu nhận lãnh.

Tổ Sơn quay lại nhìn Đạo Ngô.

Ngài Vân Nham thì nói:

– Chẳng tin Đạo! Ngài Đầu Tử tụng rằng:

Hưng vong mây đến với mây đi,
Y không quốc độ, bặt trần ai.
Đỉnh Tu Di ấy, cây không rễ,
Chẳng đợi gió xuân, hoa tự khai
.

Như chỗ thấy của Sa Di, thật là thấy cõi Phật Bất Động ở phương Đông, chẳng bị sức gió vọng duyên chuyển đổi vậy.

Ngài Ma Cốc chống tích trượng đến Ngài Chương Kính, đi quanh thiền sàng ba vòng, dộng tích trượng một cái, ngang nhiên mà đứng.

Tổ Kính nói:

– Phải, phải.

Ngài lại đến Nam Tuyền, đi quanh thiền sàng ba vòng, dộng tích trượng một cái, ngang nhiên mà đứng. Tổ Tuyền nói:

– Chẳng phải, chẳng phải.

Ngài Ma Cốc nói:

– Ngài Chương Kính nói Phải, Hòa Thượng vì sao nói Chẳng Phải?

Tổ Tuyền nói:

– Chương Kính thì phải, chính ông chẳng phải.

Đây là sức gió chuyển, rốt cuộc hư hoại.

Ngài Thiên Đồng tụng rằng:

Chính ông chẳng phải,
Kìa xem cuốn, mở.
Tợ trải, tợ co,
Khó anh, khó em.
Thả ra: kia đã đến thời,
Nắm lại: ta nào lạ chỗ.
Trượng vàng một dộng, thái cô nêu,
Thiền sàng ba vòng, nhàn du hý.
Tùng lâm rối rắm, thị phi sanh,
Tưởng tượng, trước sọ khô thấy quỷ
.

Ngài Tuyết Đậu tụng rằng:

Đây lầm, kia lầm!
Rất kỵ nắm bỏ.
Bốn biển sóng bằng,
Trăm sông đổ lại.
Ý cổ cao xa mười hai cửa,
Cửa cửa đường hoang, luống tiêu điều.
Chẳng tiêu điều,
Thiền giả khéo cầu: Không bệnh thuốc
.

Nếu biết cái thuốc Không Bệnh, thì thị phi ở chốn tùng lâm nào có sanh ra, tự chẳng gió nào chuyển được.

* * * * *



XXII. VIÊN THÔNG VỀ KHÔNG ĐẠI


Kinh: Bồ Tát Hư Không Tạng liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật mà thưa rằng:

-Tôi cùng Đức Như Lai chứng được Thân Vô Biên nơi Phật Định Quang. Lúc ấy, tay tôi cầm bốn hạt bảo châu lớn soi sáng mười phương cõi Phật số như vi trần đều hóa thành hư không. Lại nơi tự tâm, hiện gương tròn lớn, trong ấy phóng ra mười thứ hào quang vi diệu quý báu, tràn khắp mười phương, cùng tột bờ cõi hư không. Các cõi Phật đều vào trong gương Đại Viên Cảnh ấy, nhập vào thân tôi. Thân đồng hư không chẳng có gì ngăn ngại, thân lại khéo vào vi trần quốc độ rộng làm Phật sự, được Đại Tùy Thuận. Đại thần lực này là do tôi chánh quán bốn Đại không chỗ nương, vọng tưởng sanh diệt và hư không không hai, cõi Phật vốn đồng. Do phát minh được tánh đồng, đắc Vô Sanh Nhẫn.

Phật hỏi về Viên Thông, tôi do quan sát Hư Không vô biên, vào Tam Ma Địa, diệu lực tròn sáng, đó là Thứ Nhất.


Thông rằng: Bồ Tát Hư Không Tạng đã cùng Như Lai ở nơi Phật Định Quang, chứng đắc Ba Thân, Bốn Trí. Trong ba Thân, thì chỉ trọng Pháp Thân, nên nói: Đắc Thân Vô Biên. Bốn Trí thì chỉ trọng Đại Viên Cảnh Trí, nên nói: Lại ở nơi Tâm, Hiện gương tròn lớn.

Pháp Thân vô biên, hư không không ranh giới, vì sao lại có thể cùng với bốn Đại chẳng hề ngăn ngại nhau? Bởi do đế quán bốn Đại không chỗ nương, Tánh Sắc là Không, nên bốn Đại là thanh tịnh, giống như ngọc báu. Dùng sức quán chiếu, soi sáng mười phương hóa thành hư không. Tức bốn Đại là hư không, hư không là Pháp Thân, có gì ngăn ngại! Vốn là một Đại Viên Cảnh Trí, vì sao phóng ra mười thứ ánh sáng? Ấy là do tu hành mười thứ Ba La Mật, tròn đầy vi diệu vậy.

Gồm hết trong gương tự tại phát hiện, tràn khắp mười phương, cùng tột bờ mé hư không. Chỉ một cái gương thu nhiếp hết, thì gương ấy là Thân, và Thân tức là gương vậy. Ba Thân tức là bốn Trí, bốn Trí đó là ba Thân. Thân, Trí dung hợp nhau, Tâm và Cảnh đều chuyển hoá, nên nói: Các cõi Phật đều nhập vào trong gương, Hòa vào thân tôi. Ánh sáng và bóng ảnh giao nhập lẫn nhau, không thể phân biệt. Vì Thân là Trí, nên đồng hư không, chẳng ngăn ngại nhau. Vì Trí là Thân, nên khéo vào các cõi nước; rộng làm Phật sự, thuyết pháp Tam Thừa, được Đại Tùy Thuận. Thấy Vọng Tưởng Sanh Diệt tức là Hư Không, Hư Không và Vọng Tưởng Sanh Diệt không hai. Thấy cõi nước tức là Phật Tánh, Phật Tánh và cõi nước không khác. Lý chẳng ngại Sự, Sự chẳng ngại Lý. Ở trong Tánh Đồng mà phát minh được, đắc Vô Sanh Nhẫn, chứng Hư Không Vô Biên Thân, diệu lực tròn sáng, thân và cõi nước nhập vào nhau, đó là chỉ chứng Lý Sự Vô Ngại Pháp Giới.

Nếu gương gương chiếu nhập lẫn nhau, trùng trùng lưới báu, một tức tất cả, tất cả tức một, mới là Sự Sự Vô Ngại Pháp Giới. Chỉ Như Lai chứng, nên Ngài Bồ Tát Hư Không Tạng còn ở trong hàng đệ tử vậy. Đó là vì còn mắc vướng trong Hư Không Vô Biên Xứ, còn Thân để đắc vậy.

Tổ Hoàng Bá nói:

– Chân Pháp Thân Phật giống như Hư Không. Đây là tỷ dụ Pháp Thân tức Hư Không, Hư Không tức Pháp Thân. Người thường nói rằng Pháp Thân cùng khắp Hư Không, trong Hư Không hàm chứa Pháp Thân mà chẳng biết rằng Pháp Thân tức Hư Không, Hư Không tức Pháp Thân đó vậy. Nếu nói nhất định có Hư Không thì Hư Không chẳng phải là Pháp Thân. Nếu nói nhất định có Pháp Thân, thì Pháp Thân chẳng phải là Hư Không. Chỉ đừng khởi ra cái hiểu biết về Hư Không, thì Hư Không tức Pháp Thân. Chỉ không khởi ra cái hiểu biết về Pháp Thân, thì Pháp Thân tức Hư Không. Hư Không và Pháp Thân không có tướng khác nhau. Sanh Tử và Niết Bàn không khác tướng. Lìa tất cả tướng, tức đó là Phật.

Như lời nói của Tổ Hoàng Bá đây, thật là thấy rõ cái Thân Vô Biên của Hư Không Tạng Bồ Tát vậy.

Tổ Tào Sơn hỏi Thượng Tọa Đức:

– Chân Pháp Thân Phật, giống như Hư Không, ứng vật hiện hình, như trăng trong nước, làm sao nói cái đạo lý ứng hiện đó?

Thầy Đức nói:

– Như lừa dòm giếng.

Tổ Sơn:

– Nói thì quá lắm, mà chỉ nói được tám tướng!

Thầy Đức nói:

– Hòa Thượng thì thế nào?

Tổ Sơn nói:

– Như giếng dòm lừa.

Ngài Thiên Đồng tụng rằng:

Lừa dòm giếng, giếng dòm lừa,
Trí gồm khắp, không gì ngoài.
Tràn đầy, thanh tĩnh có thừa,
Sau cùi chỏ ai phân ấn.
Trong nhà chẳng chứa sách, thơ,
Khung cửi nào quản chuyện thoi đưa.
Màu sắc dọc ngang ý tự khác
!

Rõ chỗ này thì có thể biết Khéo Vào Cõi Nước, như giếng dòm lừa. Vốn tự chẳng sanh, thì hợp với Hư Không!

* * * * *



XXIII. VIÊN THÔNG VỀ THỨC ĐẠI


Kinh: Đức Di Lặc Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, thưa rằng:

– Tôi nhớ vi trần kiếp về trước, có Đức Phật ra đời tên là Nhật Nguyệt Đăng Minh, tôi được xuất gia theo Đức Phật ấy, nhưng tâm còn trọng danh đời, thích giao du với hàng vọng tộc. Lúc ấy, Đức Thế Tôn dạy tôi tu tập định Duy Tâm Thức vào Tam Ma Địa. Trải nhiều kiếp đến nay, dùng Tam Muội ấy phụng sự hằng sa Phật, cái tâm cầu danh đời diệt hết không còn. Đến khi Đức Phật Nhiên Đăng ra đời, tôi mới đắc thành Vô Thượng Diệu Viên Thức Tâm Tam Muội. Cho đến tận hư không các cõi nước của Như Lai dơ, sạch, có, không, đều là sự biến hóa hiện ra của tâm tôi. Thưa Thế Tôn, tôi thấu rõ Duy Tâm Thức như thế, nơi Thức Tánh lưu xuất vô lượng Như Lai. Nay được thọ ký, kế tiếp làm Phật.

Phật hỏi về Viên Thông, tôi do đế quán mười phương đều Duy Thức, thức tâm tròn sáng, chứng nhập Viên Thành Thật Tánh, xa lìa Y Tha Khởi Tánh và Biến Kế Chấp Tánh, đắc Vô Sanh Nhẫn, đó là Thứ Nhất.


Thông rằng: Tôi do đế quán mười phương Duy Thức”. Hai chữ Duy Thức ý vị thật sâu xa. Chữ Duy che mất cái cảnh đang có, chữ Thức rút về Tâm Không. Lại nữa, Thức để nói tất cả mọi sự hiện bày, Duy để nói che hết. Hiện bày tất cả ấy, là nói tất cả hữu tình đều có tám Thức, sáu vị Tâm Sở, cùng hai Kiến Phần và Tướng Phần được biến hiện ra, đều là sai biệt nhau, cùng với cái Lý Không để hiển bày Chân Như, tất cả các pháp như vậy đều chẳng rời Thức, cho nên dùng chữ Thức để hiển bày tất cả vậy. Che hết là vì hạng phàm phu chấp rằng lìa ngoài Tâm Thức thật có các pháp, nên dùng chữ Duy, để che hết cái Kiến của phàm phu vậy.

Thức Tâm tròn sáng, chứng nhập Viên Thành Thật Tánh là do ban đầu tu tập định Duy Tâm Thức, đến chỗ thành tựu Vô Thượng Diệu Viên Thức Tâm Tam Muội, đã chuyển Thức thành Trí, nên nói là nhập vào Viên Thành Thật Tánh. Khi chưa chuyển được Thức, ban đầu bị cảnh trói buộc, đó là thô hoặc( ), gọi là Biến Kế Chấp. Kế đó là bị pháp trói buộc, đó là tế hoặc, gọi là Y Tha Khởi.

Tâm trọng danh đời, ưa giao du với hàng vọng tộc, đó là tướng dạng của Biến Kế Chấp.

Cái Tâm cầu danh đời diệt hết không còn, đó là tướng dạng của Y Tha Chấp vậy.

Cho đến:Thấu rõ Duy tâm thức như thế, nơi Thức Tánh lưu xuất vô lượng Như Lai, là tướng dạng của Viên Thành Thật Tánh vậy.

Kinh Giải Thâm Mật nói:

– Biến Kế Chấp là như người nhặm mắt; Y Tha Khởi là như hiện ra xanh, vàng; Viên Thành Thật là như mắt trong sáng.

Luận Bảo Trượng nói: Như người thấy vật động đậy cho là rắn, nhưng khi nhìn kỹ thấy là sợi dây. Thì cái tâm nghi là rắn không phải đoạn trừ mà tự hết. Đó là lìa Biến Kế Chấp. Nhưng dây vẫn còn. Lại xem kỹ lưỡng nó mà nói: Chẳng phải dây mà là sợi gai. Liền cái tâm chấp là dây lại chẳng đoạn trừ mà tự hết. Đó là lìa: Y Tha Khởi Chấp.

Sợi gai và dây vốn là một, có bện lại gọi là dây, không bện gọi là gai, là để dụ cho Tánh và Thức vốn là Một. Có trói buộc thì gọi là Thức, không trói buộc gọi là Tánh. Đến chỗ rõ thấy Duy Thức thì ngoài Thức không có Tánh; Thức đó là Tánh. Tức Đệ Bát Thức là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh vậy.

Đã lìa Y Tha Khởi cùng Biến Kế Chấp, ắt tiêu tan chủng tử sanh diệt, mà y theo cái Chân Tánh chẳng sanh, chẳng diệt, nên đắc Vô Sanh Nhẫn. Đó là tất cả cõi nước dơ sạch, có không đều là chỗ biến hiện của Tâm. Ta chẳng phân biệt, thì hiện đây là tịch diệt, ngay nơi Tướng Phần chứng Vô Sanh Nhẫn.

Thức Tánh lưu xuất vô lượng Như Lai, ấy là Lý tức Pháp Thân, Trí tức Báo Thân, Hạnh tức Hóa Thân. Trí tức Văn Thù, Hạnh tức Phổ Hiền, Bi tức Quán Thế Âm, đều từ Nhất Tâm lưu xuất. Ta không có sự phân biệt, thì hiện đây là tịch diệt, ngay nơi Kiến Phần chứng Vô Sanh Nhẫn.

Ngài Pháp Nhãn tụng rằng:

Ba cõi Duy Tâm,
Mắt thanh, tai sắc.
Sắc chẳng đến tai,
Thanh nào chạm mắt!
Mắt sắc, tai thanh,
Vạn pháp thành khác.
Muôn pháp chẳng duyên,
Nào quán như huyễn?
Đất đai sông núi,
Chi bền, chi biến
?

Tổ Pháp Nhãn, thức tâm tròn sáng, mới nói được lời tròn vẹn này. Tổ Bàn Sơn dạy rằng:

– Ba cõi không pháp, nơi nào cầu tâm? Bốn Đại vốn không, Phật nương đâu trụ? Trăng sao chẳng động, lặng đứng không ngần. Đối mặt trình nhau, còn chuyện gì nữa!

Ngài Tuyết Đậu tụng rằng:

Ba cõi không pháp,
Nơi nào cầu tâm?
Mây trắng làm lọng,
Nước chảy làm đàn.
Một khúc, hai khúc, không người hiểu,
Đêm mưa ao vắng, nước thu trong
.

Có nhà sư hỏi Tổ Thạch Sương:

– Muôn cửa đều đóng thì chẳng hỏi, muôn cửa đều mở thì thấy nào?

Tổ Sương nói:

– Chuyện trong nhà thì thế nào?

Nhà sư không đáp được. Trải qua nửa năm, mới nói được rằng:

– Không người tiếp được y.

Tổ Sương nói:

– Nói thì nói cho lắm, mà chỉ nói được tám tướng.

Nhà sư nói:

– Hòa Thượng thì thế nào?

Tổ Sương nói:

– Không người biết được y! Ngài Đầu Tử tụng rằng:

Điện xưa cao ngất trăng phủ tùng,
Sương ngưng, tuyết lộ, nói không cùng.
Đối sao, nằm ngắm, nhà ngàn núi,
Phật, Tổ không nhân, biết HẮN chân
!

Bồ Tát Di Lặc tu tập định Duy Tâm Thức, vào Tam Ma Địa. Nay Tổ Bàn Sơn lại nói:

– Nơi nào cầu tâm?

Tổ Thạch Sương thì nói:

– Không người biết được y! Hai chuyển ngữ này, đợi đời sau hạ sanh. Bổ Xứ thành Phật sẽ trùng trùng khai diễn.

* * * * *



XXIV. VIÊN THÔNG VỀ KIẾN ĐẠI


Kinh: Ngài Đại Thế Chí Pháp Vương Tử cùng với năm mươi hai vị Bồ Tát đồng tu liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, thưa rằng:

– Tôi nhớ hằng sa kiếp trước, có Đức Phật ra đời, hiệu Vô Lượng Quang. Thuở ấy, mười hai vị Như Lai kế nhau thành Phật trong một kiếp. Đức Phật sau cùng, hiệu là Siêu Nhật Nguyệt Quang, Ngài dạy tôi pháp Niệm Phật Tam Muội. Ví như có người, một bên thì chuyên nhớ, một bên thì chuyên quên thì hai người ấy, dầu gặp cũng như không gặp, dầu thấy cũng là không thấy. Nếu cả hai người đều nhớ nhau, hai bên nhớ mãi, khắc sâu và tâm niệm, như thế từ đời này qua đời khác, như hình với bóng, chẳng hề xa cách nhau, mười phương Như Lai thương tưởng chúng sanh như mẹ nhớ con, nếu con trốn tránh tuy nhớ cũng chẳng được gì. Con mà nhớ mẹ, như mẹ nhớ con, thì đời đời mẹ con không hề ngăn cách. Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật thì hiện giờ hay mai sau nhất định thấy Phật, cách Phật không xa. Chẳng nhờ phương tiện, tâm tự khai ngộ, như người ướp hương, thân có mùi thơm. Đây gọi là Hương Quang Trang Nghiêm. Nhân Địa Căn Bản của tôi là dùng Tâm niệm Phật, vào Vô Sanh Nhẫn. Nay tôi ở cõi này tiếp dẫn người niệm Phật về nơi Tịnh Độ.

Phật hỏi về Viên Thông, tôi không riêng lựa chọn mà nhiếp trọn cả sáu Căn, tịnh niệm nối tiếp nhau, đắc Tam Ma Địa. Đó là Thứ Nhất.


Thông rằng: Quán kinh nói, Dùng Ánh Sáng Trí Huệ, chiếu khắp tất cả. Nay rời ba đường, được Vô Thượng Lực, gọi là Đại Thế Chí . Bạn đồng tu có năm mươi hai vị Bồ Tát cũng đủ để chứng nghiệm chuyện vãng sanh Tịnh Độ là dễ thành tựu. Phàm người niệm Phật không được trong khoảnh khắc như gảy móng tay mà thấy Phật, chỉ vì niệm năm Dục thế gian, đó là niệm trói buộc. Còn tịnh niệm kế tiếp nhau, như con nhớ mẹ, thì ngay hiện giờ hay về sau nhất định thấy Phật. Miệng niệm tâm nhớ, tai mắt chuyên nhất, mỗi mỗi oai nghi, đều nhiếp trọn cả sáu Căn, nhất tâm không loạn. Trong chánh định như thế, chắc chắn thấy được Phật, cách Phật không xa, ánh sáng Trí Huệ rực rỡ, chẳng mượn tu hành mà tự thành khai ngộ, như người xông ướp hương, chẳng mong thơm mà tự thơm. Đây là nguyện lực của Phật A Di Đà nhiệm mầu không thể nghĩ bàn vậy.

Ngài Đại Thế Chí đã dùng Tâm niệm Phật mà đắc Vô Sanh Nhẫn. Lại tiếp dẫn người niệm Phật về Tịnh Độ, thì tự giác giác tha đầy đủ Hạnh Bồ Tát chân thật.

Sáu Căn đều thuộc về Kiến Phần. Ở đây chú trọng về sự thấy Phật, nên dùng Kiến Đại để mà thu nhiếp. Kiến Đại sao lại để sau Thức Đại? Bởi vì trước phải chuyển Thức Thứ Tám để chứng Hậu Đắc Trí rồi sau chuyển năm Thức trước. Đã chuyển Thức thành Trí, sanh về Tịnh Độ của Phật là cái quả cùng cực, cớ sao ở sau lại còn pháp môn Xoay Lại Cái Nghe của Đức Quan Âm? Phàm cái chỗ quý báu của chuyện vãng sanh Tịnh Độ, chứng Viên Thông thì không phải chẳng những tự cho mình mà thôi, mà là độ thoát chúng sanh. Ắt như ba mươi hai Ứng Thân, chốn chốn nơi nơi đều là Tịnh Độ, đều chứng Viên Thông, thì sau mới tròn đủ quả Phật vậy. Thiền sư Vĩnh Minh Thọ, thuở nhỏ tụng kinh Pháp Hoa, năm Hạnh( ) đầy đủ trong sáu tuần lễ. Sau tham học với Thiều quốc sư, phát rõ tâm yếu, đến ngọn núi Thiên Thai của Ngài Trí Giả tu định trong chín tuần( ), chim chóc làm tổ trên áo. Ngài làm hai cái thăm, khấn bói: một là, một đời thiền định; hai là, tụng kinh, muôn thiện trang nghiêm Tịnh Độ. Rồi chí thành cầu nguyện, bảy lần đều rút được tụng kinh, muôn thiện. Bèn chuyên tu Tịnh Nghiệp. Tụng kinh ba năm, trong lúc thiền quán, thấy Đức Quan Âm rót cam lồ vào miệng, bèn được biện tài. Vua Trung Ý thỉnh Ngài trụ trì chùa Linh Ẩn, hai năm sau sang chùa Vĩnh Minh. Khóa biểu mỗi ngày có một trăm lẽ tám việc, không hề gián đoạn. Học giả đến tham học thì Ngài chỉ Tâm làm tông chỉ, lấy Ngộ làm phép tắc. Mỗi đêm lại sang nơi khác để tu hành niệm Phật.

Vua Trung Ý than rằng:

– Từ xưa đến nay, chưa có ai chuyên tâm tha thiết cầu sanh Tây Phương cho bằng!

Bèn làm điện Tây Phương Hương Nghiêm để Ngài hoàn thành chí nguyện. Đệ tử đến một ngàn bảy trăm người. Ngài thường cùng đại chúng thọ Giới Bồ Tát, thí thực cho quỷ thần, hàng ngày phóng sanh đều hồi hướng trang nghiêm Tịnh Độ. Làm trăm pho sách, nhan đề là Tông Cảnh Lục, lại viết các quyển Vạn Thiện Đồng Quy và Chỉ Về Tịnh Độ.

Sau khi Ngài diệt độ, tháp ở trong núi, có một nhà sư từ Lâm Xuyên đến nói:

-Khi tôi bệnh nặng, chết xuống cõi u minh, được thả về. Tôi thấy trong điện Diêm Vương có tượng một vị tăng, Diêm Vương tự thân đảnh lễ, tôi hỏi: Tượng ấy là ai?”

Vị Chủ Lại nói rằng:

– Đó là thiền sư Thọ ở Chẩm Châu. Nghe rằng Ngài đã vãng sanh bậc thượng phẩm ở Tây Phương. Diêm Vương kính trọng Ngài nên lễ bái.

Ông Dương Kiệt, tự là Thứ Công, phu nhân Kinh Châu cũng trong mộng thấy Ông Kiệt ngồi trên đài hoa sen, tiêu dao tự tại. Trước kia ông Dương Kiệt thấy mặt trời như cái mâm vọt lên, có điều tỏ ngộ, làm bài kệ rằng:

Trai lớn thì cưới vợ,
Gái lớn thì lấy chồng.
Hỏi công phu: nhàn lắm!
Lại nói lời Vô Sanh

. Rất nên cùng Ông Bàng cư sĩ thẩm tra!

Khi ông sắp từ biệt cõi đời, có bài kệ:

Không chi để mến,
Không chi để bỏ!
Trong khoảng thái hư,
Ờ, à, thế, đó!
Từ an tới an,
Tây Phương Cực Lạc
.

Đó là Ngài Vĩnh Minh Thọ và Ông Dương Kiệt đều sanh về Tịnh Độ, sáng tỏ pháp Niệm Phật Tam Muội, như con nhớ mẹ.

Tổ Động Sơn có nói:

– Đối với Đạo thì chớ đi, còn quay về thì nghịch lại với cha.

Có nhà sư hỏi Tổ Tào Sơn:

– Con quay về với cha, sao cha chẳng thèm nhìn đến?

Tổ Sơn nói:

– Lý hợp như thế đấy!

Nhà sư hỏi:

– Thế thì ân tình cha con ở đâu?

Tổ Sơn nói:

– Thế mới thành ân tình cha con.

Nhà sư hỏi:

– Thế nào là ân tình cha con?

Tổ Sơn nói:

– Đao búa chặt chẳng rời.

Ngài Thiên Đồng nêu ra rằng:

– Rèm biếc buông rồi, lệnh vua chưa xuống. Màn hoa đã khép, thấy nghe khó thông! Động nhằm đầu lông, trăng lên song cửa. Im dời một bước, hạc ra lồng bạc. Có biết chăng? Thoát thân một sắc, không lưu bóng. Chẳng tọa đồng phong, lạc đại công.

Lại có nhà sư hỏi Tổ Hộ Quốc:

– Như thế nào là cha mẹ xưa nay?

Tổ Quốc nói:

– Ấy đầu chẳng bạc.

Nhà sư hỏi:

– Lấy gì phụng hiến?

Tổ Quốc nói:

– Ân cần không cơm gạo, trong nhà chẳng hỏi thân.

Ngài Đơn Hà tụng rằng:

Ra cửa khắp đời không tri kỷ,
Vào nhà ngập mắt: chẳng ai thân.
Nhà không đêm lạnh, không gì có,
Trời xanh, trăng sáng: cũng bạn gần
.

Hai tắc trên thật rõ ràng Tự Tánh Di Đà, Duy Tâm Tịnh Độ, phải thấy như thế mới là cái Thấy chân chánh. Xưa, có vị ni cô ra mắt Tổ Vân Nham.

Tổ Nham hỏi:

– Cha cô còn không?

Ni cơ nói:

– Dạ, còn.

Tổ Nham hỏi:

– Tuổi bao nhiêu?

Ni cô nói:

– Sáu mươi lăm.

Tổ Nham nói:

– Cô có người cha chẳng phải sáu mươi lăm tuổi, cô biết hay chăng?

Ni cô nói:

– Chẳng phải là cái như vậy đến ư?

Tổ Nham nói:

– Cái như vậy đến vẫn còn là con cháu.

Ngài Động sơn nói:

– Dù được cái chẳng như vậy đến cũng là con cháu!

Ô hô! Cha mẹ xưa nay đâu có dễ thấy! Nên thấy được cha mẹ xưa nay thì thấy Tự Tánh Di Đà mà Thiền Tịnh viên dung, đều thuộc về cảnh giới không thể nghĩ bàn vậy.

* * * * *


Sách (pdf file): KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG

1. GIỚI THIỆU KINH LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
2. DUYÊN KHỞI CỦA KINH
3. GẠN HỎI CÁI TÂM
4. CHẤP TÂM Ở TRONG THÂN
5. CHẤP TÂM Ở NGOÀI THÂN
6. CHẤP TÂM NÚP SAU CON MẮT
7. CHẤP TÂM HỢP VỚI CHỖ NÀO THÌ LIỀN CÓ Ở CHỖ ẤY
8. CHẤP TÂM KHÔNG DÍNH DÁNG VÀO ĐÂU TẤT CẢ
9. CẦU ĐI ĐẾN CHỖ CHÂN THẬT
10. NƯƠNG CÁI THẤY, GẠN HỎI CÁI TÂM
11. CHỈ RÕ TÍNH THẤY KHÔNG PHẢI LÀ CON MẮT
12. Ý NGHĨA CHỦ VÀ KHÁCH
13. CHỈ TÁNH THẤY KHÔNG SANH KHÔNG DIỆT
14. CHỈ CHỖ ĐIÊN ĐẢO
15. LỰA BỎ TÂM PHAN DUYÊN ĐỂ CHỈ TÁNH THẤY KHÔNG THỂ TRẢ VỀ ĐÂU
16. LỰA RIÊNG TRẦN CẢNH ĐỂ NÊU RA TÁNH THẤY
17. NGHI TÁNH THẤY HIỆN Ở TRƯỚC MẮT
18. XIN CHỈ DẠY TÁNH THẤY CHẲNG DO THẤY
19. CHỈ RÕ Ý NGHĨA TÁNH THẤY KHÔNG PHẢI LÀ CÁI THẤY, VIÊN MÃN BỒ ĐỀ
20. TÓM THU: THU SẮC ẤM – THU THỌ ẤM – THU TƯỞNG ẤM
21. TÓM THU: THU HÀNH ẤM – THU THỨC ẤM – THU SÁU NHẬP
22. THU SÁU NHẬP (TT) – THU MƯỜI HAI XỨ
23. THU MƯỜI HAI XỨ (TT) – THU MƯỜI TÁM GIỚI
24. THU MƯỜI TÁM GIỚI (TT) – THU BẢY ĐẠI
25. THU BẢY ĐẠI (TT) – ĐỐN NGỘ PHÁP THÂN VÀ PHÁT NGUYỆN
26. ÔNG MÃN TỪ TRÌNH BÀY CHỖ NGHI – VÔ MINH ĐẦU TIÊN – NGUYÊN NHÂN VỌNG THẤY CÓ THẾ GIỚI
27. NGUYÊN NHÂN VỌNG THẤY CÓ THẾ GIỚI (TT) – CHỈ RÕ GIÁC CHẲNG SANH MÊ
28. CHỈ CÁC ĐẠI CÓ THỂ TƯƠNG DUNG – CHỈ TÁNH DIỆU MINH LÀ NHƯ LAI TẠNG, RỜI CẢ HAI NGHĨA “PHI” VÀ “TỨC”
29. CHỈ MÊ VỌNG KHÔNG CÓ NHÂN, HẾT MÊ LÀ BỒ ĐỀ (TT) – LẠI PHÁ XÍCH NHÂN DUYÊN, TỰ NHIÊN
30. KHAI THỊ VỀ NGŨ TRƯỢC – XÉT RÕ GỐC RỄ PHIỀN NÃO
31. ĐÁNH CHUÔNG ĐỂ THỂ HIỆN TÍNH THƯỜNG – NƯƠNG CHỖ NGỘ MÀ TU
32. NÊU RA CÁI CĂN ĐỂ CHỈ CHỖ MÊ
33. CỘT KHĂN ĐỂ CHỈ MỐI NÚT VÀ CÁCH MỞ NÚT
34. VIÊN THÔNG VỀ THANH TRẦN – SẮC TRẦN – HƯƠNG TRẦN – VỊ TRẦN – XÚC TRẦN
35. VIÊN THÔNG VỀ PHÁP TRẦN – NHÃN CĂN – TỶ CĂN – THIỆT CĂN – THÂN CĂN
36. VIÊN THÔNG VỀ Ý CĂN – NHÃN THỨC – NHĨ THỨC




Leave a Reply