VIÊN THÔNG VỀ THANH TRẦN – SẮC TRẦN – HƯƠNG TRẦN – VỊ TRẦN – XÚC TRẦN

May 1, 15 | Tâm Duyên | 1,030 views | No Comments



Share |




KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG

Nhẫn Tế Thiền Sư

-o0o-
summer

QUYỂN V

PHẦN THỨ HAI: PHẦN CHÁNH TÔNG

CHƯƠNG II: NƯƠNG CHỖ NGỘ MÀ TU

MỤC BA: HỎI ĐẠI CHÚNG VỀ VIÊN THÔNG

Nghe MP3 (37/61): VIÊN THÔNG VỀ THANH TRẦN – SẮC TRẦN – HƯƠNG TRẦN – VỊ TRẦN – XÚC TRẦN


* * * * *



I. VIÊN THÔNG VỀ THANH TRẦN


Kinh: Nhóm Ông Kiều Trần Na năm vị Tỳ Kheo, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, thưa rằng:

– Ở Lộc Uyển và ở Kế Viên, chúng tôi được nhìn thấy Như Lai khi mới thành Đạo. Chúng tôi do Âm Thanh của Phật mà tỏ ngộ Tứ Đế. Phật hỏi trong hàng Tỳ Kheo, thì trước tiên tôi thưa là hiểu. Thế Tôn ấn chứng cho tôi tên A Nhã Đa (Hiểu), là Âm Thanh nhiệm mầu toàn vẹn. Tôi ở nơi Âm Thanh, đắc A La Hán.

Phật hỏi về Viên Thông, như chỗ tu chứng của tôi, thì Âm Thanh là trên hết.

Thông rằng: Ông Kiều Trần Na ban đầu ngộ hai chữ Khách Trần, đã được đặt tên là Giải. Ở nơi Âm Thanh của Phật tỏ ngộ pháp Tứ Đế. Đức Phật ban đầu ở vườn Lộc Uyển chuyển ba pháp luân Tứ Đế. Một là Tướng Chuyển, Hai là Khuyên Tu Chuyển và Ba là Chứng Chuyển.

Một là Tướng Chuyển: chỉ bày cái tướng trạng, đây là Khổ, đây là Khổ Tập, đây là Khổ Diệt, đây là Đạo Khổ Diệt.

Hai là Khuyên Tu: khiến nên tu, nên biết cái Khổ, nên biết Khổ Tập… nên biết Đạo.

Ba là Chứng Minh: đưa mình ra chứng minh cho chân lý ấy. Khổ ta đã biết, chẳng cần trở lại biết, cho đến Đạo ta đã tu, không cần tu lại nữa.

Tỏ ngộ Tứ Đế thì chỉ mới cởi bỏ được cái pháp sanh diệt, đó là tỏ ngộ nơi hai chữ Khách Trần, nhân đó đắc A La Hán. Há bảo rằng Âm Thanh đều là sanh diệt, mà ta chẳng sanh diệt theo sao? Âm Thanh đều là Khách Trần, mà ta chẳng phải là Khách Trần sao? Nhưng nói cái Âm Thanh nhiệm mầu, ẩn mật tròn vẹn, thì cái ẩn mật tròn vẹn ấy lại ở nơi Âm Thanh vậy. Há cho Âm Thanh là sanh diệt, mà nó là chẳng phải sanh diệt đấy chứ ! Cho Âm Thanh là Khách Trần, mà nó thật là chẳng phải Khách Trần đấy chứ! Cái ngộ này là chỉ có Ông Kiều Trần Na tự biết, đâu nói với ai được, nên mới gọi là Mật. Chỗ Chứng của ông là ở Âm Thanh, nên lấy Âm Thanh làm Viên Thông vậy.

Thiền sư Hương Nghiêm Trí Nhàn lúc ở với Tổ Bách Trượng, tâm trí thông minh, mà tham thiền chẳng được. Đến khi Tổ Bách Trượng tịch, bèn đến tham học với Tổ Quy Sơn.

Tổ Quy Sơn nói:

– Ta nghe ông ở chỗ Tiên Sư Bách Trượng, hễ hỏi một thì đáp mười, hỏi mười đáp trăm. Cái thông minh lanh lợi đó là cái ý thức vọng tưởng của căn bản sanh tử. Giờ đây, khi cha mẹ chưa sanh ra, hãy nói một câu xem!

Trí Nhàn bị hỏi, lập tức ngẩn ngơ.

Bèn trở về liêu phòng, lấy hết sách vở từng đọc qua, tìm từ đầu chí cuối một câu để trả lời mà không thể nào có. Bèn tự than rằng, Bánh vẽ chẳng làm cho hết đói! Mấy lần cầu xin Tổ Quy Sơn nói vỡ ra cho.

Tổ Sơn nói:

– Nếu ta nói cho ông, ngày sau ông sẽ chửi ta. Cái ta nói ra đó là cái của ta, nào có ăn nhằm gì đến ông!

Trí Nhàn bèn đem hết sách vở đã đọc ra đốt sạch, nói:

– Đời này chẳng có học Phật Pháp! Cứ làm hoài một ông tăng cơm cháo khỏi nhọc mệt tâm thần ư? Rồi khóc mà từ giã Tổ Quy Sơn.

Đến Nam Dương, thấy di tích của Huệ Trung Quốc Sư bèn dừng ở đó.

Một hôm đang giãy cỏ, tình cờ một miếng ngói văng chạm cây tre thành tiếng, bỗng nhiên tỉnh ngộ. Vội vàng trở vào tắm gội, hướng về núi Quy Sơn đảnh lễ, ngợi ca rằng:

– Hòa Thượng từ bi, ơn hơn cha mẹ. Lúc ấy vì tôi nói ra, thì làm sao có được chuyện ngày nay. Rồi làm bài tụng:

Một chạm, mất sở tri,
Nào còn mượn tu trì.
Động thân, bày lối cổ,
Chẳng rơi (vào) cơ lặng im.
Nơi nơi không dấu vết,
Oai nghi ngoài sắc thanh,
Mười phương người đạt Đạo.
Đều nói: Thượng Thượng căn.

Tổ Quy Sơn nghe được, bảo với Ngài Ngưỡng Sơn:

– Tay ấy thấu suốt rồi.

Ngưỡng Sơn nói:

– Đây là cái tâm cơ ý thức sách vở mà thành, để con đích thân tự khám nghiệm đã!

Rồi Ngài Ngưỡng Sơn gặp Ngài Trí Nhàn, hỏi:

– Hòa Thượng khen ngợi sư đệ phát minh được đại sự, ông hãy nói ra xem!

Ngài Trí Nhàn lại đọc bài tụng trước kia.

Ngưỡng Sơn nói:

– Đây là sự kết tụ ghi nhớ mà thành. Nếu là chánh ngộ, thử nói ra cái khác đi!

Ngài Trí Nhàn bèn tụng:

Năm xưa nghèo, chưa thật nghèo,
Năm nay nghèo, mới thật nghèo.
Năm xưa nghèo không đất cắm dùi,
Năm nay nghèo dùi cũng không có!

Ngưỡng Sơn nói:

– Như Lai Thiền thì cho là ông hiểu, còn Tổ Sư Thiền( ) thì chưa mơ màng thấy! Ngài Trí Nhàn lại tụng:

Tôi có một Cơ,
Chớp mắt thấy Nó.
Vậy bằng chẳng hiểu,
Hãy gọi Sa Di!

Ngài Ngưỡng Sơn báo lại cho Tổ Quy Sơn:

– Mừng cho Nhàn sư đệ đã hội Tổ Sư Thiền. Tổ Huyền Giác nói:

– Hãy nói xem Như Lai Thiền và Tổ Sư Thiền phân hay chẳng phân?

Tổ Trường Khánh Lăng nói:

– Cùng lúc thong dong.

Có nhà sư hỏi Hòa Thượng Diệp Huyện Tỉnh về công án, Cây Bách trước sân, của Tổ Triệu Châu.

Hòa Thượng nói:

– Ta không từ nan mà nói với ông, nhưng liệu ông có tin không?

Nhà sư nói:

– Lời của Hòa Thượng đáng kính trọng, đâu dám không tin!

Hòa Thượng nói:

– Ông có nghe tiếng giọt mưa trước mái nhà chăng?

Nhà sư hoát nhiên mở tỏ, bất giác la lên:

– Chao ôi!

Ngài bảo:

– Ông thấy đạo lý gì?

Nhà sư dùng kệ đáp:

Giọt mưa đầu mái,
Rõ ràng rành rẽ!
Phá nát Càn Khôn.
Ngay đó tâm dứt.

Như chỗ chứng của Ngài Trí Nhàn và nhà sư trên đây, cũng lấy Âm Thanh là hơn hết vậy.

* * * * *



II. VIÊN THÔNG VỀ SẮC TRẦN


Kinh: Ông Ưu Ba Ni Sa Đà liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, thưa rằng:

– Tôi cũng được thấy Phật trong lúc mới thành Đạo. Tôi quán Tướng Bất Tịnh, sanh lòng nhàm chán lìa bỏ rốt ráo, ngộ tánh của các Sắc, từ Tướng Bất Tịnh đến Tướng Xương Trắng và vi trần, chung cuộc về hư không, cả hai, Không và Sắc, đều Không, thành Đạo Vô Học. Đức Như Lai ấn chứng cho tôi cái tên Ni Sa Đà (Trần Tánh Không). Cái Sắc Tướng của Trần đã hết, thì Sắc nhiệm mầu toàn vẹn. Tôi do Sắc Tướng mà đắc A La Hán.

Phật hỏi về Viên Thông, như chỗ chứng của tôi, thì Sắc Trần hơn cả.

Thông rằng: Ông Ưu Ba Ni Sa Đà ham Sắc Trần nên Phật dạy dùng Quán Bất Tịnh để đối trị. Cái Sắc tuy là dễ ưa nhưng vì bất tịnh mà có thể sanh nhàm chán tột bậc, huống gì là các Tướng Xương Trắng, vi trần sau khi chết đi.

Một là sình chướng; hai là máu mủ hôi thối; ba là đổi sắc; bốn là bầm xanh; năm là giòi bọ đục khoét, rã rời; bảy là trơ xương; tám là thiêu đốt; chín là tất cả thế gian không giữ được. Đó là chín Pháp Quán Tưởng. Khi chín Pháp Quán này thành tựu, Sắc Tánh rốt ráo quy về Không. Không mà không có chỗ Không, thế là Sắc và Không đều Không, đắc Trí Huệ Giải Thoát, thành Đạo Vô Học. Cái Sắc Trần đã hết sạch, thì cái Sắc mầu nhiệm ẩn mật vẹn toàn. Há lìa ngoài Sắc Trần mà riêng có cái gọi là Diệu Sắc sao? Há không cái Sắc Tướng mà cho cái năng không ấy là Diệu Sắc ư? Há Sắc Tướng có sanh diệt, còn Sắc Tánh không sanh diệt mà cho là Diệu Sắc ư? Phải chăng tâm không tham trước, thì tất cả Sắc đều là Diệu Sắc?

Chỗ Ngộ này của Ông Ni Sa Đà thật khó lấy lời lẽ mà thuật bày, chỉ có thể gọi là Diệu, là Mật, là Viên thôi vậy.

Xưa, có bảy hiền nữ đi chơi trong rừng, nơi bỏ thây ma.

Một cô chỉ xác chết nói:

– Thây thì ở đó, người ở chốn nào?

Một cô nói:

– Sao? Sao?

Các cô quán kỹ, mỗi người đều khế ngộ. Cảm đến Trời Đế Thích rãi hoa và nói:

– Nguyện các chị Thần Nữ cần dùng cái chi, tôi sẽ suốt đời cung cấp.

Các cô nói:

– Chúng tôi thì tứ sự và bảy báu đều có đủ, chỉ cần ba vật. Thứ nhất là cần một cây không rễ. Thứ hai là một mảnh đất không có âm dương. Thứ ba là một hang núi kêu không dội tiếng.

Đế Thích nói:

– Hết thảy món cần dùng, tôi đều có. Còn ba vật ấy tôi thật không thể có.

Các cô nói:

– Nếu Ngài không có các thứ ấy, thì làm sao giúp người?

Đế Thích ngỡ ngàng, bèn cùng các cô đến thưa với Phật. Phật nói:

– Này Kiền Thi Ca, các đệ tử Đại A La Hán của ta chẳng hiểu được nghĩa ấy. Chỉ có các Đại Bồ Tát mới hiểu nghĩa ấy.

Đây cũng là Quán Tướng Bất Tịnh mà chứng vậy.

Lại như Ngài Linh Vân nhân thấy hoa đào mà ngộ Đạo, bèn có bài tụng:

Ba chục năm nay tìm kiếm khách,
Bao lần lá rụng lại đâm cành.
Từ lần thấy được đào hoa đó,
Đến mãi ngày nay chẳng muốn nghi.

Trình chỗ ngộ với Tổ Quy Sơn.

Tổ dạy:

– Theo duyên mà nhập, vĩnh viễn chẳng lui sụt mất mát, ông hãy khéo hộ trì.

Ngài Huyền Sa nói:

– Đích đáng thì thật đích đáng, nhưng dám chắc Lão Huynh chưa thấu suốt trong đó!

Ngài Linh Vân nói:

– Sư Huynh suốt được chưa?

Ngài Giác Phạm tụng rằng:

Người thấy một lần không thấy lại,
Cành cành trắng đỏ, thấy đâu hoa.
Chẳng chịu khách trên thuyền câu cá,
Hóa ra trên đất cứu ngư, sò.

Ngài Đầu Tử tụng rằng:

Trước núi đào sanh, vườn cũ xuân,
Hoa ngập cành hồng, tỉnh lại thân.
Chỗ chứng, thôi ông đừng phụ lực,
Vẻ cười tuy mở, ý sanh sân.
Khói tỏa liễu xanh, oanh thả giọng
Mưa xoi nham thạch, dựa xóm không
Mặt trời lố dạng, không tin tức
Ngựa gỗ hý vang quá Hán, Tần.

Theo chỗ thấy của Ngài Linh Vân, cũng lấy Sắc làm tột bực

* * * * *



III. VIÊN THÔNG VỀ HƯƠNG TRẦN


Kinh: Ông Hương Nghiêm đồng tử liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, bạch rằng:

– Tôi nghe Như Lai dạy tôi quán sát chân chánh các tướng hữu vi. Khi ấy tôi từ giã Phật, đầu hôm về tĩnh tọa trong nhà thanh trai, thấy các vị Tỳ Kheo đốt hương trầm thủy, hơi hương vắng lặng bay vào trong mũi tôi. Tôi quán hơi hương ấy, chẳng phải là cây, chẳng phải là không, chẳng phải khói, chẳng phải lửa, bay đi không dính vào đâu, bay đến không từ nơi đâu. Do đó mà cái ý tiêu tan, phát minh Vô Lậu. Như Lai ấn chứng cho tôi cái hiệu là Hương Nghiêm. Cái Hương Trần vừa diệt, thì cái Diệu Hương bí nhiệm toàn vẹn. Tôi do cái hương trang nghiêm ấy đắc A La Hán.

Phật hỏi về Viên Thông, như chỗ chứng của tôi, thì Hương Trần là hơn cả.

Thông rằng: Phàm là có Tướng, thảy đều hư vọng. Thấy các Tướng chẳng phải Tướng, đó là thấy Như Lai. Như Lai ấy, là nghĩa Như của tất cả các pháp. Đến không từ đâu, đi không về đâu, thì gọi là Như Lai. Đó là ý chỉ của Kinh Kim Cang Bát Nhã.

Ông Hương Nghiêm được nghe lời dạy này, hằng tự đế quán. Tình cờ gặp mùi hương, bèn đấy phát minh: Hương này là vắng lặng, vào trong mũi tôi, chẳng phải khói, chẳng phải lửa, chẳng phải cây, chẳng phải không, chẳng phải tự tướng, chẳng phải tha tướng, chẳng phải cọng tướng, chẳng phải vô nhân tướng, bay đi không dính vào đâu, bay đến không từ nơi đâu, vốn tự vô sanh. Cái thấy này chính là cái thấy: Các Tướng chẳng phải Tướng, liền thấy Như Lai. Thế nên đắc Vô Lậu.

Phàm phu chẳng được Vô Lậu vì Ý Căn chưa tiêu vậy. Ý Căn mà chưa tiêu nên bám lấy Hữu Vi. Một khi bám lấy Hữu Vi, liền lọt vào sanh diệt. Ý Căn tiêu liền chứng Vô Vi. Vô Vi là không sanh diệt. Thế nên Hương Trần thì chợt sanh chợt diệt, mà cái Diệu Hương kia thì nào có chuyện diệt sanh. Chỗ tỏ ngộ của Ông Hương Nghiêm thì cả thảy phân giải đều chẳng được. Thế nên nói là Mật, là Viên, chỉ có tự chứng biết thôi vậy.

Xưa, Thái Sử Hoàng Sơn Cốc nhân bởi Ngài Viên Thông Tú phấn khích nên đến chỗ Tổ Hối Đường xin chỉ chỗ : Nhậm lẹ.

Tổ Hối Đường nói:

– Như Đức Khổng Tử nói, Các ngươi cho ta là che giấu ư? Ta không có chỗ nào giấu giếm! Thế thì Thái Sử lý luận làm sao?

Thái Sử định đáp, Tổ Đường liền nói:

– Chẳng phải, chẳng phải.

Thái Sử mờ mịt chẳng cùng.

Một hôm, cùng Tổ Hối Đường đang đi dạo núi, khi ấy cây nham quế nở thơm đầy.

Tổ nói:

– Có nghe thấy hương hoa nham quế không?

Ông đáp:

– Dạ, có.

Tổ nói:

– Ta không có chỗ nào giấu giếm vậy.

Thái Sử tiêu tan nghi ngờ, làm lễ mà thưa:

– Hòa Thượng, tâm lão bà từ bi quá tha thiết!

Tổ cười đáp:

– Chỉ mong ông đến được nhà thôi.

Lại có vị ni sư ngộ Đạo làm bài kệ:

Suốt buổi tìm Xuân chẳng thấy Xuân,
Giày rơm dẫm khắp mấy non mây.
Về đây cười nắm hoa mai ngửi,
Xuân ở đầu cành đã trọn phần
.

Chỗ chứng của vị ni sư này và Ông Sơn Cốc cũng lấy Diệu Hương là hơn cả.

* * * * *



IV. VIÊN THÔNG VỀ VỊ TRẦN


Kinh: Hai vị Pháp Vương Tử Dược Vương, Dược Thượng cùng với năm trăm vị Phạm Thiên trong hội, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, thưa rằng:

– Từ vô thủy lâu xa, chúng tôi làm thầy thuốc cho đời, trong miệng thường nếm cỏ cây, kim thạch của thế giới Ta Bà này, số mục lên đến mười vạn tám ngàn, như thế biết tất cả các vị đắng, chua, mặn, lạt, ngọt, cay… cùng các vị biến đổi do các vị kia hòa hợp mà sanh ra, nào lạnh, nào nóng, có độc hay không độc đều biết khắp cả. Được thừa sự các Đức Như Lai, rõ biết tánh của Vị Trần, chẳng phải không, chẳng phải có, chẳng phải tức là thân tâm, chẳng phải lìa thân tâm. Do phân biệt được tánh của mùi vị, do đó mà khai ngộ. Được Phật Như Lai ấn chứng cho anh em chúng tôi danh hiệu là Dược Vương, Dược Thượng Bồ Tát, nay ở trong hội này làm Pháp Vương Tử. Chúng tôi nhân Vị Trần mà giác tỏ, lên bậc Bồ Tát.

Phật hỏi về Viên Thông, như chỗ chứng của chúng tôi, thì do Vị Trần là hơn cả.

Thông rằng: Từ vô thủy kiếp đến nay làm thầy thuốc cho đời, chỉ có thể biết các Vị, đủ để trị bệnh mà thôi. Đến khi phụng sự Như Lai mới biết Tánh của mùi vị, không hay có, đều chẳng phải, không phải Tức, không phải Lìa. Phàm đều chẳng phải không hay có, chẳng Tức chẳng Lìa, đó là cái thể vốn như thế của Tâm Mầu Nhiệm tròn sáng trong Như Lai Tạng vậy. Do Vị Trần mà khai ngộ, giác tỏ Tự Tánh, nên vào địa vị Bồ Tát. Chỗ gọi là Giác đó, nghĩa là trong Như Lai Tạng, Tánh của vị là Chân Không, Tánh Không là Chân Vị, thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới. Tức Vị là Giác, tức Giác là Vị, cái ngộ này thật khó nói cho người vậy.

Ngài Đại Ngu từ giã Tổ Quy Tông. Tổ hỏi:

– Đi đến chỗ nào?

Đáp:

– Đi các nơi học Ngũ Vị Thiền.

Tổ Quy Tông nói:

– Các nơi có Ngũ Vị Thiền, ta trong ấy chỉ có một Vị.

Hỏi:

– Thế nào là Một Vị Thiền?

Tổ bèn đánh. Ngài Đại Ngu nói:

– Hiểu vậy, hiểu vậy!

Tổ nói:

– Nói đi, nói đi!

Ngài Đại Ngu định mở lời, Tổ lại đánh.

Sau, có nhà sư đến Tổ Hoàng Bá kể lại chuyện trên.

Tổ thượng đường nói:

– Đại sư Mã Tổ có được tám mươi bốn vị Thiện Trí Thức, vậy mà hỏi ai nấy cái chỗ đại tiện đầy đất, thì chỉ có Quy Tông là được chút ít.

Chỉ có Tổ Hoàng Bá tỏ biết sâu xa cái Thiền Một Vị nên cùng Tổ Quy Tông thấy mặt nhau. Sau này, Tổ Hoàng Bá dùng cái cơ Thiền này để bắt Lâm Tế. Ngài Tế không khế ngộ được, bèn chỉ sang Tổ Đại Ngu. Gặp Tổ Đại Ngu, Lâm Tế kể lại nhân duyên ba lần bị đánh cho.

Tổ Ngu nói:

– Hoàng Bá giúp ông trừ hết nỗi khốn khó, lại ở trong ấy mà hỏi có lỗi với không lỗi.

Ngài Lâm Tế ngay nơi lời nói đại ngộ, bèn nói:

– Té ra Phật Pháp của Hoàng Bá cũng chẳng có gì!

Tổ Ngu nắm đứng lại hỏi:

– Nói mau, nói mau!

Ngài Lâm Tế thoi ba thoi vào sườn Tổ Đại Ngu.

Tổ thả ra, nói:

– Thầy ông là Hoàng Bá, chẳng can dự gì đến ta.

Tổ Ngu vừa muốn thi triển cái gia phong của Quy Tông, thì đã bị Lâm Tế đoạt mất, thế mới biết chỗ thấy của Lâm Tế vượt trước một bậc vậy.

Thiền sư Long Hưng Pháp Cư đã lớn tuổi mới gặp Tổ Hoàng Long và được ấn khả.

Ngài thượng đường nói:

– Việc này cũng như thầy thuốc xem bệnh, hiện thời vả chăng tạp độc đầy bụng chưa dễ chữa trị. Vậy phải cho thuốc để chữa sự chóng mặt tối tăm do bệnh gây ra, rồi sau mới hết được. Còn cứ theo ý mình mà uống thuốc, thì chỉ thêm cuồng loạn, tăng thêm nặng mà thôi. Thế mà mong hết bệnh chẳng phải là lầm ư? Cỏ trước pháp đường đã mọc dày, mà trong lòng không hổ thẹn!

Ở nơi các tắc trên mà thông hội được, thì chẳng những biết được mùi vị ấy, mà còn có thể trị bệnh cho người.

* * * * *



V. VIÊN THÔNG VỀ XÚC TRẦN


Kinh: Ông Bạt Đà Bà La cùng mười sáu vị Khai Sĩ đồng bạn liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, bạch rằng:

– Xưa kia, chúng tôi ở nơi Đức Phật Oai Âm Vương, nghe pháp mà xuất gia. Vào giờ tắm của các tăng, tôi theo thứ lớp vào phòng tắm, bỗng ngộ được Tánh Nước. Đã chẳng rửa bụi, cũng chẳng rửa thân, khoảng giữa an nhiên, đắc Vô Sở Hữu. Chỗ học xưa không quên, cho đến ngày nay theo Phật xuất gia, được quả Vô Học. Đức Phật xưa ấy gọi tôi tên là Bạt Đà Bà La. Cái Diệu Xúc khai mở rõ ràng, thành bậc Phật Tử Trụ.

Phật hỏi về Viên Thông, theo như chỗ chứng của tôi, thì do Xúc Trần là hơn cả.

Thông rằng: Ngài Tuyết Đậu nêu ra việc xưa rằng, có mười sáu vị Khai Sĩ gặp giờ các tăng tắm, theo thứ tự vào phòng tắm, bỗng ngộ tánh nước. Các vị Thiền Đức hiểu làm sao? Các vị ấy nói:

– Cái Diệu Xúc khai mở rõ ràng, thành bậc Phật Tử Trụ. Cũng cần xuyên thủng bảy lỗ tám hang mới được. Tụng rằng:

Xong việc ông tăng thật rảnh rang,
Trên giường thẳng cẳng duỗi chân nằm.
Trong mộng từng thuyết Viên Thông Ngộ,
Rửa nước thơm xong, nhè mặt khạc
.

Cái này đã thành công án, về sau các vị Lão Túc cùng nó phát minh rất nhiều.

Thiều Quốc Sư ban đầu ra mắt Tổ Long Nha, hỏi rằng:

– Trời không che, đất không chở, lý ấy thế nào?

Đáp:

– Đạo thì hợp như thế. Phàm trải qua mười bảy lần thưa hỏi, Tổ chỉ đáp như vậy. Ngài lại xin dạy bảo, Tổ nói:

– Đạo ấy về sau ông tự hiểu.

Về sau, ở núi Thông Huyền, Ngài Thiều đang tắm, bỗng tỉnh ngộ chuyện trước, bèn đầy đủ oai nghi, hướng về chỗ Tổ Long Nha làm lễ, rồi nói:

– Lúc ấy mà nói cho tôi, thì hôm nay nhất định phải bị mắng.

Sau, Ngài đến tham học Tổ Pháp Nhãn.

Có nhà sư hỏi Tổ Pháp Nhãn:

– Như thế nào là một giọt nước Tào Khê?

Tổ Nhãn nói:

– Là Tào Khê một giọt nước.

Nhà sư ngơ ngẩn lui ra.

Ngài đang ngồi một bên hoát nhiên khai ngộ, cái nghi vướng bấy lâu như băng tan rã. Đến đây mới được suốt bảy lỗ, tám hang.

Ngài làm bài kệ:

Thông Huyền chót đảnh,
Chẳng phải nhân gian.
Ngoài Tâm không Pháp,
Ngập mắt núi xanh
.

Tổ Pháp Nhãn nghe qua, nói rằng:

– Một bài kệ này, khá khởi lên Tông của ta.

Hòa Thượng Thạch Thê nhân có thị giả mời đi tắm, bèn hỏi:

– Đã chẳng rửa bụi, cũng chẳng rửa thân, ông làm thế nào? Thị giả đáp:

– Hòa Thượng đi trước, rồi tôi đem thuốc tạo giác lại sau.

Hòa Thượng cười ha hả, cơ hồ bị thị giả một phen nhổ nước miếng qua mặt! Có nhà sư hỏi thiền sư Thiên U Cái:

– Có một cái Viện tên là Vô Cấu Tịnh Quang Thiền Viện, sửa thành nhà tắm.

Có người hỏi:

– Đã là Vô Cấu Tịnh Quang, vì sao lại làm nhà tắm? Tôi không đáp được. Ngài Thiên Cái đáp thay rằng:

Ba Thu đêm trăng sáng,
Việc gì lại họp nhau.
Ngài Đơn Hà lại tụng rằng:
Tuy là đáp tận ý sâu xa,
Khổ nỗi đem ra chẳng được gần.
Muốn hiểu Xưa Nay Vô Cấu ấy,
Phải vào trong nước gặp trưởng nhân
.

Con gái của Ông Long Đồ Phạm Tuân, từng được Tổ Tử Tâm ấn khả ở Kim Lăng, lập ra một nhà tắm, nơi cửa yết tấm bảng rằng:

– Một vật cũng không, tẩy rửa cái gì? Mảy bụi nếu có, khởi từ đâu lại? Nói được một câu cho ra nghĩa lý, mới được vào nhà này mà tắm.

Cổ Linh chỉ mới biết lau lưng! Khai Sĩ nào từng rõ Tánh! Muốn chứng Ly Cấu Địa, thì phải suốt thân chẳng nhiễm. Hết thảy đều bảo nước để rửa sạch cái dơ, nào hay nước cũng là trần (bụi). Dầu cho cả nước và dơ chóng trừ, đến đây cũng cần rửa sạch hết!

Sau này cô xuất gia làm ni cô tên là Duy Cửu.

Các vị tôn túc trong mộng nói mộng, mỗi mỗi chỉ ra cái Diệu Xúc Rõ Bày, có thể cùng mười sáu vị Khai Sĩ cùng tham.

* * * * *


Sách (pdf file): KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG

1. GIỚI THIỆU KINH LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
2. DUYÊN KHỞI CỦA KINH
3. GẠN HỎI CÁI TÂM
4. CHẤP TÂM Ở TRONG THÂN
5. CHẤP TÂM Ở NGOÀI THÂN
6. CHẤP TÂM NÚP SAU CON MẮT
7. CHẤP TÂM HỢP VỚI CHỖ NÀO THÌ LIỀN CÓ Ở CHỖ ẤY
8. CHẤP TÂM KHÔNG DÍNH DÁNG VÀO ĐÂU TẤT CẢ
9. CẦU ĐI ĐẾN CHỖ CHÂN THẬT
10. NƯƠNG CÁI THẤY, GẠN HỎI CÁI TÂM
11. CHỈ RÕ TÍNH THẤY KHÔNG PHẢI LÀ CON MẮT
12. Ý NGHĨA CHỦ VÀ KHÁCH
13. CHỈ TÁNH THẤY KHÔNG SANH KHÔNG DIỆT
14. CHỈ CHỖ ĐIÊN ĐẢO
15. LỰA BỎ TÂM PHAN DUYÊN ĐỂ CHỈ TÁNH THẤY KHÔNG THỂ TRẢ VỀ ĐÂU
16. LỰA RIÊNG TRẦN CẢNH ĐỂ NÊU RA TÁNH THẤY
17. NGHI TÁNH THẤY HIỆN Ở TRƯỚC MẮT
18. XIN CHỈ DẠY TÁNH THẤY CHẲNG DO THẤY
19. CHỈ RÕ Ý NGHĨA TÁNH THẤY KHÔNG PHẢI LÀ CÁI THẤY, VIÊN MÃN BỒ ĐỀ
20. TÓM THU: THU SẮC ẤM – THU THỌ ẤM – THU TƯỞNG ẤM
21. TÓM THU: THU HÀNH ẤM – THU THỨC ẤM – THU SÁU NHẬP
22. THU SÁU NHẬP (TT) – THU MƯỜI HAI XỨ
23. THU MƯỜI HAI XỨ (TT) – THU MƯỜI TÁM GIỚI
24. THU MƯỜI TÁM GIỚI (TT) – THU BẢY ĐẠI
25. THU BẢY ĐẠI (TT) – ĐỐN NGỘ PHÁP THÂN VÀ PHÁT NGUYỆN
26. ÔNG MÃN TỪ TRÌNH BÀY CHỖ NGHI – VÔ MINH ĐẦU TIÊN – NGUYÊN NHÂN VỌNG THẤY CÓ THẾ GIỚI
27. NGUYÊN NHÂN VỌNG THẤY CÓ THẾ GIỚI (TT) – CHỈ RÕ GIÁC CHẲNG SANH MÊ
28. CHỈ CÁC ĐẠI CÓ THỂ TƯƠNG DUNG – CHỈ TÁNH DIỆU MINH LÀ NHƯ LAI TẠNG, RỜI CẢ HAI NGHĨA “PHI” VÀ “TỨC”
29. CHỈ MÊ VỌNG KHÔNG CÓ NHÂN, HẾT MÊ LÀ BỒ ĐỀ (TT) – LẠI PHÁ XÍCH NHÂN DUYÊN, TỰ NHIÊN
30. KHAI THỊ VỀ NGŨ TRƯỢC – XÉT RÕ GỐC RỄ PHIỀN NÃO
31. ĐÁNH CHUÔNG ĐỂ THỂ HIỆN TÍNH THƯỜNG – NƯƠNG CHỖ NGỘ MÀ TU
32. NÊU RA CÁI CĂN ĐỂ CHỈ CHỖ MÊ




Leave a Reply