VIÊN THÔNG VỀ HỎA ĐẠI – ĐỊA ĐẠI – THỦY ĐẠI

May 13, 15 | Tâm Duyên | 1,886 views | No Comments



Share |




KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG

Nhẫn Tế Thiền Sư

-o0o-
summer

QUYỂN V

PHẦN THỨ HAI: PHẦN CHÁNH TÔNG

CHƯƠNG II: NƯƠNG CHỖ NGỘ MÀ TU

MỤC BA: HỎI ĐẠI CHÚNG VỀ VIÊN THÔNG

Nghe MP3 (41/61): VIÊN THÔNG VỀ HỎA ĐẠI – ĐỊA ĐẠI – THỦY ĐẠI


* * * * *



XVIII. VIÊN THÔNG VỀ HỎA ĐẠI


Kinh: Ông Ô Sô Sắt Ma ở trước Đức Phật, chấp tay đảnh lễ dưới chân Phật, thưa rằng:

– Tôi thường nhớ, trước kia trong kiếp xa xôi, tánh khí nhiều tham dục. Có Phật ra đời, hiệu là Không Vương dạy rằng: Người đa dâm thành đống lửa hồng. Ngài dạy tôi quán khắp các khí nóng, lạnh nơi trăm vóc tứ chi. Tôi quán như thế mà thần quang lặng đứng ở trong, hóa cái tâm thức đa dâm thành lửa Trí Huệ. Từ ấy, các Đức Phật đều gọi tôi tên là Hỏa Đầu. Tôi dùng sức Hỏa Quang Tam Muội mà thành A La Hán. Tâm phát đại nguyện khi các Đức Phật thành đạo, tôi làm lực sĩ ở bên Phật mà dẹp phục tà ma quấy phá.

Phật hỏi về Viên Thông, tôi quán sát các hơi ấm nơi thân tâm, lưu thông không ngại, các lậu đã tiêu, sanh ra ngọn lửa Đại Trí quý báu, chứng Vô Thượng Giác, đó là Thứ Nhất.


Thông rằng: Trong đoạn trước, về bảy Đại, nói Tánh lửa là Chân Không, Tánh Không là Chân Lửa, bản nhiên thanh tịnh, toàn khắp Pháp Giới. Vì Hỏa Quang Tam Muội vốn sẵn đủ cái lực không thể nghĩ bàn, nên Ông Hỏa Đà Kim Cang mới dùng cái Thần Quang lắng đọng, hóa cái tâm đa dâm thành ra ngọn lửa Trí Huệ. Chánh ở nơi chỗ bắt đầu động của Chân Hỏa mà phản bổn hoàn nguyên, quay về thanh tịnh, thành ra Trí Huệ. Người đa dâm thì hơi nóng bức bách phát ra, sống thì làm lửa dục, chết thì làm lửa nghiệp. Nghiệp lực lừng mạnh, thành đống lửa lớn.

Bồ Tát Di Lặc nói:

– Trai gái qua lại với nhau, đôi bên giao hợp, cái bất tịnh chảy ra. Chư Thiên cõi Dục Giới, tuy hành dâm dục, không có cái bất tịnh này, nhưng ở căn môn có hơi gió xuất ra, thì hơi nóng bức bèn hết. Các Trời ở cõi Tứ Thiên Vương, khi giao hợp thì cái nóng bức bèn hết. Như cõi Tứ thiên Vương, cõi Trời Thứ Ba Mươi Ba là Đao Lợi Thiên cũng thế. Cõi Trời Phần Thiên thì ôm lấy nhau, cái nóng bức liền hết. Cõi Trời Tri Túc, chỉ cần nắm tay nhau, cái nóng bức liền hết. Cõi Trời Hóa Lạc thì nhìn nhau mà cười thì cái nóng bức liền hết.

Đó há chẳng phải là lòng dục càng giảm thì cái chốn ở càng cao ư?

Cô Ma Đăng Già lòng Dâm tiêu tan hết, liền chứng Quả Thứ Ba. Ông Hỏa Đầu Kim Cang các Lậu đã tiêu, chứng Vô Thượng Giác, thì có gì lạ đâu?

Ngài Quy Sơn đang đứng hầu Tổ Bách Trượng.

Tổ Trượng hỏi:

– Ai đó?

Ngài Quy Sơn nói:

– Dạ, tôi.

Tổ Trượng nói:

– Ông bới trong lò xem có lửa không?

Ngài Quy bới, rồi nói:

– Không có lửa.

Tổ Trượng đứng lên, tự mình bới sâu xuống được chút lửa, đưa ra cho xem và nói:

– Ông nói là không, thế cái gì đây?

Quy Sơn do đó phát ngộ, làm lễ tạ ơn và trình chỗ hiểu.

Tổ nói:

– Đây mới là đường rẽ tạm thời thôi.

Kinh nói rằng:

Muốn rõ nghĩa Phật Tánh phải xem thời tiết nhân duyên.

Thời tiết đã đến thì như mê bỗng ngộ, như quên bỗng nhớ, mới biết cái vật ấy của ta chẳng do người mà được.

Bởi thế Tổ Sư nói:

– Ngộ rồi đồng chưa ngộ, không tâm cũng không pháp”. Chỉ cái Tâm không phàm Thánh hư vọng là cái Tâm Pháp Bổn Lai, vốn tự sẵn đủ. Ông nay đã thế, hãy khéo hộ trì.

Ngày hôm sau, Ngài cùng Tổ Bách Trượng vào núi làm việc.

Tổ Trượng nói:

– Đem được lửa đến không?

Ngài Quy Sơn nói:

– Đem đến được.

Tổ nói:

– Ở đâu, nào?

Ngài Quy Sơn bèn cầm lên một cành củi, thổi hai cái, đưa cho Tổ Trượng.

Tổ nói:

– Như con trùng địch với cái cây.

Ngài Diệu Hỉ nói:

– Nếu Tổ Bách Trượng không có lời nói sau, thì sẽ bị thầy Điển Tòa khinh lắm.

Đây cũng là do Hỏa Đại mà lên Vô Thượng Giác vậy. Há phải quán sát cái khí nóng lạnh trong thân mới chứng Viên Thông ư?

* * * * *



XIX. VIÊN THÔNG VỀ ĐỊA ĐẠI


Kinh:

Ngài Trì Địa Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, thưa rằng:

– Tôi nhớ xưa kia, khi Đức Phật Phổ Quang xuất hiện giữa đời, tôi làm Tỳ Kheo, thường ở nơi các nẻo đường bến đò, chỗ đất hiểm trở eo hẹp không đúng quy tắc, có thể làm hư hại ngựa xe, tôi đều đắp bằng. Hoặc làm cầu cống, hoặc gánh đất cát, siêng năng khó nhọc như thế trải qua vô lượng Phật xuất hiện ra đời. Hoặc có chúng sanh ở nơi chợ búa, cần người mang đồ vật thì tôi tình nguyện mang hộ đến nơi, để đồ xuống là đi ngay, không lấy tiền thuê.

Khi Đức Phật Tỳ Xá Phù ra đời, thế gian phần nhiều đói kém, tôi cõng giúp người không kể gần xa, chỉ lấy một đồng tiền. Hoặc có xe bò bị lún sình lầy, tôi dùng thần lực đẩy giúp bánh xe, gỡ khỏi khổ não. Vị vua trong nước thời ấy thiết trai thỉnh Phật, lúc ấy tôi sửa sang đường đất bằng phẳng chờ Phật đi qua. Đức Phật Tỳ Xá xoa đảnh đầu tôi mà nói “Hãy bình đẳng nơi Tâm Địa, tức đất đai thế giới, tất cả đều bình”. Tâm tôi liền khai ngộ, thấy vi trần nơi thân thể cùng với vi trần tạo thành thế giới đều bình đẳng không sai biệt. Tự tánh của vi trần không xát chạm nhau, cho đến các thứ đao binh cũng không chỗ nào đụng chạm. Tôi ở trong Pháp Tánh ngộ Vô Sanh Nhẫn, thành A La Hán. Hồi tâm về, nay vào trong địa vị Bồ Tát, nghe các Đức Như Lai bày chỗ Tri Kiến Diệu Liên Hoa của Phật, thì tôi chứng minh trước tiên mà làm vị Thượng Thủ.

Phật hỏi về Viên Thông, tôi do chánh quán hai thứ Trần nơi căn thân và nơi thế giới đều bình đẳng không sai biệt, vốn là Như Lai Tạng mà hư vọng phát ra trần tướng. Trần tướng tiêu tan, Trí Huệ liền tròn sáng, thành Đạo Vô Thượng, đó là Thứ Nhất.


Thông rằng: Các pháp bình đẳng, nào có cao thấp. Tâm Địa nếu bình đẳng, phân biệt chẳng sanh thì chẳng thấy mọi tướng đây kia, cao thấp, tức tất cả đều bình. Bồ Tát Trì Địa do đây mà ngộ nhập Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh. Tánh Sắc Chân Không, Tánh Không Chân Sắc, tự tánh của vi trần không xát chạm nhau, vốn tự bình đẳng, vốn tự Vô Sanh vậy. Vi trần này đây bên trong là Thân Trần, do vi trần tích tập; ngoài là Giới Trần, cũng do vi trần tích tụ. Vi trần ấy nguyên là không tự tánh, chỉ có trong hư vọng. Hiện là chốn hư vọng, tức ngay chỗ Vô Sanh, đó là Diệu Chân Như Tánh.

Cái Sắc Thân này của ta, chính là Diệu Chân Như Tánh. Tức cái Cõi Sắc này cũng là Diệu Chân Như Tánh. Tánh vốn không hai, Sắc Trần nào có sai biệt. Đã không sai biệt, thì cho đến đao binh cũng không có chỗ nào để đụng chạm. Ngộ Pháp Tánh ấy thì xúc chạm vốn chẳng sanh ra, xúc tức là không xúc, đó là Vô Sanh Nhẫn, vào Tri Kiến Phật. Nhập Tri Kiến Phật thì gọi là Trí, tức là Sắc Trần vốn chẳng phải Sắc Trần, thế nên Trần tự tiêu tan. Đó là chẳng lìa Sắc Trần mà thấu đạt Trí Huệ, thì Trí Huệ tròn đầy. Trí Huệ tròn khắp mới tự chứng sáng suốt được cái pháp Liên Hoa mầu nhiệm mà thành Vô Thượng Giác.

Tổ Quy Sơn một hôm chỉ đám ruộng hỏi Ngài Ngưỡng Sơn:

– Mẫu ruộng kia, phải đầu kia cao đầu này thấp?

Ngài Ngưỡng Sơn nói:

– Lại là đầu kia cao, đầu này thấp!

Tổ nói:

– Ông không tin, đứng ở giữa mà nhìn hai đầu xem.

Ngài Ngưỡng Sơn nói:

– Chẳng cần phải đứng giữa, mà cũng không trụ hai đầu.

Tổ Quy Sơn nói:

– Nếu thế thì đổ nước vào xem, nước hay làm bằng phẳng vật.

Ngài Ngưỡng nói:

– Nước cũng vô định, xứ cao bằng cao, xứ thấp bằng thấp!

Tổ Quy Sơn bèn thôi.

Như hai cha con Quy, Ngưỡng hai bên chẳng lập, mà Trung Đạo cũng chẳng thèm ở, thế có thể nói là khéo bình Tâm Địa, nên tất cả đều bình.

Có Hòa Thượng Đả Địa, lãnh được ý chỉ của Giang Tây Mã Tổ, thường che giấu chỗ sáng suốt. Phàm có người tu học đến hỏi, thì chỉ lấy cây gậy đánh xuống đất mà chỉ bày. Thời ấy gọi Ngài là Đả Địa Hòa Thượng. Hôm nọ, bị nhà sư kia dấu mất cây gậy, rồi mới hỏi. Ngài chỉ hả miệng ra mà thôi.

Nhà sư hỏi học trò của Ngài:

– Hòa Thượng thường ngày có người hỏi liền đánh xuống đất, ý chỉ thế nào?

Người học trò liền lấy một miếng củi trong bếp bỏ vào nồi.

Chẳng thấu suốt hết Trần Tiêu Trí Tròn Đầy, đắc Vô Sanh Nhẫn thì chẳng có thể hiểu được ý chỉ này.

* * * * *



XX.VIÊN THÔNG VỀ THỦY ĐẠI


Kinh: Ngài Nguyệt Quang Đồng Tử liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, thưa rằng:

-Tôi nhớ hằng sa kiếp về trước, có Đức Phật ra đời, hiệu là Thủy Thiên, dạy hàng Bồ Tát tu tập pháp quán về nước, để vào Tam Ma Địa. Quán ở trong thân, tánh nước không gì ngăn ngại: Ban đầu từ nước mắt, nước mũi, cho đến tất cả các thứ tân, dịch, tinh, huyết, đại tiểu tiện, xoay vần trong thân, đồng một Tánh Nước. Thấy nước trong thân cùng nước các hương thủy của các cõi Phật ở ngoài thế giới đều bình đẳng không sai biệt.

Khi ấy, tôi mới thành tựu Pháp Quán này, chỉ mới thấy nước, chưa được không thân. Lúc đó, đang làm Tỳ Kheo, ngồi thiền trong phòng, tôi có người học trò lén nhòm cửa sổ thấy trong phòng chỉ toàn nước trong, đầy khắp cả phòng ngoài ra không thấy gì khác. Nhỏ dại không biết, lấy một miếng ngói ném vào trong nước, chạm vào nước phát ra tiếng, ngó quanh rồi bỏ đi.

Sau, tôi xuất định liền cảm thấy đau tim, cũng như Ông Xá Lợi Phất bị quỷ Vi Hại đập. Tôi tự suy nghĩ: Nay đã đắc quả A La Hán, duyên bệnh đã lìa từ lâu, vì sao hôm nay bỗng sanh đau tim, chẳng lẽ lại bị lui sụt?

Khi ấy, đồng tử vừa đến, nói cho tôi nghe sự việc trước. Tôi mới bảo rằng:

– Khi ngươi lại thấy nước, hãy mở cửa vào trong nước, lấy miếng ngói ấy ra. Đồng tử vâng lời. Tôi lại nhập Định, đồng tử lại thấy nước với miếng ngói rõ ràng, bèn mở cửa lấy ra. Sau khi xuất định, thân thể tôi lại như cũ.Tôi đã gặp vô lượng Phật, như thế cho đến Đức Sơn Hải Tự Tại Thông Vương Như Lai mới được mất sạch thân, cùng với các biển hương thủy của mười phương thế giới đồng một tánh Chân Không, không hai, không khác. Nay ở nơi Đức Như Lai, được tên là Đồng Chân, dự hội Bồ Tát.

Phật hỏi về Viên Thông, tôi do quán thấy Tánh Nuớc, một vị suốt thông, đắc Vô Sanh Nhẫn, tròn đủ Bồ Đề, đó là Thứ Nhất.


Thông rằng: Mặt trăng là Thủy Tinh vậy. Tánh nước tròn sáng, nên hiệu là Nguyệt Quang. Mới đầu hết, tu tập quán về nước, quán sát tánh nước không gì ngăn ngại. Tinh huyết bên trong, biển các cõi nước bên ngoài, hình tướng của nước tuy khác, nhưng Tánh Nước không ngăn ngại. Vì chẳng ngăn ngại nhau, nên mới tựu thành pháp quán này thì chỉ thấy nước, đây là cái Định Mười Biến Xứ vậy. Nhập định thì có, xuất định thì không. Mười Biến Xứ là: Xanh, Vàng, Đỏ, Trắng, Đất, Nước, Lửa, Gió, Không, Thức. Như quán tưởng màu xanh thì tất cả chỗ đều xanh. Cái quả của định này tùy tâm biến hiện. Định Hỏa Quang cũng vậy, tuy được Định này, nhưng Căn Bản Vô Minh vẫn còn, nên chưa hết nhân duyên của bệnh, chưa mất được thân, vẫn còn Ngã Kiến, tức đó là Căn Bản Vô Minh.

Chỉ thấy là nước, hết thảy đều là nước, nên miếng ngói ném vào cũng hóa thành nước. Ngài Xá Lợi Phất nhập định ở bờ sông Hằng, bị quỷ Vi Hại đánh, khi xuất định thấy đầu đau.

Phật dạy:

– Ông mà không có Định Lực thì thân thể tan nát rồi.

Vi Hại là tên của Vua quỷ Dạ Xoa, có oán thù đời trước với Ông Xá Lợi Phất.

Phù Tràng Vương Sát, thì theo kinh Hoa Nghiêm, trong biển Hoa Tạng có một hoa sen lớn, trong hoa sen ấy có các biển Hương Thủy. Mỗi một biển Hương Thủy là chủng tử của thế giới cõi Phật. Thế giới Hoa Tạng ở trong biển Hương Thủy nên gọi là Phù Tràng Vương Sát. Mười hai lớp Hoa Tạng xếp cao như cây phướn (tràng). Cao hơn hết nên gọi là Vua (Vương).

Ngài Nguyệt Quang mới chứng Pháp Thân, mới được mất đi cái thân biến dịch, cùng với các biển Hương Thủy đồng Tánh Chân Không. Trong Như Lai Tạng, Tánh Thủy là Chân Không, Tánh Không là Chân Thủy, bản nhiên thanh tịnh, toàn khắp pháp giới, một vị suốt thông, cùng mất luôn cái tướng chẳng ngăn ngại nhau. Đây là y theo Thủy Đại mà chứng Viên Thông, gặp vô lượng Phật, mới thành tựu được. Há dễ nói sao?

Ngài Động Sơn từ giã Tổ Vân Nham. Khi sắp đi, Ngài hỏi:

– Trăm năm sau bỗng có người hỏi, Có được chút ít cái Chân Thật của thầy không?Thì trả lời thế nào?

Tổ Nham im lặng hồi lâu, nói:

– Chỉ thế đó.

Ngài Động Sơn trầm ngâm.

Tổ nói:

– Này Xà Lê Giới, nhận lãnh việc ấy, rất cần thẩm xét tinh tế.

Ngài còn nghi ngờ.

Sau này nhân đi qua giòng nước thấy bóng mình mà đại ngộ, có bài kệ rằng:

Rất kỵ nơi khác tìm,
Càng xa mình lắm lắm.
Ta nay tự mình qua,
Chốn chốn đều gặp Nó
Nó nay chính là ta,
Ta nay chẳng là Nó.
Cần phải hiểu như thế,
Mới khế hợp Như Như
.

Ngài Động Sơn đến đây mới được mất thân, tánh đồng Chân Không, không hai, không khác.

Hòa Thượng Thuyền Tử khi sắp từ giã bạn đồng học là Ngài Đạo Ngô, nói với Ngài Đạo Ngô rằng:

– Sau này có vị Tòa Chủ giảng kinh lanh lợi thì chỉ đến, nhé!

Ngài Đạo Ngô đến Kinh Khẩu, gặp lúc Ngài Giáp Sơn thượng đường có vị tăng hỏi:

– Như sao là Pháp Thân?

Ngài Giáp Sơn nói:

– Pháp Thân không có tướng.

Hỏi:

– Như sao là Pháp Nhãn?

Ngài Sơn đáp:

– Pháp Nhãn không có vết.

Đạo Ngô bất giác bật cười.

Ngài Giáp Sơn bèn xuống tòa hỏi Đạo Ngô:

– Vừa rồi đáp lại vị tăng, chắc có chỗ không đúng, khiến Thượng Tọa bật cười, mong Thượng Tọa chẳng tiếc từ bi dạy cho.

Đạo Ngô nói:

– Hòa Thượng bậc nhất ra đời mà chưa có thầy, hãy đến Hoa Đình tham học Thuyền Tử Hòa Thượng đi.

Hỏi rằng:

– Hỏi thăm có được chăng?

Đạo Ngộ nói:

– Người ấy trên thì không miếng ngói che đầu, dưới thì không chút đất để cắm dùi!

Giáp Sơn bèn thay y phục đến thẳng Hoa Đình.

Ngài Thuyền Tử vừa thấy, bèn hỏi:

– Đại Đức trụ chùa nào?

Đáp:

– Chùa tức chẳng trụ, trụ tức chẳng giống.

Hỏi:

– Chẳng giống thì chẳng giống cái gì?

Đáp:

– Chẳng phải là pháp trước mắt.

Hỏi:

– Vậy học được cái gì?

Đáp:

– Chẳng phải chỗ đến của tai mắt. Nói rằng:

– Một câu hợp đầu ngữ, muôn kiếp đóng cọc lừa. Khám phá xong rồi vậy!

Ngài Thuyền Tử lại nói:

– Thả nhợ xuống ngàn thước, ý chỉ tại đầm sâu, ngoài lưỡi câu ba tấc, sao ông không nói?

Giáp Sơn định mở miệng, Ngài liền dùng cây sào đánh rớt xuống nước. Vừa leo lên thuyền, lại hét: Nói, Nói! Giáp Sơn định mở miệng, lại đánh. Giáp Sơn bỗng nhiên đại ngộ, bèn gật đầu ba cái.

Ngài Thuyền Tử nói:

– Sợi nhợ đầu cần theo ông giỡn, chẳng phạm sóng trong ý tự riêng. Chút ít đó là nối thầy vậy.

Giáp Sơn bèn hỏi:

– Quăng nhợ, thả câu, ý thầy thế nào?

Đáp:

– Nhợ thả nước trong, nào định ý hữu vô.

Giáp Sơn nói:

– Lời mang huyền diệu mà không lộ, đầu lưỡi luận đàm mà chẳng đàm.

Ngài Thuyền Tử nói:

– Câu hết sóng trên sông, cá vảy vàng mới gặp.

Giáp Sơn bèn bịt tai. Ngài Thuyền Tử nói:

– Như thế, như thế. Quả nhiên gã Tòa Chủ lanh lợi!

Bèn phó chúc rằng:

– Ông về sau, chỗ ẩn thân cần không dấu vết, chỗ không dấu vết chớ ẩn thân. Ta hai mươi năm ở Dược Sơn chỉ rõ biết việc này. Ông nay đã được, về sau chẳng được nương dừng phố xá, xóm làng; chỉ hướng về núi sâu, bên cái bừa lớn, tìm lấy một người, nửa người, tiếp tục chớ để dứt mất.

Ngài Giáp Sơn từ giã ra đi, cứ luôn ngó trở lại.

Ngài Thuyền tử bèn gọi:

– Xà Lê, Xà Lê!

Giáp Sơn quay đầu.

Thuyền Tử dựng mái chèo lên, nói:

– Ông sắp nói là có từ biệt.

Rồi lật thuyền xuống nuớc mà lìa đời.

Sau này, ở Hoa Đình, có am chủ Tánh Không gởi thơ cho thiền sư Tuyết Đậu Trì, viết:

– Tôi sắp thủy táng đó.

Sau đó, Ngài Tuyết Đậu Trì đến nơi, thấy vị này vẫn hãy còn, bèn làm bài kệ bỡn rằng:

– Thương thay lão Tánh Không. Quyết muốn nuôi cá trạnh. Đi chẳng dẫn Tánh đi. Chỉ lo nói với người.

Ngài Tánh Không cười, rằng:

– Đợi Huynh đến chứng minh đó!

Rồi báo với đại chúng.

Đại chúng họp lại, Ngài dạy pháp yếu rồi đọc bài kệ:

Ngồi chết, đứng mất,
Chẳng bằng thủy táng!
Một, đỡ củi lửa,
Hai, đỡ đào mồ.
Buông tay là đi,
Ngại gì, khoái sướng.
Ai bạn tri âm?
Hòa Thượng Thuyền Tử!
Ai kế nghiệp quý trăm ngàn năm?
Một khúc ngư ca ít người xướng
.

Bèn ngồi trong một cái ảng, xuôi dòng trôi xuống. Chúng đều chạy theo cho đến cửa biển nhìn theo muốn mút mắt. Sư lấy cái gàu tát nước mà trở lại, chúng che mắt xem, nước không vào chút nào. Rồi Ngài lại theo dòng mà đi, xướng lên rằng:

Năm nay Thuyền Tử về cố hương,
Chốn không tung tích, diệu không lường.
Chân phong riêng gởi tri âm đó,
Tiêu sắt thổi ngang, chốn hợp tan
.

Tiếng tiêu vang vọng giữa khoảng trời xanh mênh mông trong chốc lát, rồi thấy Ngài quăng ống tiêu lên không mà mất.

Đây quả là một vị lưu thông, đắc Vô Sanh Nhẫn vậy.

Có nhà sư hỏi Tổ Vân Môn:

– Phật Pháp như bóng trăng trong nước, có thật chăng?

Tổ Môn nói:

– Sóng xanh không đường thấu đến.

Hỏi:

– Hòa Thượng từ đâu mà vào được?

Tổ Môn nói:

– Lời hỏi ấy từ đâu đến?

Hỏi:

– Chính ngay lúc ấy thì như thế nào?

Tổ Môn nói:

– Trùng điệp lối quan sơn.

Cần phải đến gặp Thuyền Tử mới được!

* * * * *


Sách (pdf file): KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG

1. GIỚI THIỆU KINH LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
2. DUYÊN KHỞI CỦA KINH
3. GẠN HỎI CÁI TÂM
4. CHẤP TÂM Ở TRONG THÂN
5. CHẤP TÂM Ở NGOÀI THÂN
6. CHẤP TÂM NÚP SAU CON MẮT
7. CHẤP TÂM HỢP VỚI CHỖ NÀO THÌ LIỀN CÓ Ở CHỖ ẤY
8. CHẤP TÂM KHÔNG DÍNH DÁNG VÀO ĐÂU TẤT CẢ
9. CẦU ĐI ĐẾN CHỖ CHÂN THẬT
10. NƯƠNG CÁI THẤY, GẠN HỎI CÁI TÂM
11. CHỈ RÕ TÍNH THẤY KHÔNG PHẢI LÀ CON MẮT
12. Ý NGHĨA CHỦ VÀ KHÁCH
13. CHỈ TÁNH THẤY KHÔNG SANH KHÔNG DIỆT
14. CHỈ CHỖ ĐIÊN ĐẢO
15. LỰA BỎ TÂM PHAN DUYÊN ĐỂ CHỈ TÁNH THẤY KHÔNG THỂ TRẢ VỀ ĐÂU
16. LỰA RIÊNG TRẦN CẢNH ĐỂ NÊU RA TÁNH THẤY
17. NGHI TÁNH THẤY HIỆN Ở TRƯỚC MẮT
18. XIN CHỈ DẠY TÁNH THẤY CHẲNG DO THẤY
19. CHỈ RÕ Ý NGHĨA TÁNH THẤY KHÔNG PHẢI LÀ CÁI THẤY, VIÊN MÃN BỒ ĐỀ
20. TÓM THU: THU SẮC ẤM – THU THỌ ẤM – THU TƯỞNG ẤM
21. TÓM THU: THU HÀNH ẤM – THU THỨC ẤM – THU SÁU NHẬP
22. THU SÁU NHẬP (TT) – THU MƯỜI HAI XỨ
23. THU MƯỜI HAI XỨ (TT) – THU MƯỜI TÁM GIỚI
24. THU MƯỜI TÁM GIỚI (TT) – THU BẢY ĐẠI
25. THU BẢY ĐẠI (TT) – ĐỐN NGỘ PHÁP THÂN VÀ PHÁT NGUYỆN
26. ÔNG MÃN TỪ TRÌNH BÀY CHỖ NGHI – VÔ MINH ĐẦU TIÊN – NGUYÊN NHÂN VỌNG THẤY CÓ THẾ GIỚI
27. NGUYÊN NHÂN VỌNG THẤY CÓ THẾ GIỚI (TT) – CHỈ RÕ GIÁC CHẲNG SANH MÊ
28. CHỈ CÁC ĐẠI CÓ THỂ TƯƠNG DUNG – CHỈ TÁNH DIỆU MINH LÀ NHƯ LAI TẠNG, RỜI CẢ HAI NGHĨA “PHI” VÀ “TỨC”
29. CHỈ MÊ VỌNG KHÔNG CÓ NHÂN, HẾT MÊ LÀ BỒ ĐỀ (TT) – LẠI PHÁ XÍCH NHÂN DUYÊN, TỰ NHIÊN
30. KHAI THỊ VỀ NGŨ TRƯỢC – XÉT RÕ GỐC RỄ PHIỀN NÃO
31. ĐÁNH CHUÔNG ĐỂ THỂ HIỆN TÍNH THƯỜNG – NƯƠNG CHỖ NGỘ MÀ TU
32. NÊU RA CÁI CĂN ĐỂ CHỈ CHỖ MÊ
33. CỘT KHĂN ĐỂ CHỈ MỐI NÚT VÀ CÁCH MỞ NÚT
34. VIÊN THÔNG VỀ THANH TRẦN – SẮC TRẦN – HƯƠNG TRẦN – VỊ TRẦN – XÚC TRẦN
35. VIÊN THÔNG VỀ PHÁP TRẦN – NHÃN CĂN – TỶ CĂN – THIỆT CĂN – THÂN CĂN
36. VIÊN THÔNG VỀ Ý CĂN – NHÃN THỨC – NHĨ THỨC




Leave a Reply