THU BẢY ĐẠI (TT) – ĐỐN NGỘ PHÁP THÂN VÀ PHÁT NGUYỆN

Feb 20, 15 | Tâm Duyên | 1,161 views | No Comments



Share |




KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG

Nhẫn Tế Thiền Sư

-o0o-

QUYỂN III

PHẦN THỨ HAI: PHẦN CHÁNH TÔNG

CHƯƠNG I: CHỈ BÀY CHÂN TÂM

MỤC BẢY: TÓM THU VỀ NHƯ LAI TẠNG

Nghe MP3 (28/61): THU BẢY ĐẠI (TT) – ĐỐN NGỘ PHÁP THÂN VÀ PHÁT NGUYỆN


* * * * *



I. THU BẢY ĐẠI (TT)


heartKinh:

– A Nan, tánh Gió không có tự thể, khi động khi tĩnh bất thường. Ông thường sửa áo, vào trong đại chúng, gấu áo Tăng Già Lê động đến người gần bên thì có chút gió phất qua mặt người kia. Gió đó là do gấu áo cà sa mà ra, từ hư không mà phát khởi hay do mặt người kia mà sanh?

A Nan, nếu gió ấy phát ra do gấu áo cà sa, thì ông đã mặc cả gió, cái áo phải bay tung rời khỏi thân ông. Nay ta thuyết pháp, rủ áo ở trong hội này, ông hãy xem cái áo của Ta, gió ở nơi đâu? Không lẽ trong áo lại có chỗ chứa gió?

Nếu gió đó do hư không sanh ra, thì khi áo ông không động sao gió chẳng bay phất. Tánh của hư không thì thường còn, gió phải thường sanh ra. Còn khi không có gió, hư không phải diệt mất! Gió diệt có thể thấy được, hư không diệt thì có nghĩa gì? Bởi vì có sanh diệt, thì đâu có gọi là hư không? Còn đã gọi là hư không, thì gió ở đâu mà ra được?

Nếu gió ấy sanh ra do cái mặt người bị phất, thì đã do mặt người ấy sanh ra, lẽ ra phải phất vào ông, sao tự ông sửa áo mà lại phất ngược vào người kia?

Ông hãy xét kỹ: sửa áo là do nơi ông, mặt thuộc về người kia, hư không lặng yên chẳng hề lay động, thì gió từ phương nào phát động đến đây? Tánh của gió và của hư không cách biệt, chẳng có hòa, chẳng có hợp, không lẽ gió kia không do đâu mà tự có?

Ông thật không rõ rằng: Trong Như Lai Tạng, Tánh Gió là Chân Không, Tánh Không là Thật Gió, thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới tùy theo chúng sanh mà ứng vừa với chỗ hay biết.

A Nan, như một mình ông hơi động cái áo thì có chút gió bay ra. Khắp pháp giới đều phất, thì khắp các quốc độ đều có gió. Phong Đại có ở cùng khắp thế gian mà không có nơi chốn, chỉ theo Nghiệp mà phát hiện. Thế gian không biết, lầm cho là tánh Nhân Duyên hay tánh Tự Nhiên. Hết thảy đều là những phân biệt, đo lường của thức tâm, chỉ có lời nói, danh tự toàn không có thật nghĩa.

Thông rằng: Ông tự sửa áo mà áo không bay mất. Cái mặt thuộc người kia mà gió chẳng phất ngược lại. Hư không lặng yên, chẳng theo gió mà có sanh có diệt. Ba cái ấy chẳng can dự gì tánh lưu động của gió, thì cái gì mà cho là hòa hợp? Chẳng lẽ gió không đâu mà có ra, sao gọi là Tự Nhiên? Bởi vì Gió tức là Tánh, Tánh tức là Gió vậy. Chỉ theo nghiệp mà phát hiện ra, như áo động thì có gió sinh. Tánh cùng khắp pháp giới, thì gió cũng cùng khắp pháp giới, nên cùng gọi là Đại (lớn).

Nho gia nói Khôn là Đất, Khảm là Nước, Ly là Lửa. Tốn là Gió. Tất cả không ra ngoài Âm Dương. Âm Dương từ đâu sanh ra? Từ trong Động Tĩnh của Thái Cực sanh ra vậy. Mỗi vật đều đầy đủ một Thái Cực. Vạn vật đều suốt một thể Thái Cực. Chưa từng chẳng phải tức Lý là Sự, tức Sự là Lý. Nhưng mà ngộ Tâm là Thái Cực thì ít có thay! Đã ngộ Tâm là Thái Cực, dưới trời đâu có cái vật ở ngoài Tâm ư?

Tổ Ma Cốc đang quạt, có nhà sư hỏi:

– Tánh của gió thường trụ, không nơi nào chẳng khắp, Hòa Thượng còn động quạt làm gì?

Tổ Cốc nói:

– Ông chỉ biết “Tánh gió thường trụ”, mà không biết chuyện không đâu chẳng khắp.

Nhà sư nói:

– Sao là không đâu chẳng khắp?

Tổ Cốc lại phẩy quạt.

Nhà sư làm lễ. Tổ Cốc nói:

– Cái ông sư không có chỗ dùng, dẫu có ngàn ông thì có ích gì!

Lại Tổ Nam Tuyền hỏi nhà sư:

– Đêm qua gió mạnh, nhỉ?

Nhà sư đáp:

– Đêm qua gió mạnh. Tổ Tuyền nói:

– Thổi gãy một cành tùng trước cửa!

Sư nói:

– Thổi gãy một cành tùng trước cửa.

Tổ Nam Tuyền lại hỏi một nhà sư khác:

– Đêm qua gió mạnh, nhỉ?

Nhà sư nói:

– Là ngọn gió nào?

Tổ Tuyền nói:

– Thổi gãy một cành tùng trước cửa! Nhà sư nói:

– Là cây tùng nào? Tổ Tuyền nói:

– Một được, một mất.

Căn cứ vào chỗ đáp của hai vị tăng thì đều có hơi thở thiền tăng. Sao Ngài Nam Tuyền lại nói một được, một mất? Nếu định ngay ra được, mới cho là tự mình thấy Nam Tuyền.

Kinh:

– A Nan, hư không không có hình, nhân sắc mà hiển ra. Như trong thành Thất La Phiệt là chỗ xa sông, những người dòng Sát Lỵ, dòng Bà La Môn, dòng Tỳ Xá, dòng Thủ Đà hay dòng Phả La Đọa, dòng Chiên Đà La… Khi dựng nhà mới thì đào giếng để lấy nước. Đào lên một thước đất, thì trong đó có một thước hư không, như vậy cho đến đào lên được một trượng, thì trong đó lại được một trượng hư không. Hư không sâu hay cạn tùy theo đào lên nhiều hay ít. Hư không đó, do đất mà ra, nhân đào mà có hay không nhân gì mà tự sanh?

A Nan, hư không đó không do gì mà tự sanh, thì trước khi chưa đào đất, sao chỗ ấy lại không trống rỗng, mà chỉ thấy là đất, chẳng có gì thông suốt. Nếu nhân đất mà ra, thì khi đất được moi ra phải thấy có hư không vào. Nếu đất ra trước mà không thấy hư không vào, làm sao nói là hư không nhân đất mà ra? Còn nếu không ra, không vào thì hư không với đất vốn không khác nguyên nhân. Không khác tức là đồng, thì khi đất ra, hư không sao chẳng có ra? Nếu nhân đào mà ra, thì đào phải có ra hư không chớ chẳng phải ra đất. Nếu chẳng nhân đào mà có ra, khi tự đào thì ra đất, sao lại thấy hư không?

Ông hãy xét xem, xét kỹ, xem kỹ, sự đào do từ tay người chuyển vận theo phương hướng, đất thì từ nơi mặt đất mà dời đi, như thế hư không nhân đâu mà có ra? Sự đào và hư không: một cái thật, một cái hư, không tác dụng gì với nhau, chẳng phải hòa, chẳng phải hợp, chẳng lẽ hư không không do đâu mà tự có ra?

Nếu hư không đó bản tánh tròn đầy toàn khắp, vốn chẳng hề lay động thì phải biết rằng hiện giờ ngay trước mặt đây: Hư Không và Địa, Thủy, Hỏa, Phong đều gọi là năm Đại, bản tánh vốn chân thật, viên dung, đều là Như Lai Tạng, vốn không sanh diệt.

A Nan, tâm ông mê muội, chẳng ngộ bốn Đại vốn là Như Lai Tạng. Phải nhìn ngay hư không là ra, là vào hay chẳng phải ra, vào. Ông hoàn toàn không biết trong Như Lai Tạng: Tánh Giác là Chân Không, Tánh Không là Chân Giác, thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới tùy theo tâm chúng sanh mà ứng với lượng hay biết.

A Nan, như một cái giếng trống không thì hư không có trong một cái giếng, mười phương hư không thì cũng như vậy. Không Đại tròn đầy khắp mười phương, thật không nơi chốn, theo nghiệp mà phát hiện. Thế gian không biết, lầm cho đó là tánh Nhân Duyên hay tánh Tự Nhiên. Hết thảy đều là những phân biệt, đo lường của tâm thức, chỉ có lời nói, danh từ toàn không có thật nghĩa.

Thông rằng: Hư không chẳng có hình, sao có ra, vào? Chỉ bởi sắc hiện bày mà biết có hư không: có sắc thì chẳng phải là hư không, không có sắc tức là hư không. Sắc có đến, đi; hư không chẳng hề khởi, diệt. Khi tứ Đại diệt, hư không chẳng phải lúc ấy mới có. Bốn Đại có “đến đi”, hư không vốn chẳng hề “ra vào”. Tánh hư không tròn khắp cũng dễ hiểu, bốn Đại Chân Không cũng giống như vậy. Khi chưa tùy theo nghiệp thì thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới, vốn chưa hề không có. Khi đã theo nghiệp phát hiện rồi, tùy cảm tùy ứng mà đầy khắp thế gian thì cũng không phải lúc ấy mới có. Tướng có sanh diệt, Tánh không sanh diệt. Có sanh diệt, thì chẳng có Toàn Khắp. Còn cái Toàn Khắp thì tự nó không có sanh diệt, gọi đó là Như Lai Tạng, không từ đâu đến, không đi về đâu, há lại có sanh tử ở trong ấy ư?

Nói về cái ngoan không thì tuy không có ra vào, nhưng cũng là sanh diệt. Như sau này có nói: Hư Không sanh trong cái Đại Giác như một cái bọt sinh ra trong biển cả… Mười phương hư không cũng đều tiêu mất, chỉ duy cái Chân Không là Chân Giác vốn không sanh diệt.

Ở bốn Đại trước thì nói Chân Sắc, Chân Hỏa, Chân Thủy, Chân Phong đều dùng chữ Chân. Sau thì nói “Bốn Đại thanh tịnh” là đều nói trong Tánh. Không giữ lấy Tướng, bèn là “Tánh Chân Thật, viên dung đều là Như Lai Tạng, vốn không sanh diệt”. Thật rành rành tự tánh Chân Thật mà nói. Nếu các tướng hữu tình, làm sao mà viên dung vô ngại? Nói là Dung, thì “tức Sắc tức Không, tức Không tức Sắc”, chẳng hề thấy có dấu vết của ngũ Đại, duy chỉ thuần nhất một cái Không. Nói là Viên, thì “Không chẳng ngại Sắc, Sắc chẳng ngại Không”, ngũ Đại đắp đổi lẫn nhau, hiển xuất vô cùng mà chẳng rời Nhất Chân vậy.

Trước thì lấy tứ Đại mà dung hội Chân Không. Đây thì lấy Chân Không tan về Chân Giác. Rõ ràng cái gọi là Chân Không tức là Chân Giác, cái ngoan không làm sao so sánh được.

Thiền sư Hoàng Long Tổ Tâm thượng đường rằng:

– Tâm đồng Hư Không giới, bình đẳng với Tánh Không. Chứng đắc Tánh Không bèn không có pháp nào phải, trái. Cứ như thế mà ngơi nghỉ. Dừng chèo, thả neo về bến đậu thuyền. Cứ theo như môn đệ của lão tăng thì trời đất cách riêng không dính. Nói thử môn đệ của lão tăng có chỗ nào kỳ đặc:

Vác ngang ngọn lược chẳng đoái người,
Thẳng vào ngàn muôn đỉnh núi đi.

Lại có Ông Hồ Đinh Giao tham lễ Tổ Bửu Thọ. Tổ hỏi:

– Chẳng phải là Hồ Đinh Giao ư?

Ông Hồ trả lời:

– Không dám.

Tổ Tho nói:

– Có đóng được hư không chăng?

Ông Hồ nói:

– Xin Hòa Thượng đả phá cho!

Tổ Thọ bèn đánh.

Ông Hồ chẳng kham được ý chỉ ấy.

Tổ Thọ nói:

– Về sau sẽ có ông thầy lắm lời vì ông mà chỉ cho chỗ này.

Sau, Ông Hồ đến tham Ngài Triệu Châu.

Tổ hỏi:

– Chẳng phải là Hồ Đinh Giao ư?

Ông Hồ nói:

– Không dám.

Tổ Châu hỏi:

– Có đóng được hư không chăng?

Ông Hồ đáp:

– Xin Hòa Thượng đả phá cho!

Tổ Châu nói:

– Hãy đóng vào một đường giáp nối ấy!

Ông Hồ bèn kể chuyện bị gậy của Tổ Bửu Thọ.

Rồi hỏi:

– Không rõ lỗi ở chỗ nào?

Tổ Châu nói:

– Chỉ một đường giáp nối ấy còn chẳng biết làm sao, lại còn bảo người đả phá hư không!

Nhân đó, Tổ nói thay:

– Hãy đóng vào một đường giáp nối ấy!

Tổ Châu lại nói:

– Ta nói như thế thì đối cùng với Ông Bửu Thọ kia thật là ngàn dặm muôn dặm.

Ông Hồ bèn có chỗ thức tỉnh.

Hợp hai tắc mà xét, thì chứng đắc hư không cũng chẳng đúng, mà đả phá hư không cũng chẳng đúng. Vậy, thế nào mà thoát thân? Tham đi!

Kinh:

– A Nan, cái biết của Kiến Đại nhân Sắc Không mà có, ngoài ra là chẳng biết. Như hiện nay ông ở trong rừng Kỳ Đà, sớm mai thì sáng, chiều thì thấy tối. Đến lúc nửa đêm có trăng thì sáng, không trăng thì tối. Những tướng sáng, tối ấy do cái Thấy phân tích ra. Cái Thấy ấy với cái tướng sáng, tối và cả hư không là đồng một thể hay chẳng đồng một thể? Hay vừa đồng vừa chẳng đồng, vừa khác vừa chẳng khác?

A Nan, nếu cái Thấy đó cùng với sáng, tối và hư không vốn là một thể, thì sáng và tối tiêu diệt lẫn nhau. Khi tối thì không sáng, khi sáng thì không tối. Nếu cái Thấy cùng một thể với cái tối, thì khi sáng cái Thấy phải tiêu mất. Nếu cùng một thể với cái sáng, thì đến khi tối cái Thấy phải diệt. Làm sao còn thấy được sáng, thấy được tối. Còn như sáng và tối khác nhau, cái Thấy thì không sanh diệt, thì làm sao đồng một thể được?

Nếu cái Thấy đó không đồng một thể với cái sáng và cái tối thì lìa ngoài cái sáng, cái tối và hư không ông hãy phân tích cái Thấy có hình tướng gì? Lìa ngoài cái sáng, tối và hư không, cái Thấy đó cũng đồng là lông rùa, sừng thỏ. Nếu cả ba cái sáng, tối và hư không hoàn toàn khác nhau, thì đo đâu mà lập thành cái Thấy?

Sáng và tối trái ngược lẫn nhau làm sao đồng được! Lìa ngoài ba cái sáng, tối và hư không, cái Thấy vốn chẳng có gì, thì làm sao khác được? Cái phần của hư không hay cái phần của cái Thấy vốn không bờ mé, sao lại chẳng đồng! Thấy cái tối, thấy cái sáng, tánh không dời đổi làm sao lại chẳng khác!

Ông hãy xét kỹ, suy xét tinh vi, xem cho kỹ, thấy cho cùng: Sáng do mặt trời, tối từ đêm đen, thông thuộc về hư không, bít thuộc về đại địa, thì cái Thấy như thế nhân đâu mà có? Cái Thấy thì có biết, hư không thì vô tri, không phải hòa không phải hợp, chẳng lẽ cái Thấy không do đâu mà có?

Như sự Thấy, Nghe, Hay, Biết tánh nó đầy đủ toàn khắp, vốn chẳng động lay. Nên phải biết: Kiến Đại cùng với hư không vô biên, bất động cùng vốn bốn Đại Địa, Thủy, Hỏa, Phong có lay động đều gọi là sáu Đại, bản Tánh Chân Thật Viên Dung, đều là Như Lai Tạng, vốn không sanh diệt.

A Nan, tánh ông trôi chìm, không ngộ cái Thấy, Nghe, Hay, Biết của ông vốn là Như Lai Tạng. Ông hãy nhìn xem cái Thấy, Nghe, Hay, Biết này là sanh là diệt, là đồng là khác, là chẳng sanh diệt, là chẳng đồng, khác?

Ông nào có biết, trong Như Lai Tạng cái Thấy là Tánh Minh Giác, Tánh Minh Giác hiển lộ ra thành cái Thấy, thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới tùy theo tâm chúng sanh mà ứng với lượng hay biết.

Như một cái Căn Thấy thấy khắp Pháp Giới, thì cái Biết Nghe, Biết Ngửi, Biết Nếm, Biết Cảm Xúc, Biết các pháp đều là cái Diệu Đức sáng rỡ toàn khắp pháp giới, tròn đầy cả mười phương hư không, nào có riêng nơi chốn. Chỉ tùy nghiệp hiện bày, thế gian lại không biết lầm cho là tánh Nhân Duyên hay tánh Tự Nhiên. Hết thảy đều chỉ là sự phân biệt, đo lường của thức tâm: chỉ có danh tự, lời nói, toàn không có thật nghĩa.

Thông rằng: Năm Đại Địa, Thủy, Hỏa, Phong và Không ở trước thì đủ cả sáu trần: Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc và Pháp, gọi là Tướng Phần. Nay là sáu căn Thấy, Nghe, Hay và Biết cũng đều do bốn Đại trong sạch hợp thành. Phàm nhân có Sắc Không trước mắt, đối cảnh tức biết, chưa nhập vào sự phân biệt của năm Thức trước, đó gọi là Kiến Phần. Do đó, lấy Kiến Đại mà gồm chung.

Như một cái Căn Thấy thấy khắp pháp giới, thì cái Biết Nghe, Biết Ngửi, Biết Nếm, Biết Xúc, Biết Pháp cũng toàn khắp pháp giới, Diệu Đức rỡ ràng vậy. Sao đều gọi là Diệu? Có Hình bèn là Thấy, có Tiếng là Nghe, chẳng gấp mà lẹ, chẳng đi mà đến, không do nghĩ toan, chẳng bởi xếp đặt nên gọi là Diệu.

Cái Kiến Đại này không có tự thể, chỉ nhân cảnh mà có. Cảnh trước mặt nếu không có, cái Thấy cũng chẳng sanh. Há có một thể hay nhiều thể để cùng cảnh mà lìa mà hợp, để có thể luận là đồng, là khác theo tứ cú ư? Sự lập luận của tứ cú đều là hý luận vậy.

Thế nên, sáng, tối, thông, bít thay nhau ở trước mắt cũng như Địa, Thủy, Hỏa, Phong thay nhau giữa hư không. Cảnh có sanh diệt, cái Thấy không sanh diệt. Cảnh có động lay, cái Thấy không hề lay động. Nó toàn khắp pháp giới, cùng hư không chẳng hai. Nhưng cái Thấy thì có hay biết, ngoan không thì vô tri chẳng thể hòa hợp. Cái Giác tức là Không, gọi là Chân Không. Cái ngoan không thì sanh diệt, Chân Không nào có sanh diệt. Cái ngoan không sanh diệt ở trong Tánh Chân Giác cũng như bốn Đại sanh diệt trong hư không. Hư không cùng bốn Đại không thể lấy sự sanh diệt, đồng khác mà luận. Thế thì Kiến Đại đối với Sắc Không sao có thể lấy sự sanh diệt, đồng khác mà xem thấy được ư?

Phàm nói là sanh diệt, đồng khác đều là thuộc về Vọng Trần. Phàm nói chẳng phải sanh, chẳng phải diệt, chẳng phải đồng, chẳng phải khác đều thuộc về Vọng Kế. Chỉ ở nơi Cảnh mà phân biện, chẳng ở nơi Tánh mà phân minh: đó là hý luận. Nếu ở nơi Tánh mà phân biện, thì cái Thấy này duyên với Tánh Cảnh, như mặt trăng thứ hai, không lìa mặt trăng thật.

Tánh phát ra mà thành cái Thấy, tức là cái Chân Giác phát ra mà làm cái Sáng. Giác là cái Thể hằng sáng của cái Thấy. Cái Sáng là Dụng của cái Thấy. Như đèn có ánh sáng: đèn là cái Thể của sự chiếu sáng, ánh sáng là cái Dụng của sự chiếu sáng. Tức Thấy là Giác, tức Giác là Không. Vốn không nhiễm ô, nên nói là Thanh Tịnh. Vốn không tạo tác, nên nói là Bổn Nhiên. Vốn không nơi chốn, nên nói là Toàn Khắp.

Theo Tam Thân mà luận, thì Thanh Tịnh là Pháp Thân. Bổn Nhiên là Báo Thân, Toàn Khắp là Hóa Thân. Theo Ba Đức mà luận, Thanh Tịnh là Lý, Bổn Nhiên là Trí, Toàn Khắp là Hạnh. Hợp cả ba mà dung nhiếp thì đưa lên một tức cả ba, đưa lên ba tức là một. Khi chưa cảm ứng thì thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới, cái Thấy này không thể nói được là không. Khi có cảm ứng, Diệu Đức sáng rỡ, toàn khắp pháp giới, cái Thấy này chẳng vướng nơi có. Sáu Căn thanh tịnh, tròn đầy mười phương hư không, nên thấy trăm cõi Phật, thấy ngàn cõi Phật, thấy toàn khắp pháp giới, mới là tròn vẹn cái lượng thanh tịnh. Còn chẳng như thế, cũng ứng với cái chỗ thấy tiết hạn hẹp, chỉ theo nghiệp có hiện ra mà thôi.

Sau có nói “Ông phát minh ra theo cái Không, thì có cái hư không hiện. Địa, Thủy, Hỏa, Phong mỗi mỗi đều phát minh ra, thì mỗi mỗi đều hiện. Các cái ấy là các thứ ứng ra theo Sở Tri Lượng vậy”. Bỏ Giác mà hợp với Trần, thì phát sanh trần lao. Ngược Trần hợp Giác, thì thấy rõ Chân Như. Thế cũng là sự theo nghiệp phát hiện vậy. Cái Tánh Giác Minh không có sự làm, không có sự tạo, không có người nhận lãnh, nghiệp thiện nghiệp ác cũng đều dứt bặt. Cái Ấy, đó là Như Lai Tạng.

Ông Quan Cung Phụng là Hạo Nguyệt hỏi Tổ Trường Sa Cấm rằng:

– Con trùn đứt làm hai đoạn, hai đầu đều cử động, chưa rõ Phật Tánh ở đầu nào?

Tổ Sa nói:

– Động và Bất Động, đó là cảnh giới nào?

Ông Nguyệt nói:

– Lời nói không liên quan đến kinh điển, chẳng phải là chỗ đàm luận của người Trí.

– Như lời Hòa Thượng nói: Động cùng Bất Động, đó là cảnh giới nào? Từ kinh nào mà đem ra vậy? Tổ Sa nói:

– Hẳn nhiên, nói mà không có kinh điển chẳng phải là chỗ đàm luận của người Trí. Ông không thấy kinh Thủ Lăng Nghiêm nói rằng:

– Phải biết mười phương vô biên bất động hư không, cùng với bốn Đại Đất, Nước, Lửa, Gió động lay kia đều gọi là sáu Đại, Tánh vốn Chân Thật, Viên Dung đều là Như Lai Tạng, vốn không sanh diệt đó sao?

Bèn khai thị một bài kệ:

Rất sâu xa, rất sâu xa,
Pháp giới, thân này ấy tức Tâm.
Mê ấy, mê tâm làm các sắc,
Ngộ thì cảnh cảnh chính Chân Tâm.
Thân, cảnh hai trần không thực tướng,
Thấu rõ chỗ này gọi tri âm
.

Tổ Trường Sa khéo thuyết Lăng Nghiêm, đến chỗ nói là căn thân và thế giới hai trần không thực tướng thì trong không thấy có Căn Năng Kiến, ngoài không có Cảnh Sở Kiến. Năng, Sở đều Không, tìm cái Thấy rốt là không thể đắc, còn chỗ nào để nói sanh diệt, đồng dị ư?

Kinh:

– A Nan, tánh của Thức không có nguồn gốc, nhân nơi sáu thứ Căn và Trần mà hư vọng hiện ra. Nay ông hãy xem khắp Thánh chúng trong hội này, lấy con mắt lướt qua. Mắt ông trông khắp, chỉ như cái gương, không phân tích riêng biệt. Cái Thức của ông ở trong đó, lần lượt chỉ ra đây là Văn Thù, đây là Phú Lâu Na, đây là Mục Kiền Liên, đây là Tu Bồ Đề, đây là Xá Lợi Phất. Cái Thức Nhận Biết ấy sanh ra do cái thấy, sanh ra do các tướng, do nơi hư không hay không nhân cái gì, bỗng nhiên mà hiện?

A Nan, nếu cái Thức của ông sanh ra do cái Thấy, thì như không có các tướng sáng, tối và Sắc Không thì không có cái Thấy của ông. Cái Thấy còn không có, do đâu mà có ra cái Thức? Nếu cái Thức của ông sanh ra do các tướng, chứ không do cái Thấy, thì không thấy được cái sáng cũng chẳng thấy được cái tối. Sáng tối đã không thấy thì cũng không có Sắc Không. Các tướng kia còn không có thì cái Thức do đâu mà phát sanh? Nếu cái Thức ấy sanh do nơi hư không, không phải do tướng hay do cái Thấy, ngoài cái Thấy, thì không thể phân biệt, chẳng có thể tự biết được các tướng sáng, tối, sắc, không. Ngoài các tướng thì không còn các duyên, thì cái Thấy, Nghe, Hay, Biết do đâu mà thành lập. Cả hai thứ: cái Thấy và sắc trần đều chẳng phải, nếu là Không thì đồng với không có gì hết, còn nếu là Có thì cũng chẳng phải đồng với vật, dầu cho có phát ra cái Thức của ông, thì phân biệt cái gì?

Nếu cái Thức không nhân gì mà bỗng nhiên phát ra, thì tại sao giữa trưa lại không riêng biết để có ra mặt trăng sáng?

Ông hãy kỹ càng, suy xét chín chắn: cái Thấy gá vào mắt của ông, các tướng trả về cho trần cảnh, cái gì có thể hình trạng ra được thì mới thành Có, cái gì không hình tướng thì thành ra Không, còn cái Thức như thế do đâu mà ra? Cái Thức động, cái Thấy lặng yên, chẳng phải Hòa chẳng phải Hợp. Cho đến với các sự Nghe, Ngửi, Hay, Biết cũng đều như vậy. Không lẽ cái Thức không do đâu mà tự có ra?

Nếu cái Thức đó vốn không do đâu, thì nên biết rằng: cái Thức Đại và cái Kiến Đại Thấy, Nghe, Hay, Biết tròn đầy, vắng lặng, bản tánh không do đâu mà có, cùng với hư không và Địa, Thủy, Hỏa, Phong đều gọi là bảy Đại, Tánh Chân Thật, Viên Dung đều là Như Lai Tạng, vốn không sanh diệt.

A Nan, tâm ông thô phù, không ngộ được cái Thức hay biết các điều thấy, nghe vốn là Như Lai Tạng. Ông hãy nhìn xem sáu cái Thức là do Đồng hay Khác, là Không hay Có, là không phải Đồng, Khác, hay không phải Không Có. Ông vốn không biết trong Như Lai Tạng, cái Thức là Tánh Giác Minh. Tánh Giác Minh là Chân Thức, là cái Biết nhiệm mầu vắng lặng toàn khắp pháp giới, ngậm chứa và nhả ra mười phương hư không, nào có nơi chốn. Chỉ tùy theo nghiệp mà hiện bày ra, thế gian không biết lầm cho là tánh Nhân Duyên hay tánh Tự Nhiên, đều là sự phân biệt, so lường của thức tâm: chỉ có lời nói, danh tự, toàn không có thật nghĩa.

Thông rằng: Nói Đất, Nước, Lửa, Gió nương nơi hư không, là tánh năm Đại của thế giới, gọi là Tướng Phần. Nói Thấy, Nghe, Hay, Biết nương vào nơi Thức, là tánh năm Đại của Căn Thân, gọi là Kiến Phần. Kiến Phần và Tướng Phần đều từ Thức Thứ Tám sanh khởi, cho nên Thức Thứ Tám vắng lặng như nhiên, thì gọi đó là Diệu Giác, là Như Lai Tạng.

Nay lấy năm Thức trước làm Kiến Đại, đó là chỗ gọi Tánh Cảnh thuộc Hiện Lượng. Lấy Thức Thứ Sáu làm Thức Đại, đó là chỗ gọi Phân Biệt Sự Thức, thuộc về Tỷ Lượng hay Phi Lượng. Hàng Nhị Thừa vì không biết có Thức Thứ Bảy và Thức Thứ Tám, lấy cái này cho là chủ nhân ông, cho là gây ra nghiệp lành nghiệp dữ và nghiệp vô lậu. Thế nên, năm Thức trước thì không có phân biệt, đến Thức Thứ Sáu mới có thể phân biệt. Vậy nên ở đoạn kinh này có nói “Cái Thức thì động, cái Thấy thì lặng yên”. Đó chỉ là cái Thức này, chẳng sanh do cái Thấy, chẳng sanh từ các tướng, chẳng sanh do nơi hư không, chẳng phải Nhân Duyên sanh, chẳng phải không nguyên nhân mà bỗng nhiên tự có, chẳng phải Tự Nhiên sanh! Cái Thức Thứ Sáu này đủ cả ba tánh thiện, ác và vô ký với cái Kiến Đại của sáu căn ở trước mỗi cái đều có chủng tử và hiện hành, vốn chẳng phải Hòa, chẳng phải Hợp, cả ba cái ấy đồng là chẳng phải, rốt ráo là không chỗ nương. Thức này do từ đâu mà đến ư? Nếu sanh từ nơi cái Thấy, sanh từ các Tướng, sanh nơi Hư Không thì đã có chỗ từ đó mà đến. Đã có chỗ từ đó mà đến, bèn có nơi chốn, thì chẳng toàn khắp. Chỉ là không từ đâu, không từ Không đến, không từ Có đến, tức là Tánh không có chỗ từ đâu: vốn không có bờ cõi, vốn tự tròn đầy, toàn khắp. Cho nên cái Phân Biệt Sự Thức này cùng với hai cái Kiến Phần và Tướng Phần đều gọi là Thất Đại. Thức này rốt là vắng lặng, tức là hợp với Thức Thứ Tám, gọi là Như Lai Tạng.

Nếu Thức Thứ Sáu hợp với Trần, tức là Đồng, là Có. Lìa khỏi Trần, tức là Khác, là Không. Chẳng phải Hợp, chẳng phải Lìa, không còn mảy dấu vết có thể tìm được, mới được gọi là vắng lặng, như nhiên. Cái Thức vắng lặng như nhiên này sao lại gọi là Tánh của Thức, là Thức Chân Thật? Vì từ cái Minh mà biết, chẳng phải từ Tình khởi ra. Cái Thức này từ trong Chân Tánh, Chân Giác mà lưu xuất, Thức bèn là Tánh vậy, Thức bèn là Giác vậy. Đó gọi là chuyển Thức Thứ Tám thành Đại Viên Cảnh Trí.

Cái Minh Tri của Tánh Thức này là Chân Thức của Tánh Giác Minh. Như sau có nói Diệu Minh, Minh Diệu, cũng gọi là Diệu Giác vắng lặng như nhiên, toàn khắp pháp giới. Sáu Đại trước thì gọi là thanh tịnh bản nhiên, chỉ có Đại này gọi là Diệu Giác Trạm Nhiên, xét với Đẳng Giác, Diệu Giác có chỗ phân biệt vi tế. Sáu Đại trước thì nói “Tròn đầy khắp mười phương”, như là nghĩa Xứng Tánh. Còn Thức Đại này thì nói “Ngậm chứa và nhả ra mười phương hư không”, như là nghĩa Phát Khởi”. Thức Tánh không có nguồn mà hay làm nguồn cho muôn pháp. Phàm ở trước nói là Như Lai Tạng đều quy về đây vậy.

Ở Không Đại thì nói “Tâm ông hôn mê”, vì mê bốn Đại và Hư Không khác nhau, vốn không biết Tánh của Hư Không là Giác.

Ở Kiến Đại thì nói “Tánh ông chìm đắm”, vì theo trần trôi chảy không quay trở lại, không biết Kiến Đại là Giác mà bất động.

Ở Thức Đại thì nói “Tâm ông thô phù”, tức là Thức tiềm tàng ở trong, phù là chỉ nhận phù căn, thô vì không đạt đến nguồn gốc của Thức.

Năm Ấm là thuộc về Mười Tám Giới, ở đây chỉ nói về Thức, vì trong Như Lai Tạng vốn chẳng sanh chẳng diệt, cùng hòa hợp với cái sanh diệt mà thành Thức A Lại Da. Nếu rốt ráo quay về cái Bất Sanh Bất Diệt, thì gọi là Thức Thứ Chín, tức Thức là Tánh vậy. Chẳng thể rốt ráo mà còn chút ít sanh diệt, thì tuy là lặng trong không sóng cũng chỉ là Thức mà chẳng phải Tánh. Người thấy Tánh thì chẳng mê nơi Thức, nên an trụ nhiệm mầu nơi cái Tâm Ngộ vậy.

Tổ Bửu Thọ thượng đường nói:

– Tam giới Duy Tâm, vạn pháp Duy Thức. Ngoài hiên mây sanh, trước rèm mưa giọt, khe suối trong như lam, hoa đồng nở như gấm. Giờ đây mà chẳng xét căn nguyên. Trễ nải mai kia hỏi Di Lặc. Hiểu chăng? Đừng có đứng lâu cho mệt.

Tổ Đơn Hà tụng rằng:

Linh nhiên chẳng dính cổ hay kim,
Tam giới đều trong một điểm Tâm.
Ngoài hiên hoa đào, xuân bướm múa,
Trước cửa dương liễu rực, oanh ca
.

Sách Duy Tâm Quyết nói rằng:

– Cây sườn núi trước sân mỗi mỗi đều trổi bày cái tướng nhiệm mầu của Vô Biên. Vượn hú, chim kêu đều cùng nhau phát lên tiếng vẹn tròn của Bất Nhị.

Có ngộ được chỗ này mới tin được là khắp đại địa không có chỗ nào chẳng phải là thuốc, đâu chỉ ở trong Thất Đại mà thôi đâu? Chẳng được như thế, có nhập Lý, luận đàm sâu xa thì cũng đổi ra thành thuốc độc! Đâu phải chỉ có Nhân Duyên, Tự Nhiên mới là hý luận!

Có nhà sư hỏi Tổ Dược Sơn:

– Chuyện mình chưa rõ, xin Hòa Thượng chỉ bày.

Tổ Sơn nói:

– Ta nay vì ông mà nói một câu thì cũng không khó. Chỉ như ông nay dưới lời nói mà thấy được thì còn có đôi chút rõ ràng. Còn nếu rơi vào suy lường, thì thành ra tội lỗi của ta. Chi bằng ai nấy ngậm miệng, khỏi làm lụy đến nhau.

Thế, mới biết cái thức tâm đo lường mò mẫm thì với đạo ngày càng đi xa. Chỉ dùng lời nói thì chẳng phải là Thật Nghĩa.

* * * * *



J. ĐỐN NGỘ PHÁP THÂN VÀ PHÁT NGUYỆN


heartKinh:

– Lúc bấy giờ, Ông A Nan và cả đại chúng nhờ Phật Như Lai vi diệu chỉ bày, thân tâm rỗng rang, không gì chướng ngại. Cả đại chúng ấy, mỗi người đều tự biết Tâm đầy khắp mười phương. “Thấy mười phương Không như xem chiếc lá trong bàn tay”, tất cả thế gian, hết thảy vật gì cũng đều là Bồ Đề Diệu Minh Nguyên Tâm. Tâm Tánh tròn khắp, trùm chứa cả mười phương cõi nước. Nhìn trở lại cái thân cha mẹ sanh ra, như một hạt bụi trong hư không mười phương, như còn như mất. Như biển lớn lặng trong, nổi trôi một bọt nước, khởi diệt chẳng màng. Rõ ràng tự biết, vào được cái Tâm nhiệm mầu xưa nay, thường trụ bất diệt.

Được cái chưa từng có, bèn chấp tay lễ Phật, đối trước Như Lai, nói lên bài kệ xưng tán bậc Giác Ngộ.

Thông rằng: Tâm Tánh tròn khắp, hết thảy mười phương đều bao trùm trong đó, Tâm Lượng rộng lớn vô biên, nên tự nó như thế. Cho đến thấy mười phương Không như vật trong bàn tay, trong đó có cả Thân Chánh Báo và hết thảy vi trần, đó cũng mới là “Hội Vọng Về Chân”, dường còn cái Nhị Kiến. So với cái Thấy “Thân tâm nhất như, ngoài thân không vật” vẫn còn cách một sự xả bỏ vậy.

Quan đại phu họ Lục hỏi Tổ Nam Tuyền rằng:

– Ngài pháp sư Tăng Triệu thật là kỳ đặc, Ngài nói, Trời đất với ta đồng nguồn, vạn vật cùng ta một thể.

Tổ Nam Tuyền chỉ cây mẫu đơn trước sân mà nói:

– Này đại phu! Vậy mà người đời thấy cây hoa này như mộng ảo!

Ông Lục hụt hẫng.

Ngài Tuyết Đậu tụng rằng:

Thấy Nghe Hay Biết đều chẳng phải,
Núi sông sao lại thấy trong gương.
Trời sương trăng xế, đêm gần nửa,
Ai soi bóng lạnh với đầm trong
.

Dịch:

Văn kiến giác tri phi nhất nhất,
Sơn hà bất tại cảnh trung quan.
Sương thiên nguyệt lạc dạ tương bán,
Thùy cọng trừng đàm chiếu ảnh hàn
.

Ngài Thiên Đồng tụng rằng:

Soi thấu, ngoài vi đấy cội nguồn,
Xôn xao khởi diệt, thấy Diệu Môn.
Thần chơi ngoài kiếp, gì là Có?
Để mắt nhìn ra, biết Diệu Tồn.
Cọp rống ào ào hang núi vắng,
Rồng ngâm muôn vẻ động mù mây.
Nam Tuyền điểm phá người đời mộng,
Biết đấy đường đường Bổ Xứ Tôn
(Bổ Xứ Phật).

Cổ đức nói “Xứ xứ đều là Từ Thị. Cửa cửa đều có Thiện Tài”. Đây tức là: tất cả thế gian, mỗi mỗi sự vật đều là Bồ Đề Diệu Minh Nguyên Tâm. Ở đó mà biết được thì tự biết cái Thường Trụ Bất Diệt, mà tin hiểu mỗi mỗi bọt nước là toàn thể đại dương. Không thấy ở đâu có tướng khởi diệt, nên nói “Khởi diệt chẳng màng”.

Vua Thuận Tông nhà Đường hỏi Tổ Phật Quang Mãn:

– Phật từ đâu mà đến, tịch diệt hướng về đâu mà lui? Đã nói thường trụ thế, thì nay Phật tại chốn nào?

Tổ Mãn đáp:

– Phật từ cái Vô Vi đi lại, tịch diệt hướng về cái Vô Vi lui về. Pháp Thân đồng hư không, thường trụ nơi Vô Tâm. Có niệm cũng là Vô Niệm, có trụ cũng là Vô Trụ. Đến, vì chúng sanh mà đến; đi vì chúng sanh mà đi. Biển Chân Như thanh tịnh, thể thường trụ vắng lặng như nhiên. Kẻ trí khéo tư duy, chớ sanh lòng lo nghĩ.

Vua lại hỏi:

– Phật hướng về cung vua mà sanh, diệt hướng về Song Lâm mà tịch, trụ thế bốn mươi chín năm, lại nói chẳng có pháp nào để thuyết. Núi, sông cùng biển lớn, trời đất cho đến trời trăng, đến thời đều diệt tận, ai nói được là không sống chết? Lòng nghi dường ấy, xin trí giả khéo phân biệt cho.

Ngài đáp:

– Thể Phật vốn Vô Vi, mê tình vọng phân biệt. Pháp Thân đồng hư không, chưa từng có sanh diệt. Có duyên, ấy là Phật xuất thế. Không duyên, ấy là Phật nhập diệt. Chốn chốn giáo hóa chúng sanh, cũng như trăng dưới nước. Chẳng phải Thường cũng chẳng phải Đoạn, chẳng phải Sanh cũng chẳng phải Diệt. Sanh cũng chẳng từng sanh, diệt cũng chưa từng diệt. Rõ thấy chỗ Vô Tâm, tự nhiên không có pháp nào để nói. Vua rất đẹp lòng.

Tướng quốc Bùi Hưu ngày nọ vào chùa Khai Nguyên, thấy bức tranh trên vách, hỏi vị chủ chùa:

– Cái ấy vẽ cái gì?

Chủ chùa nói:

– Vẽ cao tăng.

Tướng Bùi nói:

– Hình ảnh ở đó, cao tăng ở tại chỗ nào?

Vị chủ chùa không đáp được.

Bùi Hưu nói:

– Ở đây không có thiền sư sao?

Chủ chùa nói:

– Có một người.

Bèn thỉnh Ngài Hoàng Bá đến gặp, và kể lại chuyện trước mà hỏi Ngài. Tổ Bá gọi lớn:

– Bùi Hưu!

Ông Bùi ứng tiếng:

– Dạ.

Tổ Bá nói:

– Ở tại chỗ nào?

Bùi Hưu nghe xong có chỗ tỉnh ngộ.

Chỗ này đây có thể làm chứng cứ cho cái Thường Trụ Bất Diệt, nên chép vào.

Kinh:

Diệu Trạm Tổng Trì Bất Động Tôn,
Thủ Lăng Nghiêm Vương đời ít có.

Thông rằng:

Ngài Định Lâm nói:

– Cái Thức Tinh là Nước. Nước chẳng dao động thì gọi là Trạm, lặng trong. Nói là Viên Trạm, ấy là thanh tịnh bản nhiên, toàn khắp pháp giới chẳng chia làm sáu (sáu Thức), tức là Toàn Lặng vậy. Gọi là Diệu Trạm, vì đó là cái Diệu Lực Bất Động tổng trì tất cả, tức là cái Lặng Trong Nhiệm Mầu vậy. Nói Tánh Giác Trạm Minh, là Giác hợp với Thức Tinh, như mặt trời hợp với Nước mà có tánh trong sáng. Nói “Trạm Tinh Viên Thường” tức là Thức Tinh Toàn Lặng vậy.

Đã dứt hết sanh diệt, nói là Thường. Nhưng cái Trạm này không phải là không còn chảy, chỉ vì chảy nhanh quá mà nhìn thấy dường như đứng yên đấy thôi. Kinh nói “Cái Thức động, cái Thấy lặng yên”, nghĩa là Thức có tánh động, gọi là nguồn gốc các Tưởng. Thức tự nó chẳng phải là Diệu Trạm Tổng Trì nên niệm niệm chịu huân tập, tạo ra dòng tập khí chảy mạnh, thành ra các Hành. Trong kinh nói các Hành ví dụ như dòng nước, là theo như đây vậy. Nhưng Thức mà so với các Hành thì giống như đứng lặng, nên sau có nói “Lặng yên nhập vào lặng yên”, như sóng diệt thì thành nước lặng yên, mà gọi là Hành Ấm hết tận. Ở trong xa, lặng trong mà sáng tỏ, nhập mà không có chỗ nhập, là lãnh vực của Thức Ấm. Vậy thì nói Trạm Nhập, cái Trong Lặng nhập vào ấy, là Thức Ấm. Trạm Nhập là Thức Ấm, thì Trạm là cái Minh Tri của Tánh Thức. Cái Minh Tri là Trí. Thức nằm trong giới hạn của Trí. Nên nói đến năm Ấm thì nói là “Lặng yên nhập vào Lặng yên”, nghĩa là đưa về trong giới hạn của Thức. Tánh Thức thì không gọi là Trạm Nhập, mà toàn khắp pháp giới, không có xuất, không có nhập.

Chỗ gọi là “Nội Nội Trạm Minh, Nhập Vô Sở Nhập” là cái Trạm (lặng trong) xuất ra thì làm Hành Ấm, cái Hành như nước chảy. Trạm Nhập là Thức, cái Thức diệt hết Hành Ấm, thế là “sâu lại càng sâu, lặng yên trong sáng” cho đến nguồn căn của các Tưởng rốt không có chỗ Nhập (Vô Sở Nhập).

Cái gọi là Thức Tinh tức là A Đà Na Thức. Còn chỗ gọi là làm dính che cái Trạm, tức là làm dính che cái Thức Tinh này. Thức Tinh này như nước trong sạch, vốn không có tính dính, chỉ vì vọng khởi phân biệt, nên cùng với Sắc hiệp, cũng như nước hòa với đất thành ra sự dính. Nếu biết cái Thức Tinh ấy như nước trong sạch, vốn không có tính dính, thì không hợp với Sắc, thoát ra khỏi sự dán dính.

Trạm có Viên Trạm, Diệu Trạm, Giác Trạm và Tinh Trạm; có Trạm Nhập, có Niêm Trạm như các nghĩa nói ở trước, khác biệt rất ít, toàn là những cách ví dụ.

Ngài Mã Minh nói:

– Vì y theo cái Bất Giác nên tâm động mà thành nghiệp. Tánh Giác thì bất động. Phàm Tánh Giác là chẳng động, tức là cái “Diệu Trạm Tổng Trì” vậy. Động là nghiệp, trôi lăn mà thành các hành vậy. Gọi là Thủ Lăng Nghiêm Vương vì cái Định Thủ Lăng Nghiêm thì hàng Thập Địa thường trụ ở trong đó, nên Đức Phật là vua vậy.

Ngài Phó Đại Sĩ một hôm đang giảng kinh thì nhà vua đến. Đại chúng đều đứng dậy, chỉ có Ngài là ngồi yên chẳng động.

Cận thần báo rằng:

– Thánh Giá đến đây sao chẳng đứng lên?

Ngài nói:

– Pháp Địa nếu động, tất cả chẳng an!

Như Đại Sĩ, quả là thật đắc Định Thủ Lăng Nghiêm vậy.

Có nhà sư hỏi thiền sư Khương Sơn Phương:

– Thế nào là Bất Động Tôn?

Tổ Phương nói:

– Chỉ mặc một áo vải lót đi qua chợ.

Nhà sư nói:

– Kẻ học nhơn chưa hiểu.

Tổ Phương nói:

– Cưỡi lừa đạp phá Động Đình hồ.

Nhà sư nói:

– Thấu qua ba lớp sóng, ròng nghe một tiếng sấm.

Tổ Phương nói:

– Duỗi tay chẳng thấy bàn tay.

Nhà sư:

– Có cho phép kẻ học nhơn này tiến đến hay không?

Tổ Phương nói:

– Đạp trên đất mà rao bảo hư không.

Nhà sư nói:

– Dưới cửa sấm, đánh trống kêu gì?

Tổ Phương nói:

– Vào trong trái cầu thêu, chẳng dùng cờ ngũ sắc.

Nhà sư nói:

– Ba mươi năm sau, lời này sẽ thịnh hành.

Tổ Phương bèn đánh.

Tổ Khương Sơn tự là người ở trong ấy, chẳng ngại theo dòng mà được Diệu. Nhà sư ấy nhận lầm phương hướng nên khó nói cùng nhau.

Kinh:

Tiêu điên đảo tưởng trong ức kiếp,
Chẳng trải tăng kỳ được Pháp Thân.

Thông rằng: Ức kiếp thì còn có số để chỉ, còn a tăng kỳ là ba vô số kiếp. Từ vô thủy đến nay mê cái Chân mà nhận lấy Vọng, đều là cái thấy điên đảo. Nay đem Vọng về Chân, được cái Bản Tâm nhiệm mầu, thường trụ, bất diệt. Như ở trước nói Như Lai Tạng, tức là Pháp Thân vậy.

Có vị tăng hỏi Ngài Hoàng Bá:

– Kinh dạy rằng, Tiêu điên đảo tưởng trong ức kiếp. Chẳng trải tăng kỳ được Pháp Thân, là như thế nào?

Tổ Bá nói:

– Nếu lấy sự tu hành trong ba vô số kiếp để có chỗ chứng đắc, thì hết hằng hà sa số kiếp cũng chẳng được. Còn nếu trong một sát na mà được Pháp Thân, liền ngay thấy Tánh vậy. Đó cũng là chỗ nói rốt ráo của Tam Thừa. Vì sao thế? Vì, thấy có Pháp Thân để đắc, tức thuộc về giáo pháp bất liễu nghĩa. Tổ Hoàng Bá xuất lời, nhả khí thật là căn khí Đại Thừa.

Ông A Nan đã được Pháp Thân sao lại còn nói “Mong được xét trừ lầm vi tế?” Vì ông còn thấy có Pháp Thân để được vậy.

Thượng Tọa Thái Nguyên Phu ban đầu giảng kinh Niết Bàn ở chùa Quang Hiếu tại Dương Châu. Có một thiền giả vì trời mưa tuyết nhân đó đến nghe kinh. Đến chỗ “Ba cái Nhân của Phật Tánh, ba cái Đức của Pháp Thân”, vị Thượng Tọa đang giảng rộng về diệu lý của Pháp Thân, thiền giả bật cười.

Giảng xong, Thượng Tọa mời thiền giả uống trà, rồi nói:

-Chí tôi hẹp cạn, nên y theo văn mà giải nghĩa, bỗng nhờ gặp tiếng cười, xin được nghe chỉ dạy.

Thiền giả nói:

– Quả là tôi cười vì Tòa Chủ không biết Pháp Thân.

Thầy Phu nói:

– Giảng thuyết như thế, chỗ nào chẳng được đúng?

Đáp:

– Xin Tòa Chủ nói lại một lần nữa!

Thầy Phu nói:

– Cái Lý của Pháp Thân là giống như Thái Hư, dọc suốt ba thời, ngang khắp mười phương, điều hòa Bát Cực, bao gồm Âm Dương, tùy duyên cảm ứng, không đâu chẳng khắp.

Thiền giả nói:

– Tôi không nói Tòa Chủ giảng không đúng. Nhưng ấy là chỉ mới nói được chút ít cái lượng của Pháp Thân, mà quả thật chưa biết Pháp Thân ở đâu.

Thầy Phu nói:

– Đã như thế, xin thiền đức vì tôi mà nói.

Thiền giả:

– Tòa Chủ có tin không?

Thầy Phu nói:

– Đâu dám chẳng tin. Thiền giả nói:

– Nếu như thế thì Tòa Chủ tạm ngừng giảng vài ngày, ở trong tịnh thất an nhiên dứt nghỉ, thâu tâm nhiếp niệm, thiện ác các duyên một phen buông bỏ hết.

Thầy Phu theo đúng lời dạy, từ đầu hôm đến canh năm, nghe tiếng mõ, hốt nhiên khế ngộ. Bèn chạy đến gõ cửa.

Thiền giả hỏi:

– Ai đó?

Thầy Phu đáp:

– Dạ, tôi.

Thiền giả la rằng:

– Dạy ông gìn giữ đại giáo, thay Phật thuyết pháp sao nửa đêm lại say rượu nằm đường!

Thầy Phu nói:

– Thiền đức tự đến giảng kinh, đem cái lỗ mũi cha sanh mẹ đẻ của tôi ra mà vặn. Từ nay trở đi, chẳng dám lầm lỗi như vậy nữa.

Thiền giả nói:

– Đi đi, ngày sau gặp nhau. Như thầy Phu thật là “Chẳng trải tăng kỳ được Pháp Thân”.

Có nhà sư hỏi Hòa Thượng Lợi Sơn:

– Chẳng trải tăng kỳ được Pháp Thân, xin thầy chỉ thẳng.

Tổ Sơn nói:

– Con nối nghiệp cha.

Hỏi:

– Làm sao lãnh hội?

Tổ Sơn nói:

– Chê bỏ thì chẳng có lành (từ).

Hỏi:

– Như thế thì đại chúng đã nhờ được rồi?

Tổ Sơn nói:

– Đại chúng hãy để đó, thế nào là Pháp Thân?

Nhà sư không đáp được.

Tổ Sơn nói:

– Ông hỏi, ta nói cho.

Nhà sư nói:

– Thế nào là Pháp Thân?

Tổ Sơn nói:

– Hoa không, bóng nắng.

Thử nói xem chỗ nói Pháp Thân của Ngài Lợi Sơn so với Ông A Nan xa gần thế nào?

Kinh:

Nguyện nay đắc quả, thành Bảo Vương,
Về độ như thế, hằng sa chúng.

Thông rằng: “Chẳng trải tăng kỳ được Pháp Thân”, thì Tín Vị là đúng mà Nhân Vị thì chưa phải. Cho nên, Hạnh tròn Quả mãn, thật chứng Chân Trí, như ngọc lưu ly thanh tịnh, ngậm chứa mặt trăng báu ở trong, mới đắc thành Bảo Vương. Lúc ấy, nhìn khắp tất cả chúng sanh đều có đức tướng Trí Huệ Như Lai, ta đều mỗi mỗi độ hết; chúng sanh vô tận, nguyện này vô tận, từ bi tròn đầy, trong ấy chẳng còn cái ta nữa. Thế mới là Phật, Pháp, Tăng, ba Thể quý báu, là cầu bến của chúng sanh vậy.

Ngài Động Sơn Sơ ban đầu ra mắt Tổ Vân Môn.

Tổ hỏi:

– Mới rời chốn nào?

Đáp:

– Tra Độ.

Tổ Môn nói:

– Nhập hạ ở đâu?

Đáp:

– Chùa Báo Từ ở Hồ Nam.

Tổ Môn nói:

– Rời chỗ đó khi nào?

Đáp:

– Ngày Hai Mươi Lăm, tháng Tám.

Tổ Môn nói:

– Tha cho ông ba mươi gậy.

Sáng hôm sau, Ngài Động Sơn lại đến, hỏi:

– Hôm qua nhờ Hòa Thượng tha cho ba mươi gậy, không rõ có lỗi gì ?

Tổ Môn nói:

– Đồ túi cơm! Giang Tây, Hồ Nam bèn thế ấy! Ngài Động Sơn ngay nơi lời nói đại ngộ, bèn nói:

– Từ nay về sau hướng về chốn bặt không người, không khói, không giữ một hột cơm, không trồng một cọng rau, mà tiếp đãi hết ráo mười phương qua lại. Vì họ mà nhổ đinh tháo chốt, lột bỏ cái mũ thoa dầu, cởi ra cái áo lót hôi thúi, dạy y vĩnh viễn làm ông thầy tu vô sự, há chẳng khoái sao? Tổ Môn nói:

– Thân ông chỉ lớn bằng trái dừa, sao há miệng lớn thế! Ngài Động Sơn bèn lễ bái.

Kinh:

Nguyện đem toàn thể thâm tâm này,
Phụng sự cõi nước nhiều như bụi,
Thế mới gọi là báo Phật Ân,

Thông rằng: Hai chữ Thâm Tâm này có cái mùi vị mà hạng thiển cận không thể đo lường nổi. Cõi nước nhiều như bụi, không có bến bờ, Trí Bi vô lượng, cùng với Phật đồng Tâm Từ, mới gọi là báo ơn vậy.

Ngài Lâm Tế từ giã Tổ Hoàng Bá.

Tổ hỏi:

– Đi đến chốn nào? Ngài Lâm Tế đáp:

– Không phải là Hà Nam, thì là Hà Bắc! Tổ Bá liền đánh. Ngài chụp lại rồi thoi một thoi.

Tổ Bá cười lớn, gọi thị giả:

– Đem cây thiền bản trên bàn thờ của Tiên Sư Bá Trượng lại đây.

Ngài Lâm Tế nói:

– Thị giả, đem lửa lại đây!

Tổ Bá nói:

– Tuy nhiên như thế, ông hãy đem đi, về sau rồi ngồi trên đầu lưỡi của thiên hạ.

Sau này, Tổ Quy Sơn hỏi Ngài Ngưỡng Sơn: Lâm Tế há chẳng cô phụ Hoàng Bá đấy ư?

Ngài Ngưỡng Sơn nói:

– Không đâu.

Tổ Quy nói:

– Con lại còn cho làm sao?

Ngài Ngưỡng Sơn nói:

– Biết ơn mới biết trả ơn.

Tổ Quy nói:

– Xưa kia cổ nhơn có chuyện tương tự như thế không?

Ngài Ngưỡng nói:

– Có chứ, nhưng lâu xa quá nên không muốn nêu ra.

Tổ nói:

– Dầu như thế, ta không biết, con hãy nêu ra đi.

Ngài nói:

– Như ở hội Lăng Nghiêm, A Nan tán thán Phật rằng: “Nguyện đem toàn thể thâm tâm này, phụng sự cõi nước nhiều như bụi. Thế mới gọi là báo Phật Ân”. Đó chẳng phải là việc báo ơn sao?

Tổ Quy nói:

– Thế đấy, thế đấy! Chỗ Thấy ngang Thầy, thì giảm một nửa Đức của Thầy. Chỗ Thấy hơn Thầy mới nên truyền thọ.

Lại Tổ Quy Sơn hỏi Ngài Ngưỡng Sơn:

– Sau này Lâm Tế như thế nào?

Ngài Ngưỡng Sơn đáp:

– Khoảng giữa đất Ngô, đất Việt có một người, gặp gió lớn thì ngừng lại.

Tổ Quy nói:

– Vậy là thế nào?

Ngài Ngưỡng nói:

– Đem thâm tâm này hiến trần sát. Đó mới gọi là báo Phật Ân! Về sau, Ngài Phong Huyệt Chiểu đắc pháp với Ngài Thủ Sơn Niệm. Người ta cho đó là Ngưỡng Sơn trở lại.

Như Tổ Ngưỡng Sơn quả là có thâm tâm, thế nào lường được ư? Thế nào lường được ư?

Kinh:
Cúi xin Thế Tôn chứng minh cho,
Ngũ trược ác thế, thề vào trước.

Thông rằng: Năm Ấm chưa Không, thì Năm Trược khó phá, làm sao độ hết thảy khổ ách? Chỉ có bậc đắc quả, đã chứng pháp xuất thế gian nên chẳng ngại “Thõng tay vào chợ”, lấy Giác mà giác ngộ cho người. Chỗ nói “Đem thâm tâm này hiến trần sát”, tất trước dâng cho đời ác Năm Trược vậy. Cái Nghiệp của Ông A Nan là cái Nguyện này. Ở quốc độ này, có Ngài Phó Đại Sĩ đủ sức đảm đương việc đó.

Đại Sĩ tên là Hấp, năm mười sáu tuổi cưới cô gái Diệu Quang nhà Lưu Thị, sanh hai con tên là Phổ Kiến và Phổ Thành. Năm hai mươi bốn tuổi bán vợ con mà làm hội cúng thí các loài dưới nước, trên cạn. Rảnh rỗi thì cùng người trong làng ngăn bờ bắt cá. Bắt được, nhận giỏ cá xuống sông, rồi chú nguyện cho: “Đi thì thả, ở thì giữ”. Ai cũng cho là khùng dại.

Gặp vị Đầu Đà người Ấn là Tăng Tung. Vị này nói: “Ta cùng ông đã phát nguyện ở chỗ Phật Tỳ Bà Thi. Nay y bát vẫn còn ở cung trời Đâu Suất, ngày nào ông trở về?”. Rồi bảo Ngài ra nơi nước nhìn bóng, thì thấy hào quang và lọng báu.

Ngài cười mà nói:

– Nơi lò rèn còn nhiều sắt vụn, nơi cửa thầy thuốc có lắm bệnh nhân. Cứu đời là cần gấp, sao mà nghĩ đến cái vui kia?

Vị Đầu Đà chỉ lên ngọn Tùng Sơn mà nói:

– Chỗ ấy dừng ở được. Đại Sĩ tự mình cày ruộng ở đó. Có người trộm đậu, lúa, dưa, trái Ngài cho luôn giỏ để đựng.

Năm thứ hai đời Thiên Gia thị tịch, cảm ứng có bảy vị Phật cùng theo đưa, đức Thích Ca dẫn đầu, cuối là Ngài Duy Ma Cật. Đức Thích Ca nói mấy lời:

– Làm Bổ Xứ cho Ta.

Chỉ thẳng Tâm người, thấy Tánh thành Phật, Chánh Pháp Nhãn Tạng từ Đức Ca Diếp, Đức A Nan truyền đến Tổ Đạt Ma là hai mươi tám đời. Cõi này tuy có kinh điển, nhưng chưa được nghe cái Tông Phong tối thượng. Thế mà Tổ Đạt Ma chưa tới, Ngài Đại Sĩ đã sanh, thế không phải là cái minh chứng cho việc Vào trước hay sao?

Kinh:

Còn một chúng sanh chưa thành Phật,
Rốt chẳng nơi kia nhận Niết Bàn.

Thông rằng: Vô lượng Chư Phật đời quá khứ độ thoát vô lượng chúng sanh. Đâu phải ai ai cũng thành Phật rồi, mà đã nhập Niết Bàn? Kinh Kim Cang nói: Ta đều khiến nhập Niết Bàn Vô Dư mà diệt độ, kỳ thật không có chúng sanh được diệt độ.Đến cảnh giới này thì không thấy có Phật để thành, có chúng sanh để độ, cũng không có Niết Bàn để nhập, mới là Chánh Kiến.

Có vị tăng hỏi Ngài Trung quốc sư:

– Cái gì là Phật Tâm?

Quốc sư nói:

– Tường vách gạch ngói chính là đó. Tăng hỏi:

– Rất trái với kinh vậy.

Kinh Niết Bàn nói:

– Lìa ngoài vật vô tình tường vách, nên gọi là Phật Tánh.Nay nói đó là Phật Tâm, chưa rõ Tâm và Tánh là khác hay chẳng khác?

Ngài đáp:

– Mê thì khác, ngộ tức chẳng khác.

Tăng nói:

– Kinh nói: Phật Tánh là thường, tâm là vô thường, nay nói chẳng khác nhau, là sao vậy?

Ngài đáp:

– Ông chỉ y vào lời nói, mà chẳng y vào nghĩa. Ví như tháng lạnh, nước kết thành băng. Đến khi trời ấm, băng tan thành nước. Khi chúng sanh mê, thì kết Tánh thành cái tâm. Khi chúng sanh ngộ, rã tan cái tâm thành Tánh. Nếu chấp rằng vô tình không có Phật Tánh, thì rốt ráo chẳng nói được Tam Giới Duy Tâm. Rõ ràng ông tự trái với kinh, ta nào có trái.

Tăng nói:

– Trong kinh giáo chỉ thấy nói hữu tình thành Phật, chẳng thấy có vô tình được thọ ký. Vả lại, ngàn Phật đời Hiền Kiếp có ai là Phật vô tình đâu?

Ngài nói:

– Như Hoàng Thái Tử khi chưa lên ngôi thì chỉ có một thân. Lên ngôi rồi, toàn quốc độ đều thuộc về vua, há có quốc độ riêng nhận ngôi vị ư? Nay khi chỉ có hữu tình được thọ ký làm Phật, thì mười phương quốc độ đều là thân Phật Tỳ Lô Giá Na, há lại có vô tình được thọ ký ư?

Tăng nói:

– Tất cả chúng sanh đều ở trên thân Phật, ỉa đái dơ lấm thân Phật, xoi đục dày đạp thân Phật, há chẳng có tội sao?

Ngài nói:

– Toàn thể chúng sanh là Phật thì còn ai làm tội?

Tăng hỏi:

– Kinh nói, Thân Phật không quái ngại, nay lấy vật hữu vi chướng ngại mà làm thân Phật, thế chẳng trái với Thánh chỉ ư?

Ngài nói:

– Kinh Đại Phẩm nói, Không thể lìa Hữu Vi mà nói Vô Vi. Ông có tin Sắc là Không chăng?

Tăng nói:

– Lời chân thật của Phật sao dám chẳng tin.

Ngài nói:

– Sắc đã là Không, sao còn quái ngại?

Tăng nói:

– Chúng sanh vốn đồng Phật Tánh, thì chỉ cần một vị Phật tu hành, khi ấy hết thảy chúng sanh đều giải thoát. Nay đã không thế, thì nghĩa đồng ở đâu? Ngài nói:

– Ông chẳng thấy Lục Tướng nghĩa Hoa Nghiêm nói rằng: Trong cái Đồng có cái Khác, Trong cái Khác có cái Đồng. Tướng Thành, Tướng Hoại, tướng Tổng, tướng Biệt mỗi mỗi đều như thế. Chúng sanh cùng Phật, tuy đồng một Tánh mà chẳng trở ngại mỗi mỗi tự tu tự đắc. Chưa từng thấy người ăn mà mình no. Lấy bọt nước và biển làm thí dụ. Một bọt nước đã tan mất thì toàn thể vẫn vốn là biển cả. Chưa hề thấy một bọt nước tan mà tất cả bọt đều tan. Nên trong cái Tánh ấy đâu có ngại gì mỗi người tự tu, mỗi người tự đắc.

Đã ngộ khắp hết thảy đều là nước, thì có bọt nào mà không là nước? Chúng sanh chẳng phải là Phật đấy sao? Nếu thấy tất cả chúng sanh là Phật, thì bèn ở trong Niết Bàn.

Kinh:

Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi,
Mong xét trừ cho lầm vi tế.

Thông rằng: Đại Hùng, vì bậc Thập Địa bên dưới là Thư, con mái. Đại Lực vì vượt quá Ngũ Lực. Cho sự vui là Từ. Cứu khỏi khổ gọi là Bi. Muốn khiến cho cái tâm kia thông suốt mới gọi được là Tự Tánh hiện bày, nên A Nan hy vọng Thế Tôn xét trừ cho mê lầm vi tế. Đã được Pháp Thân, sao lại còn điều lầm?

Tổ Vân Môn nói:

– Được ngay sự chạm mắt không vướng ngại, thấu được Danh Thân, Cú Thân tất cả các pháp đều Không, núi sông đất đai là Danh Thân, cũng là bất khả đắc. Gọi đó là Biển Tánh Tam Muội sẵn đủ, như biển không sóng gió. Được ngay sự quên thấy biết nơi cái Giác, Giác là Phật Tánh đó vậy. Gọi là người Vô Sự, nhưng cũng cần biết có một khiếu (lỗ) hướng thượng!

Tổ Thiên Đồng nêu ra:

– Khách, chủ không hòa, cả hai đều có lỗi. Mỗi bên đều cho hai mươi gậy. Còn một khiếu hướng thượng thì làm sao? Tê giác nhân xem trăng mà sừng sanh vằn. Voi bị sấm hoảng kinh mà hoa in vào ngà.

Ngày khác, Tổ Vân Môn lại nói:

– Ánh sáng không thấu thoát do có hai loại bệnh. Một là tất cả chỗ không sáng, trước mặt có vật. Hai là thấu suốt được tất cả pháp là Không, mà còn có cái mơ hồ tương tự như vật, đó cũng là ánh sáng không thấu thoát. Pháp Thân cũng có hai loại bệnh. Một là đến được Pháp Thân, nhưng vì pháp chấp chưa hết, cái Thấy của mình dường như còn, mà ngồi một bên Pháp Thân. Hai là tuy đã thấu được Pháp Thân mà bỏ đi chẳng được, kiểm điểm kỹ càng trở lại, có chút khí tức gì cũng là bệnh.

Ngài Thiên Đồng tụng rằng:

Um tùm muôn tượng khá chênh vênh,
Thấu thoát không đâu ngại mắt mình.
Quét sạch môn đình ai đủ sức?
Núp trong lồng ngực: tự thành Tình.
Thuyền ngang bờ lục, màu thu biếc,
Vào đám bông lau, tuyết sáng soi.
Xâu sợi ông chài ôm đến chợ,
Êm êm thuyền lá mặc buông trôi
.

Tổ Càn Phong nói:

– Pháp Thân có ba thứ bệnh, hai thứ ánh sáng, sao Vân Môn lại thiếu đi một thứ? Các nơi đều nói:

– Chưa đến thì chạy quàng. Đến rồi thì bám riết. Thấu thoát không chỗ nương. Đó là ba. Thế là trước thiếu một thứ.

Phật Nhãn nói:

– Cỡi lừa tìm lừa, là một. Cỡi lừa rồi chẳng chịu xuống, đó là hai. Thế là sau còn thiếu một thứ.

Các tôn túc bàn luận ba thứ bệnh của Pháp Thân, vi tế đến như thế. Đâu có liên quan gì đến kinh giáo ư?

Kinh:

Khiến tôi sớm lên Vô Thượng Giác,
Nơi mười phương cõi ngồi Đạo Tràng.

Thông rằng: Vô Thượng Giác ấy tức là một khiếu hướng thượng vậy. So với ở trước “Được Pháp Thân và đắc quả”, thì có sai khác ư? Không sai khác ư? Chỗ có thể nói là Phật Quả thì có bảy; Bồ Đề, Niết Bàn, Chơn Như, Phật Tánh, A Ma La Thức, Không Như Lai Tạng và Đại Viên Cảnh Trí.

Ngộ Bồ Đề, thấy Phật Tánh có thể nói là được Pháp Thân. Sau khi thấy Tánh, xét trừ mê lầm vi tế khiến sanh diệt, diệt sanh đều vắng lặng, cùng hợp với Niết Bàn, Chân Như. Trong trắng thuần sạch, hợp cùng A Ma La Thức. Rỗng suốt tròn soi, hợp cùng Không Như Lai Tạng, Đại Viên Cảnh Trí. Như thế mới có thể gọi là đắc quả, nhưng chưa có thể gọi là lên Vô Thượng Giác.

Xem một chữ Sớm (Tảo) là pháp môn Đốn Ngộ, một hiểu được thì trăm thành ra ngay, không nhờ tu hành thứ bậc, chẳng kể phàm phu hay Thập Địa, ai ai cũng có thể lên.

Đức Phật nói rằng:

– Ta có Chánh Pháp Nhãn Tạng, Niết Bàn Diệu Tâm mật phó cho Ông Ca Diếp.

Nào có dấu vết tăm hơi gì khá được ư? Đây tức là Vô Thượng Giác vậy. Một lần lên cái Giác này là đến địa vị Phật, bèn ở mười phương cõi ngồi tòa sen báu, vì chúng sanh thuyết pháp. Long Nữ còn như vậy, huống là bực đệ tử Thanh Văn ư? Ngài Dược Sơn ở với Đức Mã Tổ ba năm.

Đức Mã Tổ hỏi:

– Gần đây chỗ thấy của ông ra sao?

Ngài Sơn nói:

– Da dẻ rơi rụng sạch, chỉ còn một cái Chơn Thật.

Đức Mã Tổ nói:

– Chỗ được của ông khá gọi là hợp với Tâm Thể, trải khắp tay chân. Đã như thế thì đem ba miếng cật tre bó giữ da bụng, tùy chỗ mà trụ sơn đi.

Ngài thưa:

– Tôi là người nào mà dám nói chuyện trụ sơn?

Đức Mã Tổ nói:

– Chẳng phải thế đâu. Chưa hề có đi mãi mà không đứng lại. Chưa hề có dừng mãi mà không đi. Muốn ích mà không có chỗ ích, muốn làm mà không có chỗ làm, nên làm thuyền bè, không nên dừng lâu ở đây.

Ngài Đức Sơn đến Tổ Quy Sơn, kẹp một cái áo lót lên nhà giảng, từ Tây sang Đông, từ Đông sang Tây quay nhìn Tổ Quy Sơn mà nói:

– Có chăng? Tổ Quy Sơn cứ ngồi, không để ý đến.

Ngài Đức Sơn nói:

– Không, không! Rồi bỏ đi ra.

Ngài Tuyết Đậu chú rằng:

– Khám phá xong rồi!

Ngài Đức Sơn ra đến cửa, bèn nói:

– Tuy là như thế, cũng chẳng được buông tuồng.

Rồi đầy đủ oai nghi, trở vào tương kiến. Vừa qua khỏi cửa, đưa lên cái tọa cụ, nói:

– Hòa Thượng!

Tổ Quy Sơn định lấy cây phất tử. Ngài bèn hét, phất tay áo mà đi ra.

Ngài Tuyết Đậu chú thêm:

– Khám phá xong rồi!

Tổ Quy Sơn đến tối hỏi Thủ Tọa:

– Cái ông mới đến ngày hôm nay có đây không?

Thủ Tọa nói:

– Ngay khi ra khỏi nhà giảng thì mang dép cỏ đi luôn rồi.

Tổ Quy Sơn nói:

– Ông ấy về sau lên đỉnh núi đơn độc chót vót kết thảo am, la Phật mắng Tổ đó.

Ngài Tuyết Đậu chú rằng:

– Trên tuyết lại thêm sương!

Rồi tụng rằng:

Một khám phá, hai khám phá!
Trên tuyết thêm sương, thêm hiểm họa.
Tướng quân bay ngựa vào triều giặc,
Về được hoàn toàn có mấy ai?
Mau chạy qua, chẳng bỏ qua!
Trên đỉnh cô phong, ngồi am cỏ,
Ối
!

Thêm một chữ “Ối” này là ngón nghề kỳ đặc của Ngài Tuyết Đậu. Chẳng lên Vô Thượng Giác khó mà hiểu nổi.

Kinh:

Tánh hư không còn có thể tiêu,
Tâm Kim Cang không hề động chuyển.

Thông rằng: Thuấn Nhã Đa (Sũnyata) là Hư Không; Thước Ca Ra (Cakravãda) là kiên cố như Kim Cang. Câu này xưa nói “Tánh Hư Không vô thể còn có thể tiêu vong. Tâm kiên cố của tôi rốt ráo không động chuyển”. Tựa như Ông A Nan phát nguyện như vậy. Đã nguyện “Đắc quả thành Bảo Vương”, sao lại có nguyện này? Đã “Lên Vô Thượng Giác tọa Đạo Tràng”, sao lại khăng khăng “Không động chuyển”?

Câu này vốn chẳng có lầm, phải cần biết cái yếu chỉ quy về. Đó là “Diệu Trạm Tổng Trì Bất Động Tôn. Thủ Lăng Nghiêm Vương đời ít có”, nói ở trước.

Sao nói là Diệu Trạm? Vì, tuy Lặng Trong Bất Động, mà chẳng bám giữ hư không, nên mới gọi là Diệu. Nếu trụ bám Hư Không mà cho là bất động, thì rốt cuộc chẳng phải “Cả thảy rốt ráo kiên cố”. Ý Ông A Nan là: dù mười phương ngồi Đạo Tràng, cũng không trụ bám Pháp Thân Hư Không, nên Chánh Pháp Nhãn Tạng rốt ráo kiên cố. Cũng như nói “Thủ Lăng Nghiêm Vương, Diệu Trạm Bất Động” vậy. Đầu đuôi ứng nhau, lý thú còn lâu dài mãi.

Cổ đức nói:

– Dài là Pháp Thân dài, ngắn là Pháp Thân ngắn.

Ngài Thiên Đồng nêu ra rằng:

– Thử nói xem:

– Thuấn Nhã Đa sao lại gọi đó là Pháp Thân?

Ngài im lặng một lúc rồi nói:

– Có hiểu không? Không thể nối dài con le le mà cắt chân con hạc, phá hòn núi để lấp cái lỗ hang!

Lời nói này chính là vì sợ người ta hướng về trong hư không mà đóng chết ở trong đó.

Tổ Sơ Sơn thượng đường, nói:

– Bệnh tăng rõ hết trước năm (niên tiền), thì hiểu được chuyện bên phía Pháp Thân. Rõ hết sau năm (niên hậu) thì hiểu được chuyện hướng thượng của Pháp Thân.

Ngài Vân Môn bước ra, hỏi:

– Thế nào là chuyện bên phía Pháp Thân?

Tổ Sơn nói:

– Cây Xuân khô.

Hỏi:

– Thế nào là chuyện hướng thượng của Pháp Thân?

Tổ Sơn nói:

– Chẳng phải cây Xuân khô!

Hỏi:

– Có cho phép tôi nói đạo lý không?

Tổ Sơn nói:

– Cho.

Ngài Vân Môn nói:

– Cây Xuân khô há chẳng phải tỏ rõ cái chuyện bên phía Pháp Thân sao?

Tổ Sơn nói:

– Đúng vậy.

Ngài Vân Môn nói:

– Chẳng phải cây Xuân khô, há chẳng phải tỏ rõ chỗ hướng thượng của Pháp Thân sao?

Tổ Sơn nói:

– Đúng vậy.

Ngài Vân Môn nói:

– Như thế Pháp Thân bao trùm tất cả phải không?

Tổ Sơn nói:

– Pháp Thân toàn khắp, sao chẳng trùm hết?

Ngài Vân Môn chỉ cái tịnh bình, nói:

– Như thế cái tịnh bình có bao trùm Pháp Thân không?

Tổ Sơn nói:

– Xà Lê chớ hướng về một bên tịnh bình tìm kiếm!

Ngài Vân Môn bèn lễ bái.

Rõ ràng chỉ ra “Chẳng phải cây Xuân khô” là một con đường sống. Chỉ là cái “Chẳng phải cây Xuân khô” này, chánh thật hợp với ý chỉ “Tánh hư không còn có thể tiêu” vậy.

Ngài Tào Sơn ban đầu ra mắt Tổ Động Sơn.

Tổ Động Sơn nói:

– Thầy Xà Lê tên gì?

Ngài đáp:

– Bổn Tịch.

Tổ Động Sơn nói:

– Hình dạng gì?

Ngài đáp:

– Chẳng gọi là Bổn Tịch.

Tổ Động Sơn nói:

– Rất là pháp khí vậy.

Từ đó, được nhập thất, trải qua mấy năm mới xin đi. Tổ Động Sơn mới mật truyền cho Bảo Cảnh Tam Muội, lại hỏi:

– Ông hướng chỗ nào đi?

Ngài Tào Sơn đáp:

– Đi vào chỗ chẳng hề thay đổi.

Tổ nói:

– Chỗ chẳng hề thay đổi lại có đi ư?

Ngài nói:

– Đi cũng chẳng thay đổi! Ngài Đơn Hà tụng rằng:

Nhà nhà cửa đóng, ánh trăng soi,
Chốn chốn oanh kêu dương liễu rung.
Nếu bảo tung hoành không đổi khác,
Cũng như quăng kiếm chém hư không
.

Tổ Tào Sơn, Chánh Thiên kiêm đới, có thể nói là được con mắt kim cang. Như định nhìn nhận chỗ không thay đổi, dường vẫn còn cây kiếm. Ôi, vi tế, nhỉ!

* * * * *


Sách (pdf file): KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG

1. GIỚI THIỆU KINH LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
2. DUYÊN KHỞI CỦA KINH
3. GẠN HỎI CÁI TÂM
4. CHẤP TÂM Ở TRONG THÂN
5. CHẤP TÂM Ở NGOÀI THÂN
6. CHẤP TÂM NÚP SAU CON MẮT
7. CHẤP TÂM HỢP VỚI CHỖ NÀO THÌ LIỀN CÓ Ở CHỖ ẤY
8. CHẤP TÂM KHÔNG DÍNH DÁNG VÀO ĐÂU TẤT CẢ
9. CẦU ĐI ĐẾN CHỖ CHÂN THẬT
10. NƯƠNG CÁI THẤY, GẠN HỎI CÁI TÂM
11. CHỈ RÕ TÍNH THẤY KHÔNG PHẢI LÀ CON MẮT
12. Ý NGHĨA CHỦ VÀ KHÁCH
13. CHỈ TÁNH THẤY KHÔNG SANH KHÔNG DIỆT
14. CHỈ CHỖ ĐIÊN ĐẢO
15. LỰA BỎ TÂM PHAN DUYÊN ĐỂ CHỈ TÁNH THẤY KHÔNG THỂ TRẢ VỀ ĐÂU
16. LỰA RIÊNG TRẦN CẢNH ĐỂ NÊU RA TÁNH THẤY
17. NGHI TÁNH THẤY HIỆN Ở TRƯỚC MẮT
18. XIN CHỈ DẠY TÁNH THẤY CHẲNG DO THẤY
19. CHỈ RÕ Ý NGHĨA TÁNH THẤY KHÔNG PHẢI LÀ CÁI THẤY, VIÊN MÃN BỒ ĐỀ
20. TÓM THU VỀ NHƯ LAI TẠNG




Leave a Reply