CHỈ MÊ VỌNG KHÔNG CÓ NHÂN, HẾT MÊ LÀ BỒ ĐỀ (TT) – LẠI PHÁ XÍCH NHÂN DUYÊN, TỰ NHIÊN

Apr 3, 15 | Tâm Duyên | 1,092 views | No Comments



Share |




KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG

Nhẫn Tế Thiền Sư

-o0o-

QUYỂN IV

tulips

PHẦN THỨ HAI: PHẦN CHÁNH TÔNG

CHƯƠNG I: CHỈ BÀY CHÂN TÂM

MỤC TÁM: CHỈ RÕ CĂN NGUYÊN HƯ VỌNG VÀ TÁNH GIÁC TOÀN VẸN

Nghe MP3 (32/61): CHỈ MÊ VỌNG KHÔNG CÓ NHÂN, HẾT MÊ LÀ BỒ ĐỀ (TT) – LẠI PHÁ XÍCH NHÂN DUYÊN, TỰ NHIÊN


* * * * *



VII: CHỈ MÊ VỌNG KHÔNG CÓ NHÂN, HẾT MÊ LÀ BỒ ĐỀ (TT)


Kinh: “Ví Như có người ở trong áo mình buộc một hạt Châu NhưÝ Mà không hay biết; nên phải xin ăn lưu lạc phương xa, nghèo Nàn gầy ốm. Tuy bần cùng hết sức nhưng hạt châu không Hề mất. Bỗng dưng có người Trí chỉ bày cho hạt châu, Liền muốn gì có nấy, thành giàu có lớn, mới hay hạt Thần Châu chẳng phải do ở ngoài mà được.

Thông rằng: Kinh Pháp Hoa, kinh Lăng Nghiêm chỉ thẳng tâm người, thấy Tánh thành Phật đều lấy hạt châu trong áo làm ví dụ. Như Lai Tạng Tánh, bị năm Ấm che đậy, như hạt châu buộc trong áo, nên không dễ thấy được. Hướng ra ngoài chạy kiếm Thì mỗi ngày đều thấy chẳng đủ, nghèo ốm ở phương Xa, chạy cuồng chín cõi. Cầu cái vui của trời, người, giữ Riêng cái lợi ích nhỏ nhen, thì cũng còn là rong ruổi ăn Xin. Còn như được Bổn Tâm, thì đầy đủ dư dật. Hạt Châu tên Như Ý, muốn gì được nấy. Nào ngờ tự tánh Vốn tự saun đủ! Nào ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp (Lục Tổ khi ngộ đạo)! Nên diệu dụng chẳng hề thiếu Hụt, thành giàu có vô biên. Một hạt Thần Châu này, mê cũng Chưa từng mất, ngộ cũng chẳng từng được. Chỉ được Người Trí chỉ cho, bèn tự thọ dụng không cùng, nào mượn Chỗ tu chứng ư?

Một hôm, Đức Thế Tôn đưa ra một viên ngọc ma ni tùy sắc, rồi hỏi Các vị Thiên Vương của năm phương rằng : “Viên ngọc này Màu gì?”

Các vị Thiên Vương mỗi người nói mỗi màu khác nhau. Thế Tôn cất viên Ngọc vào tay áo, rồi đưa tay lên hỏi: “Viên ngọc này có Màu gì?”

Các vị Thiên Vương thưa: “Trong tay Phật không có châu, lấy chỗ nào có Màu?”

Đức Thế Tôn than rằng: “Các ông sao mê mờ điên đảo lắm thế ! Ta lấy hạt châu của thế gian đưa ra thì mỗi ông đều tranh Nhau nói màu xanh, vàng, trắng, đỏ… Còn ta đưa hạt châu Thật ra chỉ cho, lại rốt cuộc chẳng hay biết!”

Khi ấy, các Vị Thiên Vương năm phương đều ngộ đạo. Ngài Đại Châu, ban đầu ra mắt Đức Mã Tổ. Tổ hỏi: “Từ đâu đến?” Đáp rằng: “Ở chùa Đại Vân tại Việt Châu đến.” Tổ nói: “Đến đây định có chuyện gì?” Đáp: “Thưa, Đến cầu Phật Pháp.” Tổ đáp: “Kho báu nhà mình thì chẳng đoái hoài, bỏ nhà chạy rông Làm chi? Ta, trong ấy một vật cũng không, ông cầu Phật Pháp Nào?”

Ngài bèn Làm lễ rồi hỏi: “Cái gì là kho báu nhà mình của Huệ Hải (Đại Châu)?”

Đức Mã Tổ nói: “Tức nay đang hỏi ta là cái đó. Kho báu của ông, Hết thảy hiện thành, tuyệt không thiếu hụt, liền dùng Tự tại, nào phải hướng ngoài tìm kiếm.”

Ngài Đại Châu ngay dưới lời nói tự rõ Bổn Tâm, chẳng do hiểu biết, Vui mừng lễ tạ, hầu Tổ trong sáu năm. Về sau, viết cuốn “Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn Luận.” Tổ xem rồi bảo với Đại chúng: “Ở Việt Châu có viên ngọc lớn (Đại Châu), Tròn sáng trong suốt, tự tại không gì ngăn ngại.”

Ngài Ngưỡng Sơn tham lễ thiền sư Đông Tự Hội.

Thiền sư Hỏi: “Ông là người xứ nào?”

Ngài Ngưỡng Đáp: “Người Quảng Nam.”

Thiền sư Hội nói: “Tôi nghe ở Quảng Nam có viên minh châu trấn biển, Có đúng không?”

Ngài Ngưỡng Đáp: “Thưa, phải.”

Tổ Hội Nói: “Châu ấy như thế nào?”

Ngài Ngưỡng Nói: “Không trăng thì ẩn, có trăng thì hiện.”

Tổ Hội: “Có đem đến được không?”

Ngài Ngưỡng: “Đem đến được.”

Tổ Hội: “Sao chẳng trình ra với lão tăng?”

Ngài Ngưỡng Sơn khoanh tay bước tới, nói: “Hôm qua đến Qui Sơn cũng bị Đòi hạt châu ấy ! Ngay ấy không có lời để đối đáp, Chẳng có lý lẽ nào để đưa ra!”

Tổ Hội Nói: “Thật là sư tử con khéo hay gầm rống!”

Trăm, ngàn Năm về sau, nhờ có các vị tôn túc hộ trì được hạt thần Châu, chẳng do ngoài mà được, thì càng tin lời Phật chẳng Có sai lầm.

* * * * *



VIII. LẠI PHÁ XÍCH NHÂN DUYÊN, TỰ NHIÊN


A. XƯA NAY KHÔNG VỌNG


Kinh: Khi ấy Ông Anan ở trong đại chúng, đảnh lễ chân Phật rồi Đứng dậy thưa rằng: “Đức Thế Tôn hiện nói về các nghiệp Sát, Đạo, Dâm. Ba Duyên đã đoạn, nên ba Nhân chẳng sanh. Tánh điên trong tâm chàng Nhã Đa tự hết, hết tức là Bồ Đề, chẳng từ ai mà được. Đây là nhân duyên rồi, thật Là rõ ràng, tại sao Như Lai lại bỏ đi nghĩa Nhân Duyên? Chính Tôi từ Nhân Duyên mà tâm được khai ngộ.

“Bạch Thế Tôn! Nghĩa ấy đâu chỉ đối với hàng Thanh Văn Hữu Học Tuổi nhỏ như chúng tôi, mà nay trong hội này, Ông Đại Mục Kiền Liên, cùng Xá Lợi Phất, Tu Bồ Đề đều từ Ông lão Phạm Chí nghe được lý nhân duyên của Phật mà phát tâm Khai ngộ, được thành vô lậu. Nay nhờ Phật dạy rằng Bồ Đề chẳng do Nhân Duyên, thì các thuyết Tự Nhiên của nhóm Câu Xá Ly thành Vương Xá lại thành Đệ Nhất Nghĩa! Xin Phật Rủ lòng từ bi, khai mở cho sự mê lầm.”

Thông rằng: Đức Thế Tôn dạy: “Ba Duyên dứt lìa, nên ba Nhân chẳng Sanh,” chính là dạy nhóm Ông Phú Lâu Na chẳng tùy theo phân Biệt các pháp ba thứ nhân duyên đoạn diệt nối nhau, thì Tánh cuồng điên tự hết, Bồ Đề hiện tiền. Đó là Đức Phật chẳng muốn họ lấy cái Tâm Sanh Diệt mà hợp với Như Lai Tạng, riêng mở ra một pháp môn Đốn Ngộ. Nghĩa là Lấy sự đoạn trừ Nhân Duyên mà được cái bất sanh bất Diệt còn chẳng cho phép thay, huống là lại có Nhân Duyên Sao?

Ông Anan, Một bề đa văn, quen theo cái biết Nhân Duyên và Tự Nhiên Phá hoại lẫn nhau, rồi hiểu lầm rằng ba Duyên đoạn dứt, Ba Nhân chẳng sanh, nghĩa là theo trong Tiểu Thừa, ba nghiệp Sát, Đạo, Dâm chẳng có duyên theo thì ba nhân Tham, Sân, Si Chẳng sanh ra. Nếu có nhân duyên thì có đối đãi, rõ ràng Thế kia, sao có thể nói là không có Nhân Duyên? Ngay như Ông Đại Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất gặp được Tỳ kheo Mã Thắng dạy cho “Các Pháp theo nhân duyên mà sanh, các pháp theo Nhân duyên mà diệt,” ngay dưới lời nói chứng Sơ Quả, thế Là do Nhân Duyên mà khai ngộ. Các Trưởng Lão cũng đều như Thế. Nay Phật bỏ lý Nhân Duyên, thì hóa ra nhóm Mạt Già Lê, Câu Xá Ly nói rằng “Chúng sanh tuy có sướng khổ, nhưng Không có Nhân Duyên, chỉ Tự Nhiên như vậy thôi,” thì có gì khác đâu? Há chẳng biết rằng nghe lý Nhân Duyên của Phật, được thành Vô Lậu, thì chỗ nói “Theo duyên mà sanh, Theo duyên mà diệt” là đã ngộ thấy cái yếu chỉ Vô Sanh. Cái sanh diệt kia, đều là Duyên đó vậy, cho nên, đắc Vô Lậu, há lại vướng mắc ở Nhân Duyên ư?

Thị giả Hội Thông của Tổ Ô Sào một ngày kia muốn từ giã mà đi.

Tổ Sào nói: “Nay ông đi đâu?”

Đáp: “Hội Thông này vì Pháp mà xuất gia, Hòa Thượng chẳng rủ lòng Từ dạy bảo, nên nay đi các nơi để học Phật Pháp.”

Tổ Sào nói: “Nếu là Phật Pháp thì ở đây ta cũng có chút ít.”

Hỏi: “Như Thế nào là Phật Pháp của Hòa Thượng?”

Tổ Ô Sào Liền rút ra một sợi lông bố, đưa lên mà thổi.

Thầy Hội Thông bèn lãnh ngộ.

Ngài Phần Dương tụng rằng:

Sơ tâm Thị giả mộ thắng duyên

Biệt thầy Định trải học tham thiền

Ô Sào Biết đấy, cơ duyên đến

Thổi lông, Ngay đó được tâm an.”

Như cái cơ Duyên này, há cũng nói là Nhân Duyên ư!


Kinh: Phật Bảo Ông Anan: “Như Anh Diễn Nhã Đạt Đa ở trong thành, cái Nhân duyên tánh cuồng mà diệt trừ được, thì cái tánh không Cuồng tự nhiên hiện ra. Các lý lẽ Nhân Duyên, Tự Nhiên Rốt cuộc chỉ là như vậy.

“Anan, Anh Diễn Nhã Đạt Đa cái đầu vốn là tự nhiên, vốn tự như Thế, có khi nào mà không tự nhiên đâu, thì vì nhân duyên Gì mà sợ cái đầu để phát điên cuồng bỏ chạy? Nếu Cái đầu là tự nhiên, vì nhân duyên mà điên thì sao không Cứ tự nhiên, vì nhân duyên mà mất ? Cái đầu vốn không Mất, mà sự điên cuồng sợ hãi vọng có ra, chứ nào có Bao giờ thay đổi gì, thì nào phải cần đến nhân duyên. Nếu tính điên vốn là tự nhiên, vốn có saun sự điên rồ Sợ hãi như vậy, thì khi chưa điên, cái điên ấy núp trốn Chỗ nào ? Nếu tính không điên là tự nhiên, thì cái đầu Cũng vẫn tự nhiên, sao lại điên cuồng bỏ chạy ? Nếu ngộ Cái đầu vốn saun như thế, biết sự phát điên bỏ chạy Của mình, thì Nhân Duyên và Tự Nhiên đều là hý luận.

Thông rằng: Nếu nói Nhân Duyên đoạn diệt rồi sau đó Chân Tánh Bồ Đề tự nhiên hiện ra, thì chẳng phải là chánh luận. Chuyện Anh Diễn Nhã Đạt Đa sợ đầu bỏ chạy mà xét cho cùng, Thì chẳng phải Nhân Duyên, chẳng phải Tự Nhiên, dứt khoát Rõ ràng vậy. Trước tiên, lấy cái đầu mà luận, thì cái Đầu vốn tự nhiên, chắc không thể vì nhân duyên mà bị Đoạt mất. Thế sao vì nhân duyên soi gương mà phát cuồng ? Đã cho Nhân Duyên là đúng, thì Tự Nhiên không còn đứng Vững, thế thì tại sao không do nhân duyên mà thật mất cái Đầu ? Nhưng cái đầu vốn chẳng mất, anh chàng kia tự cuồng Mà chạy, thì cái cuồng này vốn hư vọng có ra, thì rõ ràng Chẳng có liên quan gì đến chuyện Nhân Duyên vậy. Đã chẳng Từ nhân duyên mà sanh, cũng chẳng theo nhân duyên mà diệt, Mà nói nhân duyên tánh cuồng có thể diệt trừ được, là Hoàn toàn sai lầm vậy.

Lấy tánh Cuồng mà luận, nếu tánh cuồng vốn là tự nhiên thì nó Núp trốn ở đâu ? Còn tánh không cuồng là tự nhiên thì Tại sao điên chạy ? Cuồng hoặc không cuồng đều không có Tự tánh, chẳng có liên quan gì đến lý Tự Nhiên, thật là Rõ ràng như vậy. Đã chẳng phải là tự nhiên núp ẩn, cũng Chẳng phải tự nhiên có ra, nên nói tánh không cuồng tự Nhiên hiện ra là sai lầm vậy. Thế nên biết rằng, nói Nhân Duyên, nói Tự Nhiên nào có dính dáng gì với cái đầu? Nói Vốn là cuồng, nói vốn là không cuồng, thì nào có xong hết Chuyện tánh cuồng ? Những thứ ấy đều thuộc về hý luận, Chẳng có gì chân thật.

Chỉ cần Ngộ được cái đầu xưa nay vốn có saun, vốn không hề Mất. Biết rõ sự phát điên bỏ chạy, thì điên vốn hư Vọng mà có ra. Chỉ một chữ Ngộ này, chỉ một chữ Biết Này, tức là sự thọ dụng chân thật của nhà mình, chẳng Có lời lẽ nói năng nào đến được nổi. Ngộ cái đầu, Tức là ngộ Bản Lai Diện Mục, nào có chút gì đổi khác. Biết cuồng, tức là biết sự vọng sanh ra phân biệt mà chạy Điên trong chín cõi. Cái Ngộ ấy, cái Biết ấy, như tia chớp, Như lửa xẹt ra từ đá, trong khoảng sát na, há là cái chỗ Đứng được của các thứ Nhân Duyên, Tự Nhiên sao? Thế Nên, nói rằng “Hết tức Bồ Đề, không do ai mà được, xa Lìa các thứ Nhân Duyên và Tự Nhiên” là thế.

Thiền sư Trí Nham ở núi Ngưu Đầu, đời Đại Nghiệp nhà Tùy làm Chức Lang tướng, lập nhiều chiến công. Đến đời Vũ Đức Nhà Đường, bốn mươi tuổi bèn xin xuất gia, theo học thiền Sư Bảo Nguyệt. Có hai người bạn trước ở trong quân đội Nghe Ngài ẩn tu, mới vào núi tìm Ngài. Gặp gỡ, mới hỏi Rằng: “Lang tướng quân điên sao, ở chốn này làm gì?”

Ngài đáp: “Cái điên của tôi thì sắp tỉnh, cái điên của các ông Thì đang phát! Than ôi! Ham sắc mê thanh, tham danh muốn lợi, Trôi lăn sanh tử, từ đâu mà có!”

Hai người Cảm ngộ, than thở mà đi.

Sau, Ngài Tham yết thiền sư Lại Dung, phát minh được đại sự. Tổ Lại Dung bảo rằng: “Ta lãnh nhận yếu quyết chân chánh của Đại sư Đạo Tín, chỗ sở đắc đều mất sạch. Nếu như Có một pháp vượt hơn Niết Bàn, ta cũng nói như là mộng Huyễn. Ôi! Một mảy bụi bay mà che trời! Một hạt cải Rơi mà trùm đất! Ông nay đã trải qua cái Thấy ấy, ta lại Còn gì nói nữa.”

Bởi thế, Hết điên thì như Ngài Trí Nham, có thể nói là Chân Ngộ Vậy.


B. ĐƯA VÀO BỔ ĐỀ


Kinh: “Thế, Nên Ta nói: “Ba Duyên lìa dứt, tức là Tâm Bồ Đề. Tâm Bồ Đề sanh, tâm sanh- diệt diệt, đó cũng chỉ là sanh diệt. Diệt và sanh đều hết ráo, là vô công dụng Đạo. Nếu có Tự Nhiên, như vậy là nói tâm tự nhiên sanh, tâm- sanh- diệt Diệt, thế cũng là sanh diệt, và cái không sanh diệt thì gọi Là Tự Nhiên. Cũng như thế gian, những tướng hòa lẫn thành Một thể gọi là tính hòa hiệp, còn cái chẳng hòa hiệp Thì gọi là tính bản nhiên. Bản nhiên chẳng phải bản nhiên, Hòa hợp chẳng phải hòa hợp, hòa hợp và bản nhiên đều Lìa. Lìa và không lìa đều chẳng phải. Câu nói ấy mới Gọi là pháp không hý luận.

“Bồ Đề Niết Bàn còn ở xa lắm, nếu ông không trải qua nhiều kiếp Siêng năng tu chứng thì tuy có ghi nhớ thanh tịnh diệu lý Mười hai bộ kinh của mười phương Như Lai như cát sông Hằng Cũng chỉ tăng thêm hý luận.

Thông rằng: Đoạn này giãi bày rõ cái ý “Nào nhờ siêng năng cần Khổ tu chứng”. Bỗng nhiên cuồng hết chẳng phải khó Nhọc đoạn trừ duyên, nên không phải là Nhân Duyên. Nếu Nói: “Vì ba Duyên đoạn dứt, thì ba Nhân chẳng có sanh ra, Nhờ nhân duyên đó mà được Tâm Bồ Đề,” thế là Tâm Bồ Đề sanh là do tâm sanh- diệt diệt. Diệt Vọng chứng Chân Thì Chân cũng thành Vọng, đó cũng chỉ là pháp sanh diệt Thôi, chẳng phải là Bồ Đề. Cái nhân duyên như vậy thuộc Về sanh diệt, nên cũng dễ hết.

Đến chỗ Diệt và sanh đều hết ráo, thì không những tâm sanh diệt Hết mà cái diệt sanh diệt cũng hết tận. Đã không có sự Sanh ra để diệt, tức là không có công phu nào để dùng. Ở trong đó nếu có cái bất sanh bất diệt mà gọi là Tự Nhiên, thì cái tâm tự nhiên này do nơi diệt và sanh đều Hết mà hiển ra, đó là cái tâm tự nhiên sanh. Nhưng nhờ ở tâm sanh- diệt diệt mất mà có thì cũng là pháp sanh Diệt, chẳng phải là Bồ Đề. Chữ “cũng” thật có ý vị! Cái không sanh diệt kia gọi là Tự Nhiên, sao cũng Gọi là sanh diệt ? Vì đối với cái sanh diệt mà hiển bày Cái không sanh diệt, thế là có đối đãi vậy. Cũng như đối Với hòa hợp mà hiển bày cái không hòa hợp. Có cái bản Nhiên thì có cái không bản nhiên, có cái hòa hợp thì có Cái không hòa hợp, rõ ràng toàn là đối đãi. Cũng như đối Với sừng trâu có, rồi nói sừng thỏ không, nên cũng thuộc Về sanh diệt. Cái kia chỉ làm không cái sanh diệt, chẳng Có thể làm không cái Tự Nhiên. Cũng như nói “Nhà kia Không Có người,” thì mới chỉ làm “không” người ở trong Đó, chứ chưa “không” được cái nhà. Đó không phải Là cái thấy chân thật. Nên nói là hý luận.

Nếu giờ Đây mà hợp với không hợp, bản nhiên với không bản nhiên, Các pháp đối đãi, hết thảy đều xa lìa mà cũng không có Cái tâm xa lìa, nên lìa hay hợp đều mất hết. Đã lìa Sở, Lại lìa Năng; Năng Sở đều lìa, chỉ là một Chân Thật, Câu này mới gọi là pháp không hý luận.

Nhưng nếu Y theo câu này mà giữ Bồ Đề Niết Bàn Vô Thượng, thì cũng Còn xa lắm ! Vì sao thế ? Vì còn ở tại hữu vi, có công Phu, có huân tập vậy. Bồ Đề Chánh Giác, Niết Bàn Diệu Tâm chỉ có thể ở tại sát na mà ngộ nhập, chẳng phải Là chỗ ông trải qua nhiều kiếp cần khổ để tu chứng được. Cái chẳng do trải qua nhiều kiếp cần khổ tu chứng mà được, Cái ấy không nương nhờ Nhân Duyên, Tự Nhiên gì ráo để Đắc. Cái mà phải nhờ trải qua nhiều kiếp cần khổ tu Chứng, thì tất phải do Nhân Duyên, Tự Nhiên mà được. Cứ Thế, thì tuy ghi nhớ diệu lý thanh tịnh của mười phương Chư Phật là Pháp không hý luận, cũng chỉ tăng thêm các thứ Hý luận Nhân Duyên, Tự Nhiên mà thôi, nào có thật đắc Được gì. Nên chi, nghe nói “Ba Duyên đoạn dứt, ba Nhân chẳng Sanh,” rồi theo đó phân biệt mà được Tâm Bồ Đề, thì Chẳng phải là thực đắc, đó là chỗ nói “Lấy Tâm Sanh Diệt hợp với Như Lai Tạng” vậy. Chỉ không theo đó mà Phân biệt, thì tánh cuồng tự hết. Hết là Bồ Đề, không Do ai mà được, bèn là thật đắc, vì là lấy cái Chẳng Sanh Chẳng Diệt hợp với Như Lai Tạng vậy. Cái cơ duyên Tối thượng này, há đồng với lối nói Tự Nhiên của nhóm Câu Xá Lê được ư?

Đức Lục Tổ dạy: “Cái Bất Sanh Bất Diệt mà ngoại đạo nói, là Lấy Diệt dừng Sanh, lấy Sanh mà bày ra cái Diệt, thế là Có Diệt mà xem như không Diệt, có Sanh mà nói là chẳng Sanh. Ta nói chẳng Sanh chẳng Diệt là vốn Tự Vô Sanh, nay cũng Không có Diệt. Bởi thế, chẳng đồng với ngoại đạo.”

Ngài Tiến Sơn Chủ hỏi Ngài Tu Sơn Chủ rằng: “Biết rõ Tánh sanh mà Chẳng sanh, thì vì sao còn lưu lại cái sanh?”

Tu Sơn nói: “Măng rốt cuộc thành tre chứ, như nay làm cật tre, khiến Trở lại đâu được!”

Tiến Sơn Nói: “Sau này ông sẽ tự ngộ chỗ ấy.”

Tu Sơn nói: “Tôi chỉ như thế, ý chỉ của Thượng Tọa như thế nào?”

Ngài Tiến Sơn nói: “Cái này là Giám Viện Phòng, cái kia là Điển Tòa Phòng.”

Ngài Tu Sơn Bèn lễ bái.

Ngài Thiên Đồng tụng rằng:

Hoát Nhiên mất chỗ nương

Tự do Nào chẳng quản

Nước Nhà bình ổn thấy ai đâu

Lực lượng Mống sanh phân giai cấp

Thân tâm Rỗng rang tuyệt thị phi

Thị phi Tuyệt !

Lập cả Đại phương : không dấu vết!.”

Thế đó, chứng Bồ Đề Vô Thượng vốn đâu có sa vào thềm bực (giai cấp). Lại có dấu vết gì thấy được!


Kinh: “Ông Tuy nói lý Nhân Duyên, Tự Nhiên, chắc chắn rõ ràng, người Đời xưng ông là đa văn bậc nhất. Vậy mà lấy cái đa văn Huân tập nhiều đời đó cũng chẳng khỏi nạn Cô Ma Đăng Già, phải đợi thần chú Phật Đảnh của Ta khiến cho lửa Dâm trong lòng cô Ma Đăng Già hết tức thời mà đắc A Na Hàm, hiện ở trong Pháp của Ta, tinh tấn như rừng, sông ái Cạn khô, khiến ông giải thoát.

“Bởi thế Nên, Anan, ông tuy nhiều kiếp ghi nhớ những bí mật mầu nhiệm Trang nghiêm của Như Lai, không bằng chỉ một ngày tu Nghiệp Vô lậu, lìa xa thế gian hai thứ khổ ghét- thương. Như Cô Ma Đăng Già, trước là dâm nữ, do sức thần chú, tiêu tan Lòng ái dục, nay ở trong Phật Pháp tên là Tánh Tỳ Kheo Ni. Cùng với Da Du Đà La là mẹ của La Hầu La, đồng ngộ được Nhân đời trước, biết nhân khiến trải qua nhiều đời, Tham ái là khổ, một niệm huân tu pháp thiện vô lậu; một Người được ra khỏi trói buộc, còn một người được Thọ ký. Sao ông còn tự coi thường mình, ở mãi trong vòng Nghe, thấy!”

Thông rằng: Rõ ràng là Ông Anan nhiều kiếp đa văn mà không tránh khỏi Nạn Cô Ma Đăng Già, thế thì ghi nhớ diệu lý thanh tịnh Của Như Lai không thể chứng quả được. Cũng rõ ràng là Thần chú Phật Đảnh có thể khiến cho lòng dâm của Cô Ma Đăng Già tức thời tiêu hết, nghĩa là sự huân tu không thể Nghĩ bàn khiến tự ra khỏi ràng buộc vậy. Nhớ giữ pháp Bí mật nhiệm mầu trang nghiêm, tức là hữu lậu. Bỏ Vọng Theo Chân, tức là hai cái khổ thương, ghét. Khổ còn không Khỏi, huống là đắc quả ư ? Tu tập pháp môn Viên Đốn Tức là vô lậu. Ngộ biết nhân đời trước, tham ái chẳng Sanh, bèn được thọ ký, nào chỉ đắc quả thôi sao ? Cô Ma Đăng Già chứng quả thứ Ba, A Na Hàm, gọi là ra khỏi trói Buộc. Bà Da Du Đà La cũng là nhân duyên nhiều kiếp với Đức Thế Tôn, ở hội Pháp Hoa được thọ ký thành Phật. Đây Chỉ là nữ giới mà một niệm xoay lòng còn nên bực tinh Tấn. Huống gì hàng Thanh Văn các ông, sao tự khinh thường Mình, không liền đốn ngộ ? Đã thế lại nương nhờ nhân Duyên trừ Vọng mà bám lấy hý luận của ngoại đạo để ở mãi trong vòng thấy nghe sao?

Thiền sư Sở Nam thượng đường nói: “Này các ông, dù có hiểu giáo Pháp của Chư Phật ba đời như rót nước vào bình, chẳng Bằng một niệm tu Vô Lậu Đạo, khỏi bị nhân quả trời Người trói buộc !”

Khi ấy có Nhà sư hỏi: “Vô Lậu Đạo như thế nào để tu?”

Tổ Sở Nam Nói: “Chưa từng có Xà Lê để nắm bắt!”

Hỏi: “Chưa Từng có tôi đây, thì dạy ai nắm bắt?”

Đáp: “Cái Nắm cũng không!”

Được một Hai lời chuyển ngữ này, thì ý chỉ chưa nói hết của Như Lai đã lộ rồi!

* * * * *


MỤC CHÍN: CHỈ NGHĨA QUYẾT ĐỊNH



I. CÁC PHÉP TU HÀNH SAU KHI ĐỐN NGỘ, PHÁT BỒ ĐỀ TÂM


Kinh: Ông A Nan và cả đại chúng nghe lời Phật dạy, nghi lầm tiêu tan, ngộ được Thật Tướng, thân ý nhẹ nhàng an ổn, được cái chưa từng có. Rồi lại rơi nước mắt, đảnh lễ chân Phật, quỳ thẳng, chấp tay mà bạch Phật rằng:

Đấng Vô Thượng Đại Bi, Thanh Tịnh Bảo Vương, khéo mở tâm chúng tôi, dùng đủ thứ nhân duyên như thế, phương tiện dìu dắt những kẻ chìm đắm trong tối tăm ra khỏi bể khổ.

Bạch Thế Tôn, nay tôi được vâng nghe Pháp Âm như vậy, biết Như Lai Tạng, Diệu Giác Minh Tâm cùng khắp mười phương thế giới, trùm chứa các cõi nước của Như Lai trong mười phương, các cõi Phật Diệu Giác Vương trong sạch, quý báu trang nghiêm. Như Lai lại trách tôi đa văn mà không có công dụng, không kịp thời tu tập. Nay tôi giống như người long đong phiêu bạt, bỗng nhiên gặp vị Thiên Vương cho cái nhà tốt; mặc dầu được cái nhà lớn, nhưng cần yếu phải do cửa mà vào. Xin nguyện Như Lai, không bỏ lòng đại bi, chỉ bày cho chúng tôi, những kẻ mờ tối trong hội này, rời bỏ Tiểu Thừa, đều được con đường Phát Tâm căn bản đến Vô Dư Niết Bàn của Như Lai, khiến cho hàng Hữu Học biết theo đâu nhiếp phục các sự bám níu (phan duyên) lâu đời, được Tổng Trì Đà La Ni, nhập Phật Tri Kiến.

Ông A Nan nói lời ấy rồi, năm vóc mọp sát đất, trong hội một lòng mong đợi ý chỉ từ bi của Phật.

Thông rằng: Từ lúc bắt đầu, phân lựa Chân Vọng để phát minh Tánh Giác, cho đến chỗ nói lên cái Tánh Chân Thắng Nghĩa trong thắng nghĩa, để thông suốt các nghi ngờ, vướng mắc khiến cho tin hiểu Chân Tánh là Tâm Nhân Địa. Cái Tâm Nhân Địa đã chân thật, mới có thể viên thành quả địa tu chứng. Thế nên, đoạn trước là phần Kiến Đạo. Từ đây về sau, riêng nói phần Tu Đạo.

Ông A Nan đã được Pháp Thân, nhưng vẫn còn Vô Minh vi tế. Nay đã trừ các điều mê lầm, ngộ Thật Tướng, nhưng lại có lời than là không kịp thời tu tập. Rốt cuộc là vẫn còn là ở ngoài cửa. Tuy biết có cái nhà đẹp đẽ của Thiên Vương nhưng chưa thể vào. Sở dĩ không được cái cửa để vào, thứ nhất là, do còn ưa mến Tiểu Thừa, chẳng rõ con đường Phát Tâm căn bản; thứ hai là, do sự bám níu, đó chính là cái khổ mà không thể nhập Tri Kiến Phật. Tuy là do thói quen đa văn khiến như thế, nhưng cũng là vì hàng Hữu Học trong hội mà hỏi.

Tổ Mục Châu nói với đại chúng rằng:

– Tất cả các ông có được chỗ đầu mối để vào chưa? Nếu chưa được cái chỗ đầu mối để vào, thì cần phải tìm cho ra chỗ đầu mối để vào, để sau này khỏi cô phụ lão tăng.

Thiền sư Nghiêu Phong Xiêm thượng đường dạy:

– Đông qua Thu lại, cửa lâu đài mở hoác. Nếu vào được, chớ có chần chờ. Các Thượng Tọa! Hướng vào trong ấy bước vào được chưa? Như bước vào được thì đúng như cổ nhân nói “Nơi đây là Di Lặc. Cửa nào chẳng Thiện Tài”. Nếu bước vào chưa được, ấy là các Thượng Tọa tự mình chạy điên. Chớ có đau đáu đứng hoài như vậy! Trân trọng!

Có vị quan hỏi Tổ Mục Châu:

– Ba cửa đều mở, theo cửa nào nhập?

Tổ châu gọi lớn:

– Thượng Thơ!

Quan ứng tiếng:

– Dạ!

Tổ Châu nói:

– Theo cửa Tín mà vào.

Vị quan lại thấy bức họa trên vách, hỏi rằng:

– Hai vị tôn giả đối mặt nhau bàn luận chuyện gì?

Tổ Châu đánh cây lộ trụ, nói:

– Trong Ba Thân, Thân nào chẳng nói pháp!

Ngài Mục Châu môn phong cao ngất, đến chỗ này đều bày trọn hết rõ ràng, như tin đến nơi, bèn chẳng trải qua thứ bực.


Kinh: Khi ấy, Đức Thế Tôn thương xót các hàng Thanh Văn, Duyên Giác trong hội chưa được tự tại nơi Tâm Bồ Đề, cùng những chúng sanh về sau phát Bồ Đề Tâm trong thời mạt pháp, khi Phật diệt độ rồi, khai thị cho con đường tu hành nhiệm mầu Vô Thượng Thừa, mà tuyên giảng cho A Nan và các đại chúng rằng:

Các ông quyết định phát Tâm Bồ Đề, đối với Pháp Tam Ma Đề nhiệm mầu của Như Lai chẳng sanh lòng mệt mỏi, thì trước hết nên rõ hai nghĩa quyết định của Sơ Tâm Giác Ngộ.

Thông rằng: Chỗ Ông A Nan hỏi, có hai nghĩa: Một là, con đường căn bản phát tâm để đến Vô Dư Niết Bàn của Như Lai. Hai là, nhiếp phục tâm bám níu, nhập Phật Tri Kiến. Bởi thế, Đức Thế Tôn nói lên hai nghĩa quyết định.

Muốn biết con đường Phát Tâm căn bản, phải chọn lựa gốc rễ Sanh Tử, để được cái Tánh Không Sanh Diệt, lấy đó làm cái Tâm Nhân Địa, rồi mới viên thành Diệu Đức Niết Bàn chẳng sanh chẳng diệt. Đây là nghĩa thứ nhất của Sơ Tâm.

Muốn nhiếp phục Tâm Phan Duyên bám níu, phải xét rõ gốc rễ phiền não, biết sáu Căn làm môi giới cho giặc, tự làm tự chịu. Chỉ cần chọn lựa một Căn viên thông, một cửa mà thâm nhập, thì sáu Căn hay biết kia, đồng thời trong sạch, đây là nghĩa thứ hai của Sơ Tâm.

Muốn đắc Vô Sanh, phải diệt sạch phiền não. Hết sạch phiền não, thì chứng Vô Sanh. Hai cái này chưa từng rời nhau được. Ở đây nói Diệu Tam Ma Đề, lại nói Diệu Tu Hành Lộ, là luôn luôn tỉnh thức nơi một chữ Diệu, cần yếu tương ưng với Diệu Minh, Minh Diệu, mà chẳng chấp lấy tướng để cầu Bồ Đề vậy.

Các hàng Thanh Văn, Duyên Giác chưa khỏi được sự chấp nắm lấy tướng, nên ở trong Bồ Đề chưa được tự tại. Duy chỉ ngộ một cái Diệu này, chẳng mượn khó nhọc, cần cù tu chứng, mới gọi là Vô Thượng Thừa vậy.

Sơ Tổ Đạt Ma đến Kim Lăng, Lương Võ Đế hỏi:

– Trẫm lên ngôi đến nay, xây chùa, chép kinh, độ tăng nhiều không kể xiết, vậy công đức thế nào?

Tổ đáp:

– Đều không có công đức.

Vua hỏi:

– Vì sao không?

Tổ nói:

– Đó chỉ là quả nhỏ của trời, người, là cái nhân hữu lậu, như bóng theo hình, tuy là có mà không thật.

Vua hỏi:

– Thế nào là công đức chân thật?

Tổ nói:

– Trí trong sạch, tròn đầy, mầu nhiệm, thể tự không tịch, công đức như thế không thể lấy thế gian cầu được.

Vua lại hỏi:

– Như thế nào là Thánh Đế Đệ Nhất Nghĩa.

Tổ nói:

– Rỗng rang như nhiên, tuyệt không có Thánh.

Vua nói:

– Vậy trước mặt trẫm đây là ai?

Tổ nói:

– Không phân biệt.

Vua không lãnh hội được. Tổ biết căn cơ chẳng khế hợp, bèn ẩn qua Giang Bắc.

Ngài Tuyết Đậu tụng rằng:

Thánh Đế rỗng nhiên,
Có đâu nói trúng!
Đối Trẫm là ai?
Lại nói: Không biết.
Bởi thế lặng lẽ qua sông,
Há đâu khỏi sanh gai góc?
Cả nước đuổi theo, không trở lại,
Nghìn thuở, muôn xưa, chẳng nhớ nhau.
Hết nhớ nhau!
Gió mát khắp cùng, đâu chỗ tột
?

Ngài nhìn qua trái, qua phải rồi nói:

– Trong ấy lại có Tổ Sư chăng?

Tự nói:

– Có, thì kêu lại đây rửa chân cho lão tăng!

Ngài Thiên Đồng tụng rằng:

Rỗng nhiên không Thánh,
Căn cơ xa tít.
Đắc, chẳng trúng nhằm mũi mà quơ búa,
Thất, chẳng quày đầu mà rớt vào ống bễ lò.
Lặng lẽ ngồi yên tại Thiếu Lâm,
Nín thinh toàn nêu lên chánh lệnh.
Thu trong, trăng chuyển, sương vần,
Ban đêm sao Bắc Đẩu soi cán.
Y bát truyền con cháu không ngừng,
Từ đó trời người thành thuốc, bệnh
.

Nếu luận về con đường Vô Thượng Thừa tu hành mầu nhiệm, thì Thánh Đế Đệ Nhất Nghĩa còn chẳng chịu cho, huống là rơi vào nghĩa thứ hai, thứ ba!

* * * * *



II. TÂM NHÂN ĐỊA


Kinh:

Thế nào là hai nghĩa quyết định của Sơ Tâm? A Nan, nghĩa thứ nhất là: Nếu các ông muốn rời bỏ Thanh Văn, mà tu Bồ Tát Thừa để vào Tri Kiến của Phật, thì nên xét kỹ cái Nhân Địa Phát Tâm và cái Quả Địa Giác Ngộ là đồng nhau hay khác nhau. A Nan! Nếu ở nơi nhân địa mà lấy cái Tâm Sanh Diệt làm gốc, nhân đó mà tu để cầu quả Bất Sanh Bất Diệt của Phật Thừa, thì không thể có chuyện ấy được.

Thông rằng: Đây là chỉ bày Thấy Tánh Đệ Nhất Nghĩa vậy. Nếu luận về Thấy Tánh, thì chẳng mượn ở công phu huân tập, mà chỉ quán xét Chỗ Nhân Địa Phát Tâm cùng với Quả Địa Giác Ngộ là đồng hay khác. Bởi thế, Thánh nhân không nghĩ suy mà đắc, không gắng sức mà vẫn trúng. Hạng Xích Tử cũng chẳng lo nghĩ mà biết, chẳng học hành mà nên. Chẳng học tập, chẳng lo toan, là cái Nhân; chẳng nghĩ suy, chẳng cố gắng, là cái Quả vậy.

Nên nói:

– Bậc đại nhân chẳng hề mất cái tâm xích tử. Nhân và Quả vốn khế hợp, tuyệt không có tăng, giảm.

Không thấy Tánh, đâu đủ sức nói lời ấy! Ngài Mã Tổ khi còn tại núi Nam Nhạc, ở riêng một phòng nơi Viện Truyền Pháp, chỉ tập ngồi thiền, ai đến thăm hỏi đều không màng đến. Đại sư Hoài Nhượng đến cũng chẳng để ý. Đại sư thấy Mã Tổ cốt cách khác thường, bèn nhớ lại lời tiên tri của Đức Lục Tổ, mới dùng những phương tiện dẫn dạy cho.

Một hôm, Đại sư lấy một viên gạch ra trước am mà mài. Mã Tổ cũng không để ý đến.

Lâu lắm, Ngài Mã Tổ mới hỏi:

– Làm cái gì thế?

Đại sư đáp:

– Mài để làm cái gương soi!

Mã Tổ hỏi:

– Mài gạch mà thành gương được sao?

Đại sư nói:

– Mài gạch đã không thành gương, thì ngồi thiền hóa lại thành Phật ư?

Mã Tổ bèn rời chỗ ngồi thiền, nói:

– Như thế nào là phải?

Đại sư đáp:

– Ví như ngồi xe, xe chẳng đi, thì đánh xe là đúng hay đánh bò là đúng?

Mã Tổ không đáp được.

Đại sư lại nói:

– Ông học tọa thiền, hay học tọa Phật? Nếu học tọa thiền thì thiền chẳng phải là chuyện ngồi, nằm. Nếu học tọa Phật thì Phật chẳng phải là cái tướng ngồi, nên trong pháp vô trụ, chẳng có nắm bỏ. Nếu ông tọa Phật tức là giết Phật. Nếu chấp vào tướng ngồi thì chẳng tỏ suốt được lý.

Mã Tổ bèn lễ bái, và hỏi:

– Dụng tâm như thế nào, liền hợp với Vô Tướng Tam Muội?

Đại sư nói:

– Ông học pháp môn Tâm Địa, như gieo giống xuống. Tôi nói pháp yếu, như trời mưa thấm. Duyên ông thích hợp nên sẽ thấy Đạo.

Mã Tổ nói:

– Đạo chẳng phải là sắc tướng, làm sao có thể thấy?

Đại sư nói:

– Pháp nhãn Tâm Địa thì thấy Đạo. Vô Tướng Tam Muội cũng thế.

Ngài Mã Tổ hỏi:

– Có thành hoại không?

Đại sư nói:

– Nếu lấy sự thành hoại, tụ tán mà thấy Đạo, thì chẳng phải là thấy Đạo. Nghe kệ ta đây:

Tâm địa ngậm muôn giống,
Gặp mưa mầm đều sanh.
Hoa Tam Muội, vô tướng,
Nào hoại với nào thành
.

Mã Tổ nghe qua lời dạy, hoát nhiên khai ngộ. Hầu đại sư mười năm, ngày càng mật nhiệm, về sau hoằng hóa ở Giang Tây.

Đại sư Hoài Nhượng hỏi chúng:

– Mã Tổ Đạo Nhất có vì chúng nói pháp không?

Chúng đáp:

– Đã nói pháp cho chúng rồi.

Đại sư nói:

– Chưa thấy có ai mang tin tức của ông ta đến.

Bèn sai một nhà sư đi, dặn rằng:

– Đợi lúc ông ta thượng đường nói pháp, thì chỉ hỏi: Làm sao? Ông ấy nói thế nào hãy nhớ lấy đem về đây.

Vị sư đến chỗ Mã Tổ, làm y theo lời đại sư dặn.

Khi trở về, nói với đại sư rằng:

– Đạo Nhất nói, Từ sau loạn rợ Hồ, ba mươi năm nay chưa hề thiếu tương muối.

Đại sư bằng lòng.

Tổ Tuyết Phong gởi lời cho Tổ Nham Đầu rằng:

– Từ khi ở Ngao Sơn thành Đạo về sau, cho đến bây giờ no hoài chẳng đói.

Thế thì, cũng tương tự với câu trên của Ngài Mã Tổ, đều là Nhân Địa Phát Tâm với Quả Địa Giác Ngộ không có đồng, khác vậy. Kia học ngồi thiền, có tu có chứng, bèn thuộïc về Pháp Sanh Diệt, đối trong chỗ Vô Thượng Thừa, xa bao ngàn dặm!


Kinh:

Do nghĩa đó, ông phải thấy rõ các vật của thế gian đều là pháp có thể làm ra, tất cả đều phải theo sự biến diệt.

A Nan, ông xem các pháp có thể làm ra trong thế gian, có cái nào là không hư hoại? Nhưng không hề nghe hư không tan rã. Vì sao thế? Vì hư không chẳng có thể làm ra, do đó trước sau không có hoại diệt. Vậy trong thân ông tướng cứng là Địa Đại, thấm ướt là Thủy Đại, hơi ấm là Hỏa Đại, động lay là Phong Đại. Do bốn cái ràng buộc này mà chia cái Diệu Giác Minh Tâm trong lặng tròn khắp của ông thành ra cái Thấy, cái Nghe, cái Biết, cái Xét Nghĩ. Từ đầu đến cuối tạo thành năm lớp bẩn trược.

Thế nào là Trược? A Nan, ví như nước trong, thanh khiết bản nhiên, còn bụi đất, tro cát kia bản chất là ngăn ngại. Hai bên tự thể như vậy thì không hợp nhau được. Có người thế gian, lấy bụi đất kia, ném vào nước sạch, thì đất mất đi ngăn ngại, nước mất đi trong sạch, hình trạng đục vẩn, gọi đó là Trược. Năm lớp bẩn trược của ông cũng giống như vậy.

* * * * *


Sách (pdf file): KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG

1. GIỚI THIỆU KINH LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
2. DUYÊN KHỞI CỦA KINH
3. GẠN HỎI CÁI TÂM
4. CHẤP TÂM Ở TRONG THÂN
5. CHẤP TÂM Ở NGOÀI THÂN
6. CHẤP TÂM NÚP SAU CON MẮT
7. CHẤP TÂM HỢP VỚI CHỖ NÀO THÌ LIỀN CÓ Ở CHỖ ẤY
8. CHẤP TÂM KHÔNG DÍNH DÁNG VÀO ĐÂU TẤT CẢ
9. CẦU ĐI ĐẾN CHỖ CHÂN THẬT
10. NƯƠNG CÁI THẤY, GẠN HỎI CÁI TÂM
11. CHỈ RÕ TÍNH THẤY KHÔNG PHẢI LÀ CON MẮT
12. Ý NGHĨA CHỦ VÀ KHÁCH
13. CHỈ TÁNH THẤY KHÔNG SANH KHÔNG DIỆT
14. CHỈ CHỖ ĐIÊN ĐẢO
15. LỰA BỎ TÂM PHAN DUYÊN ĐỂ CHỈ TÁNH THẤY KHÔNG THỂ TRẢ VỀ ĐÂU
16. LỰA RIÊNG TRẦN CẢNH ĐỂ NÊU RA TÁNH THẤY
17. NGHI TÁNH THẤY HIỆN Ở TRƯỚC MẮT
18. XIN CHỈ DẠY TÁNH THẤY CHẲNG DO THẤY
19. CHỈ RÕ Ý NGHĨA TÁNH THẤY KHÔNG PHẢI LÀ CÁI THẤY, VIÊN MÃN BỒ ĐỀ
20. TÓM THU: THU SẮC ẤM – THU THỌ ẤM – THU TƯỞNG ẤM
21. TÓM THU: THU HÀNH ẤM – THU THỨC ẤM – THU SÁU NHẬP
22. THU SÁU NHẬP (TT) – THU MƯỜI HAI XỨ
23. THU MƯỜI HAI XỨ (TT) – THU MƯỜI TÁM GIỚI
24. THU MƯỜI TÁM GIỚI (TT) – THU BẢY ĐẠI
25. THU BẢY ĐẠI (TT) – ĐỐN NGỘ PHÁP THÂN VÀ PHÁT NGUYỆN
26. ÔNG MÃN TỪ TRÌNH BÀY CHỖ NGHI – VÔ MINH ĐẦU TIÊN – NGUYÊN NHÂN VỌNG THẤY CÓ THẾ GIỚI
27. NGUYÊN NHÂN VỌNG THẤY CÓ THẾ GIỚI (TT) – CHỈ RÕ GIÁC CHẲNG SANH MÊ
28. CHỈ CÁC ĐẠI CÓ THỂ TƯƠNG DUNG – CHỈ TÁNH DIỆU MINH LÀ NHƯ LAI TẠNG, RỜI CẢ HAI NGHĨA “PHI” VÀ “TỨC”
29. CHỈ MÊ VỌNG KHÔNG CÓ NHÂN, HẾT MÊ LÀ BỒ ĐỀ (TT) – LẠI PHÁ XÍCH NHÂN DUYÊN, TỰ NHIÊN




Leave a Reply