CHỈ CÁC ĐẠI CÓ THỂ TƯƠNG DUNG – CHỈ TÁNH DIỆU MINH LÀ NHƯ LAI TẠNG, RỜI CẢ HAI NGHĨA “PHI” VÀ “TỨC”

Mar 24, 15 | Tâm Duyên | 1,158 views | No Comments



Share |




KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG

Nhẫn Tế Thiền Sư

-o0o-

QUYỂN IV

tulips

PHẦN THỨ HAI: PHẦN CHÁNH TÔNG

CHƯƠNG I: CHỈ BÀY CHÂN TÂM

MỤC TÁM: CHỈ RÕ CĂN NGUYÊN HƯ VỌNG VÀ TÁNH GIÁC TOÀN VẸN

Nghe MP3 (31/61): CHỈ CÁC ĐẠI CÓ THỂ TƯƠNG DUNG – CHỈ TÁNH DIỆU MINH LÀ NHƯ LAI TẠNG, RỜI CẢ HAI NGHĨA PHI VÀ TỨC


* * * * *



V. CHỈ CÁC ĐẠI CÓ THỂ TƯƠNG DUNG


Kinh: Phú Lâu Na, lại chỗ ông hỏi:

Địa, Thủy, Hỏa, Phong, bản tánh viên dung, toàn khắp thế giới mà nghi sao tánh Nước, tánh Lửa lại không diệt lại nhau. Ông lại nêu ra Hư Không và Đất Đai đều cùng khắp pháp giới, lẽ ra chẳng tương dung.Phú Lâu Na, ví như Hư Không, bản thể chẳng phải là các tướng, nhưng không chống lại các tướng phát huy. Tại sao như thế? Phú Lâu Na, trong hư không kia, mặt trời soi thì sáng, mây tụ thì tối, gió lay thì động, tạnh ráo thì trong, mù đọïng thì đục, bụi nổi thì mịt mù, nước lắng thì óng ánh. Ý ông thế nào? Các thứ tướng hữu vi khác nhau như vậy, là nhân các thứ kia mà sanh, hay nhân Hư Không mà có? Phú Lâu Na, nếu nhân các thứ kia sanh, thì khi mặt trời chiếu soi, đã là mặt trời sáng, mười phương thế giới dều thành sắc của mặt trời, làm sao ở giữa Hư Không, lại còn thấy mặt trời tròn? Nếu là Hư Không sáng, thì Hư Không phải tự chiếu soi lấy; thế sao giữa đêm hay lúc mây mù, lại chẳng có sáng chiếu? Vậy, nên biết rằng cái sáng đó, chẳng phải là mặt trời, chẳng phải là Hư Không mà cũng chẳng khác mặt trời và Hư Không. Xét kỹ các tướng, vốn là hư vọng, không thể chỉ bày, cũng như mong hoa đốm giữa Hư Không kết thành quả của Hư Không! Sao lại còn hỏi nghĩa lấn diệt lẫn nhau? Xét kỹ cái tánh, vốn là chân thật, chỉ là Tánh Giác Diệu Minh, Tâm Tánh Diệu Minh đó vốn chẳng phải là lửa hay nước, thế sao lại còn hỏi chẳng có tương dung?

Tánh Giác Diệu Minh chân thật thì cũng như vậy. Ông phát minh cái Hư Không, thì có Hư Không hiện; phát minh ra mỗi mỗi Đất, Nước, Lửa, Gió thì mỗi mỗi thứ hiện. Nếu cùng phát minh thì cùng có hiện.

Thế nào là cùng có hiện ra? Phú Lâu Na, như trong một chỗ có nước hiện ra bóng mặt trời, hai người cùng xem mặt trời trong nước. Rồi một người đi về phương Đông, một người đi về phương Tây, thì mỗi bên đều có mặt trời đi theo, một cái về phương Đông, một cái về phương Tây, không có mẫu mực nhất định. Chẳng nên hỏi rằng: Mặt trời chỉ có một, tại sao mỗi cái đi theo mỗi người? Mặt trời đã thành hai, vì sao hiện ra chỉ có một? Quanh quẩn hư vọng như vậy, không có gì có thể làm bằng cứ.

Thông rằng: Ở trước, đáp câu hỏi “Thanh tịnh bổn nhiên sao bỗng dưng sanh núi sông, đại địa?” Lấy Tướng mà luận, thì có sanh là từ vọng thấy mà sanh. Trong Tánh mà luận, thì tức là Vô Sanh, Giác chẳng trở lại Mê vậy. Tướng nguyên là Vọng, có gì mà lấn diệt? Tánh vốn Vô Sanh, cái gì mà chẳng tương dung? Cho nên bảy Đại là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh. Như Lai Tạng vốn chẳng phải là bảy Đại, nhưng chẳng ngăn bảy Đại kia phát hiện. Ví như Hư Không, bản thể của nó chẳng phải là các tướng mà chẳng ngăn ngạïi các tướng kia phát huy. Chỉ một Hư Không mà Đất tích tụ thì Tướng của Đất hiện ra, Nước lắng thì Tướng Nước hiện ra, mặt trời chiếu thì Tướng Lửa hiện ra, Gió thổi thì Tướng Gió hiện ra, trong tạnh thì Tướng Hư Không hiện ra. Sáng, Tối là thuộc về cái Thấy, khí đục nên thuộc về cái Thức. Bảy ví dụ trên để ví dụï cho bảy Đại vậy.

Bảy Đại không tự sanh, cũng chẳng phải do cái khác sanh. Chẳng phải cái khác sanh, nên chẳng phải là không hay là có. Chẳng do mặt trời, chẳng do Hư Không, nên chẳng phải là cọng sanh. Chẳng khác mặt trời và Hư Không, nên chẳng phải là không nguyên nhân mà sanh. Do đó, nói: vốn Vô Sanh vậy. Đã vốn Vô Sanh, thì tùy theo nghiệp mà có hiện, cũng là hoa đốm. Hoa không nào kết thành trái không, thì làm sao có chuyện lấn diệt cho đến sự chẳng tương dung? Tướng tuy là hư vọng mà Tánh vốn là Chân, thanh tịnh toàn khắp, vốn chẳng phải là hình tướng nước, lửa gì đâu. Không hình thì có gì mà ngăn ngại nhau, há lại có sự chẳng tương dung cho đến sự hại diệt lẫn nhau sao? Tướng của bảy Đại đã như hoa không, tánh của bảy Đại cũng như Hư Không, thì Như Lai Tạng, Diệu Giác Minh Tâm cũng giống như thế vậy.

Như phát minh ra Hư Không, thì có Hư Không hiện. Lấy Sự mà nói, thì như đào giếng. Lấy Nghiệp mà nói, thì đó là vọng khởi lên cái thấy có Hư Không. Do cái Thấy mà có Hư Không, Đất, Nước, Lửa, Gió cũng là như thế. Mỗi mỗi phát minh, thì mỗi mỗi hiện ra. Nếu cùng phát minh, thì cùng có hiện. Chẳng kể núi Nam nổi mây mà núi Bắc mưa xuống, đều là trong Hư Không vô ngại. Bèn như mặt trời trong nước, mỗi người đi về mỗi hướng Đông, Tây, đều có mặt trời cùng theo. Chẳng tin vào mặt trời trên không, mà lại nghi ngờ mặt trời trong nước, cũng như mây bay mà tưởng mặt trăng chạy; thuyền đi mà cứ tưởng là bờ trôi! Đã từ vọng thấy mà có sanh ra, thì há có thể ở nơi chỗ thấy hư vọng đó mà biện luận là một hay chẳng phải một, thế chẳng phải là cái lầm quá cỡ sao?

Hoặc hỏi rằng:

Đất, nước, lửa, gió hiện có thật trước mắt, sao gọi là hư vọng?

Đáp rằng:

Người vô trí gọi là thật có. Người có con mắt Trí Huệ xem thì chẳng phải thế! Ví như đứa trẻ con xem thấy bóng trong gương vui mừng muốn chụp lấy. Người lớn hiểu biết, đâu có bị lầm theo. Phàm phu thấy vi trần hòa hợp gọi là đất thực, bậc có thiên nhãn có thể thấy ra sự phân tán của đất này, ở nơi chỗ bắt đầu, vốn bất khả đắc, nên biết hình tướng nguyên là hư vọng.

Tổ Pháp Nhãn hỏi Trưởng Lão Bảo Tư rằng:

Người xưa nói, Núi sông không cách trở, Quang minh chốn chốn thấu suốt. Vậy làm sao là cái quang minh chốn chốn thấu suốt?

Ngài Bảo Tư nói:

Bờ Đông tiếng đánh lưới!

Tổ Quy Tông Nhu riêng nói rằng:

Hòa Thượng định cách trở!

Như chỗ hỏi đáp của hai vị tôn túc, chẳng có rỉ giọt, mà còn bị Quy Tông xét ra!

Thầy Tam Tạng Đại Nhĩ ở Ấn Độ đến kinh đô, tự nói là có tha tâm thông. Vua Túc Tông mời Quốc Sư Huệ Trung xét thử.

Quốc Sư nói:

Ông hãy nói lão tăng bây giờ ở tại đâu?

Vị kia đáp:

Hòa Thượng là thầy của một nước, sao lại đi Tây Xuyên xem đua thuyền!

Chặp lâu, lại hỏi:

Ông hãy nói lão tăng bây giờ ở tại nơi đâu?

Vị Tam Tạng đáp:

Hòa Thượng là thầy của một nước, sao có thể đến cầu Thiên Tân xem hát khỉ!

Chặp lâu, lại hỏi:

Ông nói lão tăng ngay bây giờ ở tại nơi đâu?

Thầy Tam Tạng chịu, không biết được.

Tổ sư quát rằng:

Con cáo đồng, tha tâm thông ở tại chốn nào?

Vị kia không đáp được.

Có nhà sư hỏi Tổ Ngưỡng Sơn:

Thầy Đại Nhĩ Tam Tạng vì sao trong lần thứ ba chẳng thấy được Quốc Sư?

Tổ Ngưỡng nói:

Hai lần trước là cái tâm giao thiệp với cảnh, còn lần sau thì vào Tam muội Tự thọ dụng, nên chẳng thấy!

Vị tăng thuật lại, và hỏi Tổ Huyền Sa.

Tổ Huyền Sa nói:

Ông nói hai lần trước thấy cái gì?

Lại có vị tăng hỏi Tổ Triệu Châu:

Trong lần thứ ba, vị Tam Tạng chẳng thấy Quốc Sư, chưa rõ Quốc Sư ở tại chỗ nào?

Tổ châu nói:

Ở trên lỗ mũi Tam Tạng!

Vị tăng sau lại hỏi Tổ Huyền Sa:

Đã ở trên lỗ mũi, tại sao mà chẳng thấy?

Tổ Huyền Sa nói:

Chỉ vì quá gần!

Tổ Thiên Đồng nêu ra rằng:

Tam Tạng không thấy Quốc Sư hãy để đó. Ông hãy nói xem Quốc Sư có tự biết chỗ không? Nếu nói là tự biết, thì trăm chim ngậm hoa, Chư Thiên cúng dường, chưa có ngày thôi! Hãy nói chính ngay lúc ấy, ở tại chốn nào?

Thế, có thể biết Quốc Sư hai lần tâm giao thiệp với cảnh, chẳng ngăn ngạïi mỗi mỗi phát minh thì mỗi mỗi hiện ra. Huống như Diệu Giác Minh Tâm là cái Tam Muội Tự thọ dụng thì chỗ ở làm sao mà biết, sao còn gạn hỏi chuyện lấn diệt hay chẳng tương dung?

* * * * *



VI. CHỈ TÁNH DIỆU MINH LÀ NHƯ LAI TẠNG, RỜI CẢ HAI NGHĨA “PHI” VÀ “TỨC”


Kinh:

Phú Lâu Na, ông lấy cái Sắc, cái Không mà lấn cướp lẫn nhau ở nơi Như Lai Tạng, thì Như Lai Tạng theo ông làm Sắc làm Không, toàn khắp pháp giới. Vậy nên ở trong đó, Gió thì động, Hư Không thì yên lặng, mặt trời thì sáng, mây thì tối. Chúng sanh mê muội, trái với Giác, hợp với Trần, nên phát ra trần lao mà có các tướng thế gian.

Ta thì lấy Tánh Diệu Minh, bất sanh bất diệt, hợp với Như Lai Tạng. Như Lai Tạng đó chính là Tánh Giác Diệu Minh, tròn vẹn chiếu soi pháp giới. Thế nên, ở trong ấy, một là vô lượng, vô lượng là một, trong nhỏ hiện lớn, trong lớn hiện nhỏ, đạo tràng bất động, cùng khắp mười phương thế giới. Thân trùm cả mười phương hư không vô tận, nơi đầu một mảy lông, hiện ra cõi Phật, ngồi trong vi trần, chuyển bánh xe pháp lớn. Diệt trần hợp Giác, nên Chân Như Diệu Giác Minh Tánh hiện bày.

Thông rằng: Chưa ra khỏi luân hồi mà bàn luận Viên Giác, thì Tánh Viên Giác cũng cùng trôi lăn. Nếu hết khỏi luân hồi thì làm gì có chuyện đó. Tức ở đoạn này nói: Lấy cái tướng của Sắc, của Không, mà lấn cướp lẫn nhau để luận Như Lai Tạng thì Tánh Như Lai Tạng cũng theo Sắc Không mà thành tam giới lưu chuyển; như vậy mà muốn khỏi thế gian nhọc mệt thì không thể có. Chúng sanh mê muội, không thấu suốt được rằng Sắùc Không cùng với ta vốn là một Thể. Vì hình tướng trói buộc nên đụng đâu cũng thành ra trở ngại, chính là vì trái với Tánh Giác, nên vốn là Minh mà chẳng được Diệu, bèn gọi đó là Mê. Trần tướng thuộc về sanh diệt, nguyên chẳng phải vốn có. Tánh Giác tuyệt không sanh diệt, chẳng nhờ ngoài đến. Chẳng phải vốn có, thì có thể diệt; chẳng ở ngoài đến, nên có thể hợp cùng. Đó là Chân Như Diệu Giác, tròn đủ chiếu soi pháp giới, một tức tất cả, tất cả tức một, ngang dọc tự do, sự sự vô ngại. Đây là diệu dụng không thể nghĩ bàn, chẳng phải do tu mà thành, nên tạm nói là hiện bày ra mà thôi vậy.

Luận An Tâm Pháp Môn của Sơ Tổ Đạt Ma nói:

Khi mê thì người đuổi theo pháp, khi ngộ thì pháp đuổi theo người. Ngộ thì thức thu nhiếp sắc, mê thì sắc thu nhiếp thức. Hễ có tâm phân biệt so đo trong hiện lượng của Tự Tâm, bèn đều là mộng. Nếu thức tâm tịch diệt, không có một chỗ nào cho động niệm, đó gọi là Chánh Giác.

Ngài Thần Tú làm bài kệ:

Thân là cây Bồ Đề,
Tâm như đài gương sáng.
Luôn luôn siêng chùi lau,
Chớ để bám bụi trần
.

Chỉ một cái Siêng Chùi Lau đó, bèn là lấy Tâm Sanh Diệt mà hợp với Như Lai Tạng, nên mới ở ngoài cửa. Bài kệ của Đức Lục Tổ là:

Bồ Đề vốn không cây,
Gương sáng chẳng phải đài.
Xưa nay không một vật,
Chỗ nào dính bụi đời
?

Chỉ cái Không Một Vật này, bèn là lấy Chẳng Sanh Chẳng Diệt hợp cùng Như Lai Tạng, hợp nối địa vị Tổ vậy.

Tổ Triệu Châu thượng đường nói:

Như ngọc sáng trong tay, người Hồ đến thì người Hồ hiện, kẻ Hán đến thì kẻ Hán hiện. Lão tăng cầm một cọng cỏ dùng làm thân vàng trượng sáu. Lấy thân vàng trượng sáu dùng làm một cọng cỏ. Phật là phiền não, phiền não là Phật.

Có nhà sư hỏi:

Phật là phiền não của nhà nào?

Tổ đáp:

Là phiền não đối với tất cả mọi người.

Hỏi:

Làm sao được khỏi?

Tổ Triệu Châu nói:

Dùng cái khỏi để làm gì?

Ở đây, Tổ Triệu Châu không dùng cái Diệt Trần, không dùng sự Hiệp Giác, lại hay ở trong nhỏ hiện lớn, trong lớn hiện nhỏ, đủ để cùng Lục Tổ nắm tay cùng đi!

Tổ Viên Chiếu thượng đường nói:

Nơi đầu một mảy lông, hiện quốc độ Phật, ngồi trong vi trần, chuyển bánh xe pháp lớn.

Cầm đứng cây gậy lên mà nói:

Cái này đây là Trần, làm sao nói là cái đạo lý chuyển pháp luân? Hôm nay sơn tăng chẳng tiếc lông mày, mà nói rõ với các ông: Đưa lên thì nước biển nổi sóng, núi Tu Di chập chùng! Bỏ xuống thì bốn biển lặng trong, đất trời nghiêm tĩnh.

Xin hỏi các ông:

Đưa lên là phải? Bỏ xuống là phải? Nên đoạn hay chẳng đoạn, lưỡng trùng công án!

Rồi gõ thiền sàng mà xuống toà.

Lại nữa, Ni Sư Diệu Tổng thượng đường nói:

Tông thừa một phen xướng lên, thì Ba Tạng hết đường dẫn giải. Tổ lệnh thi hành ra, mười phương yên dứt. Hàng Nhị Thừa nghe đến hoảng hồn chạy mất, Thập Địa đến chỗ này vẫn còn như nghi. Nếu là bậc tuấn kiệt, thì chưa nói đã rõ. Giả sử có thủ đoạn dời sao, đổi Bắc Đẩu, bày bố trương cờ gióùng trống thì cũng bỏ công, nào có thật nghĩa! Một đường hướng thượng, ngàn Thánh chẳng truyền, người học nhọc công, như vượn bắt bóng! Linh Sơn phó chúc, rủ lòng thuận với thời cơ mà diễn nói ba Thừa, mỗi tùy theo căn khí. Bắt đầu ở vườn Lộc Uyển, chuyển pháp luân Tứ Đế, độ trăm ngàn vạn chúng.

Ngày nay, sơn tăng cùng với địa phương nơi này, cũng Phật cũng Tổ, sông núi, đất đai, cỏ cây rừng bụi, bốn chúng ngay đây, mỗi mỗi đều chuyển đại pháp luân, ánh sáng giao nhau thành lưới báu. Nếu mỗi một cọng cỏ, mỗi một cội cây không chuyển đại pháp luân thì chẳng gọi được là chuyển pháp luân lớn. Bởi thế mà nói nơi đầu một mảy lông hiện ra cõi nước Chư Phật, ngồi nơi một vi trần, chuyển bánh xe pháp lớn. Ở trong thời gian không gian ấy mà làm ra vô lượng vô biên Phật sự rộng lớn, khắp cùng pháp giới, một là vô lượng, vô lượng là một, trong nhỏ hiện lớn, trong lớn hiện nhỏ. Chẳng động bước mà dạo chơi lầu các Di Lặc. Chẳng xoay lại cái Nghe mà nhập vào cửa mở khắp của Quan Âm. Tình với vô tình, Tánh Tướng bình đẳng, chẳng phải là Thần thông diệu dụng, cũng chẳng phải Pháp vốn như thế.

Ở chỗ này mà tự do rành rẻ thì ơn vua, ơn Phật tức thời trả hết! Hãy nói như thế nào là một câu trả ơn?

Trời cao muôn trượng ở,

Biển rộng trăm sông về.

Các vị tôn túc khế hợp sâu xa với cảnh giới Diệu Minh, cực lực tuyên dương, lời lời đều có đạo vị.


Kinh:

- Nhưng Như Lai Tạng Bản Diệu Viên Tâm không phải là Tâm, không phải là Địa, Thủy, Phong, Hỏa; không phải là Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý; không phải Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp; không phải Nhãn Thức Giới cho đến không phải là Ý Thức Giớùi; không phải là Minh hay Vô Minh, không phải hết Minh hay hết Vô Minh, như vậy cho đến không phải là Lão, không phải Tử, không phải hết Lão, Tử; không phải là Khổ, Tập, Diệt, Đạo; không phải Trí, không phải Đắc; không phải là bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí huệ; không phải là Ba La Mật Đa, như vậy cho đến cũng không phải là Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, không phải Đại Niết Bàn, không phải Thường, không phải Lạc, không phải Ngã, không phải Tịnh; tất cả đều chẳng phải, chẳng phải là pháp thế gian hay xuất thế gian.

Tức Như Lai Tạng Diệu Minh Tâm Nguyên, tức là Tâm, tức là Không, tức là Địa, Thủy, Phong, Hỏa tức là Nhãn, Nhĩ, Tỹ, Thiệt, Thân, Ý; tức là Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp; tùức là Nhãn Thức Giới cho đến tức là Ý Thức Giới; tức là Minh, tức là Vô Minh, tức là Minh và Vô Minh tận, như thế cho đến tức là Lão, tức là Tử, tức Lão Tử tận; tức là Khổ, Tập, Diệt, Đạo; tùức là Trí, tức là Đắc; tức là bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí huệ, tùức là Ba La Mật Đa. Như thế cho đến tức là Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri; tức là Đại Niết Bàn, tức là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, tất cả đều tức là, tức là pháp thế gian và xuất thế gian vậy.

Tức cái Như Lai Tạng Diệu Minh Tâm Nguyên, lìa Tức là, lìa Chẳng phải, cũng Tức là cũng Chẳng phải. Làm sao chúng sanh trong ba cõi và các hàng Thanh Văn, Duyên Giác xuất thế gian, lấy cái tâm có chỗ biết mà đo lường Bồ Đề Vô Thượng của Như Lai, hay dùng ngôn ngữ thế gian mà vào Tri Kiến Phật.

Thông rằng: Đoạn kinh này chỉ có Ngài Trường Thủy là xếp lại có thứ tự.

Nói rằng:

Bản Diệu Viên Tâm không phải là Tâm, không phải là Không, hết thảy đó, là tóm về Chẳng phải Tướng để hiển bày Chân Đế.

Nói rằng:

Nguyên Minh Diệu Tâm tức là Tâm, tức là Không, hết thảy đó, là tóm về Tức là Tướng để hiển rõ Tục Đế.

Nói rằng:

Diệu Minh Tâm Nguyên lìa Tức Là, lìa Chẳng Phải cũng Tức Là cũng Chẳng Phải, là tóm về phủ che và soi chiếu để hiển bày Trung Đạo. Phủ che cả chân lẫn tục, nên nói lìa Tức là, lìa Chẳng phải. Chiếu soi cả chân và tục, nên nói cũng Tức là cũng Chẳng phải.

Ba Đế là một Thể, nên đều nói tức là Như Lai Tạng.

Ban đầu, lấy cái chẳng phải để dẹp tướng, kế đó lấy chỗ Tức là để dẹp cái Chẳng phải, cuối cùng nói rằng còn mang vác danh từ, lời nói thì chưa cùng tột ý chỉ của Nhất Chân. Lìa Tức là lìa Chẳng phải, không cả Chẳng phải và Không chẳng phải, ngôn ngữ hết đường, tâm hành tuyệt dấu, mới hiển lộ Nhất Chân pháp giới Như Lai Tạng Tâm. Cho nên, trong kinh Duy Ma Cật, ba mươi mốt vị Bồ Tát thuyết pháp môn Bất Nhị đều dùng lời nói để dẹp hình tướng, còn Ngài Văn Thù lấy lời nói để dẹp lời nói. Đức Duy Ma Cật lấy không lời nói mà dẹp lời nói, mới là rốt ráo.

Tất cả pháp thế gian không ra ngoài năm Ấm, bảy Đại, Căn, Trần, Xứù, Giới. Pháp xuất thế gian không ra ngoài Thanh Văn, Duyên Giác nhị thừa. Chỉ có Bồ Tát với Phật, ở nơi thế mà xuất thế, chẳng có chuyên về xuất thế vậy. Tâm thuộïc về Thức, nên thu nhiếp năm Ấm, Nhãn Thức Giới v.v… thì thu nhiếp mười hai Xứ. Đó là sáu cõi phàm phu vậy. Hàng Duyên Giác quán mười hai nhân duyên, có tướng sanh khởi, có tướng tu trừ, đó là cảnh giới Duyên Giác. Biết cái Khổ, đoạn cái Tập, chứng Diệt, tu Đạo, là cảnh giới Thanh Văn. Có Trí, có Đắc, cho đến sáu Ba La Mật, là cảnh giới của Bồ Tát. Ba hiệu Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri và bốn Đức Niết Bàn, Thường, Lạc, Ngã, Tịnh đều là Phật Giới. Thế gian và xuất thế gian không ngoài những cảnh giới trên. Nếu nơi mỗi Giới mà chấp trước vào cái Tức là thì chẳng có tròn vẹn, nên phải ở nơi Chẳng phải mà thấy tròn vẹn. Một khi chấp trước lấy cái Chẳng phải, thì chẳng diệu, nên phải ở nơi Tức là để thấy cái Diệu. Diệu mà Minh, Minh mà Diệu, chẳng phải Tức, chẳng phải Phi, cũng là Tức, cũng là Phi, Năng Sở đều lìa, không còn chút bóng dáng vang vọng nào khá được, đó là Bồ Đề Vô thượng chân thật vậy.

Ngài Mã Minh nói:

Cái “Chân Thật Không” ấy là từ xưa đến nay không tương ưng với tất cả nhiễm pháp, lìa tất cả pháp và tướng sai biệt, không có một chút tâm phân biệt hư vọng vậy. Nên biết Chân Như chẳng phải là có tướng, chẳng phải là không có tướng, chẳng phải là “Hữu Vô Tướng”, chẳng không phải “Hữu Vô Tướng”, chẳng phải tướng khác, chẳng tướng Một hay Khác, chẳng phải không tướng Một, Khác. Nói tóm lại, vì hết thảy chúng sanh có phân biệt hư vọng, nên không thể tiếp xúc được Chân Như. Thế nên, chúng sanh ba cõi thì thấy cái Giả của Chân Như; Thanh Văn, Duyên Giác thì thấy cái Không của Chân Như, nên đối với Trung Đạo Đế của Bồ Tát còn không thể đo lường nổi, huống là Đệ Nhất Nghĩa Đế. Chỉ có Phật cùng với Phật mới có thể thấu suốt rốt ráo. Ngay hàng Đăng Địa Bồ Tát, còn có chỗ chẳng thấy, thì há ngôn ngữ thế gian mà có thể suy đoán tăm hơi ư? Vô Thượng Bồ Đề không thể lấy tâm trí mà biết, không thể lấy lời lẽ nói năng mà nhập, càng thâm nhập thì càng thấy chỗ nhiệm mầu của nó vậy.

Có nhà sư hỏi Tổ Mã Tổ:

Hòa Thượng vì sao nói. Tức Tâm tức Phật?

Đáp:

- Để dỗ trẻ con nín khóc.

Hỏi:

Nín rồi thì như thế nào?

Đáp:

Chẳng phải Tâm, chẳng Phật.

Hỏi:

Người ngoài hai loại ấy đến chỉ dạy làm sao?

Đáp:

Vì y mà nói chẳng phải vật.

Hỏi:

Bỗng gặp người trong ấy đến thì như thế nào?

Đáp:

Liền dạy y thể hội đạo lớn.

Ngài Mã Tổ đã ở trong Niết Bàn Diệu Tâm nên xuất lời, hà hơi đều hợp với Tâm đó.

Lại nữa, Đức Mã Tổ nghe Ngài Đại Mai trụ sơn, mới bảo nhà sư đến hỏi:

Hòa Thượng ra mắt Mã đại sư, được cái gì mà trụ núi này?

Ngài Đại Mai nói:

Đại sư nói với tôi Tức Tâm, Tức Phật. Tôi bèn ở trong ấy mà trụ.

Nhà sư nói:

Gần đây, Phật Pháp của đại sư lại khác.

Ngài Mai nói:

Ra sao?

Đáp:

– Đại sư lại nói

Chẳng phải Tâm, chẳng phải Phật.

Ngài Đại Mai nói:

Cái ông già ấy làm mê loạn người chưa có ngày thôi! Mặc kệ ông ta chẳng phải Tâm, chẳng phải Phật. Tôi vẫn tức Tâm, tức Phật!

Nhà sư ấy về thưa lại với Đức Mã Tổ, Ngài nói:

Trái mơ (Đại Mai) chín rồi vậy.

Thiền sư Đông Tự Hội thường sợ đệ tử lấy câu Tức Tâm, Tức Phật mà đàm luận, ghi nhớ, đọc tụng không ngừng.

Ngài bảo:

Phật trụ chỗ nào mà nói tức Tâm? Tâm như ông thầy vẽ, sao nói tức Phật?

Bèn khai thị cho chúng rằng:

Tâm chẳng phải Phật, Trí chẳng phải Đạo. Gươm mất đã xa rồi, mới khắc dấu vào ghe!

Tổ Nam Tuyền có lần nói:

Giang Tây Mã Tổ dạy tức Tâm tức Phật, Vương Lão sư (là Nam Tuyền) chẳng nói thế! Chẳng phải Tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải Vật, nói như thế thì có lỗi gì chăng?

Ngài Triệu Châu lễ bái rồi bỏ đi ra.

Khi ấy có nhà sư hỏi Tổ Triệu Châu:

Thượng Tọa lễ bái rồi bỏ đi ra, là ý gì thế?

Ngài nói:

Ông hãy trở lại hỏi lấy Hòa Thượng.

Nhà sư bèn hỏi Tổ Nam Tuyền:

Vừa rồi ý của Triệu Thượng Tọa là thế nào?

Tổ Truyền nói:

Ông ấy lãnh hội được ý chỉ Lão tăng. Ở nơi chỗ dụng xứ của các vị lão túc mà chẳng có nghi, mới có thể nhập Phật Tri Kiến.


Kinh:

- Ví như đàn cầm, sắt, không hầu, tỳ bà tuy là có diệu âm, mà không có ngón tay diệu thì rốt cuộc chẳng phát ra được. Ông và chúng sanh cũng như thế đó. Cái Chân Tâm hằng giác quý báu, mỗi mỗi đều tròn đủ. Như ta ấn ngón tay thì Hải Ấn phát ra ánh sáng. Còn các ông vừa tạm khởi tâm, thì trần lao đã nổi dậy. Do chẳng siêng năng cầu đạo Vô Thượng Giác, ưa nhớ Tiểu Thừa được chút ít đã cho là đủ.

Thông rằng: Diệu Minh, Minh Diệu chính là Diệu Âm này, với cái diệu của ngón tay đều chẳng phải là chỗ nghĩ bàn có thể đến được. Tức là như ta ấn ngón tay, tiếng nhiệm mầu theo đó phát ra, như Hải Ấn phát sáng, sắc sắc tròn đầy, có gì tạo tác đâu?

Kinh Đại Tập nói:

Toàn thể sắc tượng của cõi Diêm Phù Đề đều là ấn văn của đại hải, nên gọi là Hải Ấn. Các ông thì vừa mới móng tâm, cũng như đàn với tay chẳng có rập nhau, đã chẳng nghe được nhiệm mầu, mà trần lao nổi lên loạn xạ. Chỉ vì dùng cái tâm sanh diệt tương ưng với Như Lai Tạng, không tùy thuận Định Huệ chiếu soi, mà tùy với vô minh phiền não, nên có trần lao. Trần lao che khuất thì tuy có Chân Tâm Bảo Giác, mỗi mỗi tròn đầy, cũng không thể phát ra được.

Thiền sư Đông Minh Thiên, một hôm đang đọc kinh Lăng Nghiêm, có vị đạo giả tên Trung hỏi:

Như Ta ấn ngón tay thì Hải Ấn phát quang, ý Phật như thế nào?

Ngài nói:

Cái lão Thích Ca, đáng cho hai mươi gậy!

Hỏi:

Vì sao như thế?

Đáp:

Dùng ấn ngón tay làm gì?

Hỏi:

Ông vừa móng tâm, trần lao đã nổi, lại là sao?”

Đáp:

Đó cũng là Hải Ấn phát quang!

Kỳ diệu thay, kỳ diệu thay! Phải thấy được như thế mới gọi là chuyển Lăng Nghiêm.

Thiền sư Tiến Phúc Ngộ Bổn thượng đường nói:

Vua Càn Thát Bà vừa tấu nhạc, thì núi sông, đất đai đều nhảy múa. Có đâu như lão què Vân Môn, thoát đạo Hai Mươi Lăm tháng Chạp! Bác Sơn này ngày nay, có Điều thì chụp Điều, không có Điều thì chụp lấy Lệ, chỉ cần ứng với thời tiết.

Bỗng cầm lên cây gậy, gác ngang đầu gối, làm thế gãy đàn, rồi nói:

Có nghe thưởng thức tiếng đàn chăng?

Chặp lâu nói rằng:

Dầu cho làm tiếng phụng hoàng kêu. Rốt cuộc có ai hay Chỉ Pháp!

Đánh vào bàn một cái, rồi xuống tòa.

Than ôi, Chỉ Pháp há thật chẳng truyền sao? Siêng năng cầu đạo Vô Thượng Giác, tự mình hiện được đó.

* * * * *



VII: CHỈ MÊ VỌNG KHÔNG CÓ NHÂN, HẾT MÊ LÀ BỒ ĐỀ


Kinh: Ông Phú Lâu Na thưa : “Chân Tâm tròn sáng, trong sạch nhiệm mầu Của tôi và của Như Lai, đều tròn đầy không hai, thế mà Tôi từ xưa mắc lấy Vọng Tưởng, ở lâu trong luân hồi Nay được Thánh Thừa, còn chưa rốt ráo. Thế Tôn thì các Vọng đều diệt sạch, độc chỉ một Chân Thường mầu nhiệm. Xin hỏi Như Lai, tất cả chúng sanh nhân gì mà có Vọng, tự Mình che lấp tánh Diệu Minh, phải chịu sự trôi chìm này?”

Phật bảo ông Phú Lâu Na : “Ông tuy trừ được nghi ngờ, mà các điều Lầm còn sót lại chưa dứt hết. Nay ta lại lấy những việc Thế gian trước mắt mà hỏi ông. Ông há chẳng có nghe trong Thành Thất La Phiệt, có anh Diễn Nhã Đạt Đa vào buổi sáng Lấy cái gương soi mặt, bỗng ưa cái đầu trong gương và Mày mắt có thể thấy được, rồi nổi giận trách cái đầu Của mình sao không thấy mặt mày, cho là loài yêu quái, rồi Không vì cớ gì phát điên lên bỏ chạy.Ý ông thế nào ? Người ấy vì nguyên nhân nào mà khi không phát điên bỏ chạy?”

Ông Phú Lâu Na thưa: “Tâm người ấy điên cuồng, chứ không có lý do Nào khác.”

Đức Phật Nói: “Tánh Diệu Giác tròn đầy vốn sáng suốt, nhiệm mầu Tròn khắp. Đã gọi là Vọng thì làm sao có nhân, nếu có Nguyên nhân thì sao gọi là Vọng ? Chỉ tự các Vọng Tưởng Xoay vần làm nhân cho nhau, từ cái Mê mà tích chứa thêm Mê, Trải qua vô số kiếp nhiều như bụi. Tuy Phật chỉ rõ ra, Còn chưa thể trở lại. Như thế, nguyên nhân của Mê chỉ Là nhân Mê mà tự có. Tỉnh ngộ cái Mê ấy vốn không có Nguyên nhân, Vọng nào còn có chỗ nương dựa? Còn không có Chỗ sanh ra, muốn diệt cái gì?

Người được Bồ Đề như người tỉnh giấc, kể lại chuyện trong chiêm Bao, tâm dù rõ ràng nhưng đâu còn nhân duyên nào nữa để Cầm được vật trong mộng? Huống là cái Mê thấy mọi sự Hiện giờ chẳng có nguyên nhân ở đâu cả, vốn không chỗ Có! Như anh chàng Diễn Nhã Đạt Đa trong thành Kia nào có nhân duyên gì, bỗng tự sợ cái đầu mình rồi Bỏ chạy. Tự nhiên hết điên, thì cái đầu đâu phải từ ở ngoài mà có được. Dầu chưa hết cuồng, cái đầu kia Cũng có khi nào mất.

Phú Lâu Na, bản tánh của Vọng là như vậy đó, đâu có nguyên nhân Gì mà có?

Ông chỉ Không tùy theo phân biệt các thế gian, nghiệp quả và chúng Sanh, ba thứ tương tục đó. Ba Duyên ấy đã đoạn, thì ba Nhân cũng chẳng sanh, liền trong tâm ông cái điên cuồng của Chàng Diễn Nhã Đạt Đa tự hết. Hết đó tức là Bồ Đề, Cái Tâm tuyệt vời trong sạch sáng suốt, vốn khắp cùng pháp Giới, không do đâu mà được, nào phải nhọc nhằn khẩn Thiết tu chứng gì đâu.

Thông rằng: Ông Phú Lâu Na đã chứng Hết Lậu, đã được Thánh Quả, sao lại còn các điều mê lầm còn sót chưa hết dứt? Chỉ vì trước kia có dụng công diệt trừ vọng tưởng, Nghĩa là cái Tâm diệt trừ vọng tưởng này chính là cái Giác Minh Phân Biệt sợ cái đầu của mình mà phát điên bỏ Chạy ! Diệt Vọng cầu Chân, có cái Chân để đắc thì cũng Như nhìn cái đầu trong gương, mày mắt thấy được. Chân Nào có mất bao giờ, nhưng khó nổi đo lường, cũng như cái Đầu vốn chẳng hề mất mà mặt mày khó thấy. Một khi sanh Phân biệt đây là chúng sanh, đây là nghiệp quả rồi cho Là khác với Chân Như của ta. Thế dầu có được Chân Như, Do đoạn trừ Vọng mà chứng đắc, cũng chẳng phải là Tự Tánh Thiên Chân Phật xưa nay vậy. Ông Phú Lâu Na chưa thấu Rõ chỗ này, nên cho rằng Vọng đã có thể diệt, thì vọng Sanh ắt phải có nguyên nhân, cần biết cái nguyên nhân của Nó, mới đoạn trừ được.

Ở đoạn Trước đã nói: nhân Minh mà lập Sở, chính bởi vì thế Mà Vọng sanh ra. Thế ấy cũng là phân biệt, chính thật là Vọng!

Đức Thế Tôn chỉ thẳng Đốn Môn, chẳng cần diệt Vọng, chỉ ngưng Đi phân biệt, thì Bồ Đề tự sanh đủ. Chỉ thôi chạy Điên, thì cái đầu xưa vẫn y nguyên ra đó!

Sở dĩ vọng Phân biệt, Vọng chạy điên, là vì tích chứa mê lầm mà Có. Cái Mê vốn chẳng nhân đâu mà có, không từ Mê mà sanh Ra, không từ Ngộ đến. Mê đã không gốc gác gì, thì Vọng Nương đâu mà có? Vọng thật không chỗ nương, Vọng vốn Chẳng sanh vậy. Vọng nguyên là chẳng sanh, không đâu mà có Thể diệt. Diệt mà không đâu có thể diệt, đó là Tịch Diệt Hiện Tiền.

Tánh Diệu Giác tròn sáng, vốn sáng suốt nhiệm mầu tròn khắp, nguyên Là không có chuyện sanh diệt, tuyệt không có mảy mún vọng Nào cả. Trong Bồ Đề, tìm cái Chân còn không thể được, Thì từ chỗ nào kiếm được cái vọng ư?

Cho nên, không Tùy thuận theo phân biệt nơi chỗ sanh ra của ba thứ tương Tục cùng cái nhân duyên đoạn trừ để cho khỏi sanh ra, tức Thì một tâm niệm chẳng sanh, vạn pháp nào có lỗi? Đó Là cái Bồ Đề tuyệt trần trong sạch, nào mượn sức người Tu chứng để được ư? Ba Duyên tịch diệt, ba Nhân chẳng Sanh, ở ngay trong đó mà tự thành Diệt Tận Định.

Ông Phú Lâu Na đều thường khởi ra các sự phân biệt, cho là Bồ Đề Do tu chứng mà được. Chỉ cần đừng phân biệt rối rắm Như vậy, thì không có Vọng nào để khá diệt, không có Chân Nào khá đắc, bèn là thanh tịnh bổn nhiên, toàn khắp pháp Giới. Nếu nói Như Lai Độc Diệu Chân Thường, là do cả Thảy đều trọn dứt diệt mà chứng được, thì chưa thấy Chỗ diệu kỳ của Như Lai vậy.

Có nhà sư Hỏi Tổ Hoàng Bá: “Như nay hiện có đủ thứ vọng niệm, Vì sao lại nói không?”

Tổ Hoàng Bá nói: “Vọng vốn không có tự thể, chỉ là nơi Tâm của ông khởi lên. Như ông biết Tâm nguyên là Phật, Tâm vốn Chẳng có vọng, thì Tâm nào có khởi, luống lại đi nhận Vọng ư? Như ông chẳng sanh tâm động niệm, thì tự nhiên Chẳng có vọng nào cả. Do đó mới nói: Tâm sanh thì thảy Thảy pháp sanh, tâm diệt thì thảy thảy pháp diệt.”

Nhà sư hỏi: “Nay ngay lúc vọng niệm khởi, thì Phật tại chỗ nào?”

Tổ Bá nói: “Nay ngay khi ông tỏ ra biết vọng niệm khởi lên, thì cái Tỏ biết đó chính là Phật. Còn trong ấy mà không có vọng Niệm, thì Phật cũng không. Vì sao như thế ? Vì ông khởi Tâm làm nên cái thấy Phật, bèn là có Phật để thành. Làm Nên cái thấy có chúng sanh, bèn là có chúng sanh để độ. Khởi tâm động niệm đều là chỗ thấy của ông. Nếu không Có tất cả mọi cái thấy thì Phật có ở chốn nào ? Như Ngài Văn Thù vừa khởi lên cái Phật Kiến, liền bị hai ngọn Núi Thiết Vi đè!

Nhà sư hỏi: “Nay chính lúc tỏ ngộ, Phật ở tại chốn nào?”

Tổ Bá đáp: “Cái hỏi đó từ đâu mà lại? Cái Giác đó từ đâu mà Khởi lên? Nói, nín, động, tịnh, cả thảy thanh sắc, toàn Là Phật sự, chỗ nào tìm Phật? Chẳng thể trên đầu lại Chồng thêm cái đầu, trên miệng để thêm cái miệng! Chỉ Đừng sanh dị kiến, thì núi là núi, nước là nước, tăng Là tăng, tục là tục. Núi sông đại địa, nhật nguyệt tinh Tú đều chẳng ra ngoài Tâm ông. Tam thiên thế giới đều Là tự kỷ của ông. Chỗ nào mà có lắm thứ? Ngoài Tâm Không pháp, ngập mắt núi xanh, thế giới, hư không, xứ xứ Sáng rỡ, không một mảy tơ để ông chen vào kiến giải. Thế nên, tất cả thanh sắc là con mắt huệ của Phật. Pháp Chẳng khởi lên một mình, nương cảnh mới có sanh, vì có Vật mà có nên nhiều trí. Suốt ngày nói mà nào từng nói. Suốt ngày nghe mà nào từng nghe. Như thế nên Đức Thích Ca Bốn mươi chín năm thuyết pháp mà chưa hề nói ra một chữ.”

Nhà sư hỏi: “Nếu như thế, chỗ nào là Bồ Đề?”

Tổ Bá nói: “Bồ Đề không là chỗ nào hết. Phật cũng chẳng đắc Bồ Đề, chúng sanh chẳng mất Bồ Đề. Không thể lấy thân Mà được đó, không thể lấy Tâm mà cầu đó. Tất cả chúng Sanh tức là tướng Bồ Đề.”

Nhà sư hỏi: “Như thế nào phát Bồ Đề Tâm?”

Tổ Bá nói: “Bồ Đề là không chỗ đắc. Nay ông chỉ phát tâm Vô Sở Đắc, quyết định không có một pháp nào để đắc, tức Là Bồ Đề Tâm. Bồ Đề không có chỗ sanh ra, cho nên không Có chuyện đắc. Thế nên nói rằng: “Ta ở chỗ Phật Nhiên Đăng, không có chút pháp nào có thể đắc, Phật bèn thọ Ký cho Ta.” Phải rõ rằng, tất cả chúng sanh vốn là Bồ Đề, Không lẽ trở lại đắc ư? Giờ đây ông hỏi phát Bồ Đề Tâm, muốn đem một cái tâm mà học lấy Phật Đạo. Chỉ Nghĩ định làm Phật Đạo thôi, thì mặc cho ông tu ba a tăng Tỳ kiếp cũng chỉ định được cái Báo Thân, Hóa Thân Phật. Thế thì đối với cái Chân Tánh Phật bổn nguyên của ông Có giao thiệp gì? Nên nói: Cầu bên ngoài ông Phật có hình Tướng, thì có giống gì ông đâu?”

Lại Tổ Lâm Tế nói rằng: “Chư vị học Đạo ở các nơi nói có Đạo để tu, có Pháp để chứng. Các ông thử nói xem chứng Pháp gì, tu Đạo gì? Hiện giờ đây chỗ dùng của các ông Có thiếu hụt cái gì đâu? Sửa sang thêm thắt chỗ nào? Các ông thầy trẻ tuổi hậu sinh không hiểu, liền tin ngay Đám cáo chồn tinh mị đó, để cho họ bày chuyện trói buộc Người khác.

Họ nói: Hình tướng đạo lý là do giữ gìn, mến tiếc ba nghiệp Mới được thành Phật.

Nói như Vậy thì chỉ như mưa bụi mùa Xuân.

Cổ nhân Nói: “Trên đường gặp người đạt đạo, thứ nhất là Chẳng hướng về đạo”!

“Do đó mà Nói: “Nếu Người tu đạo, đạo chẳng hành Muôn ngàn Tà cảnh lại đua sanh Gươm Trí Đưa ra không một vật Cái sáng Chưa bày, tối đã minh!.” “Bởi thế, Cổ nhân nói “Bình thường tâm là Đạo.” Đại Đức tìm kiếm Cái gì ? Ngay bây giờ đây, cái trước mắt nghe Pháp là đạo Nhân không chỗ nương, khắp chốn rõ ràng phân Minh, chưa từng thiếu hụt. Các ông như muốn cùng Phật, Tổ Chẳng khác, chỉ như thế mà thấy, chẳng khởi nghi lầm. Như các ông tâm tâm chẳng khác, thì gọi là Tổ. Tâm mà có Chút sai khác đi: Tánh, Tướng liền khác nhau. Tâm như như Chẳng khác, thì Tâm và Tướng không hai.”

Lại có nhà Sư hỏi thiền sư Tiến Phúc Tư rằng: “Điện xưa không có Phật thì như thế nào?”

Tổ Tư nói: “Phạm âm ở đâu tới?”

Lại hỏi: “Chẳng mượn tu chứng, làm sao đắc thành?”

Tổ Tư nói: “Tu chứng tức chẳng thành.”

Chỗ Thấy Của các vị tôn túc, mỗi mỗi đều suốt hợp với ý chỉ “Nào Phải nhọc nhằn, ráo riết tu chứng gì đâu?” Đây tức Là Niết Bàn Diệu Tâm, Chánh Pháp Nhãn Tạng, nào phải chờ Đến chuyện Linh Sơn đưa lên cành hoa, Ngài Ca Diếp mỉm cười, Rồi sau mới gọi là “Biệt truyền Tâm Ấn” ư?

* * * * *


Sách (pdf file): KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG

1. GIỚI THIỆU KINH LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
2. DUYÊN KHỞI CỦA KINH
3. GẠN HỎI CÁI TÂM
4. CHẤP TÂM Ở TRONG THÂN
5. CHẤP TÂM Ở NGOÀI THÂN
6. CHẤP TÂM NÚP SAU CON MẮT
7. CHẤP TÂM HỢP VỚI CHỖ NÀO THÌ LIỀN CÓ Ở CHỖ ẤY
8. CHẤP TÂM KHÔNG DÍNH DÁNG VÀO ĐÂU TẤT CẢ
9. CẦU ĐI ĐẾN CHỖ CHÂN THẬT
10. NƯƠNG CÁI THẤY, GẠN HỎI CÁI TÂM
11. CHỈ RÕ TÍNH THẤY KHÔNG PHẢI LÀ CON MẮT
12. Ý NGHĨA CHỦ VÀ KHÁCH
13. CHỈ TÁNH THẤY KHÔNG SANH KHÔNG DIỆT
14. CHỈ CHỖ ĐIÊN ĐẢO
15. LỰA BỎ TÂM PHAN DUYÊN ĐỂ CHỈ TÁNH THẤY KHÔNG THỂ TRẢ VỀ ĐÂU
16. LỰA RIÊNG TRẦN CẢNH ĐỂ NÊU RA TÁNH THẤY
17. NGHI TÁNH THẤY HIỆN Ở TRƯỚC MẮT
18. XIN CHỈ DẠY TÁNH THẤY CHẲNG DO THẤY
19. CHỈ RÕ Ý NGHĨA TÁNH THẤY KHÔNG PHẢI LÀ CÁI THẤY, VIÊN MÃN BỒ ĐỀ
20. TÓM THU: THU SẮC ẤM – THU THỌ ẤM – THU TƯỞNG ẤM
21. TÓM THU: THU HÀNH ẤM – THU THỨC ẤM – THU SÁU NHẬP
22. THU SÁU NHẬP (TT) – THU MƯỜI HAI XỨ
23. THU MƯỜI HAI XỨ (TT) – THU MƯỜI TÁM GIỚI
24. THU MƯỜI TÁM GIỚI (TT) – THU BẢY ĐẠI
25. THU BẢY ĐẠI (TT) – ĐỐN NGỘ PHÁP THÂN VÀ PHÁT NGUYỆN




Leave a Reply