THU MƯỜI HAI XỨ (TT) – THU MƯỜI TÁM GIỚI

Feb 12, 15 | Tâm Duyên | 992 views | No Comments



Share |




KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG

Nhẫn Tế Thiền Sư

-o0o-

QUYỂN III

PHẦN THỨ HAI: PHẦN CHÁNH TÔNG

CHƯƠNG I: CHỈ BÀY CHÂN TÂM

MỤC BẢY: TÓM THU VỀ NHƯ LAI TẠNG

Nghe MP3 (26/61): THU MƯỜI HAI XỨ (TT) – THU MƯỜI TÁM GIỚI


* * * * *



G. THU MƯỜI HAI XỨ (tiếp theo)
heartKinh:

– A Nan, ông hãy ngửi mùi hương chiên đàn trong lư này. Hương ấy, nếu đốt đến một thù thì cả thành Thất La Phiệt, trong bốn mươi dặm đều đồng thời ngửi được mùi thơm. Ý ông thế nào? Mùi thơm ấy sanh ra do cây chiên đàn, do nơi mũi ông, hay sanh từ hư không?

A Nan, nếu mùi thơm ấy sanh ra do mũi ông, đã nói là từ mũi sanh ra, tất phải từ lỗ mũi mà ra, lỗ mũi không phải chiên đàn, làm sao trong lỗ mũi lại có được mùi thơm chiên đàn? Lại đã gọi rằng ông ngửi mùi thơm, thì mùi thơm phải vào trong lỗ mũi; còn nói là trong lỗ mũi phát ra mùi thơm, nói thế là không đúng nghĩa. Nếu sanh ra do nơi hư không, thì tánh hư không là thường còn, mùi thơm lẽ ra cũng phải thường có, cần gì phải đốt cây chiên đàn khô trong lư rồi mới có? Nếu mùi thơm sanh ra từ cây chiên đàn, thì cái chất thơm ấy nhân đốt mà thành khói, nếu mũi ngửi được là do khói xông đến mũi. Tại sao khói đó xông lên khoảng không chưa được bao xa mà trong vòng bốn mươi dặm đều đã ngửi thấy?

Thế nên, phải biết Hương Trần và cái Ngửi đều không xứ sở. Tức cái Ngửi và Hương Thơm, cả hai Xứ ấy đều hư vọng, vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.

Thông rằng: Cái Ngửi này cùng với Hương Thơm, chẳng phải mũi, chẳng phải hư không, chẳng phải gỗ chiên đàn, tức là cái Hương Xứ không có thật vậy. Thế nào mà trong vòng bốn mươi dặm đồng thời ngửi thấy, thì cái sức đặc biệt của mùi thơm cũng là không thể nghĩ bàn.

Táo Bách Luận:

– Cây chiên đàn Ô Lạc Ca: Ô Lạc Ca là tên con rắn. Chiên đàn là cây thơm. Rắn này rất độc, nó hay sợ nóng độc, thường quấn quanh cây thơm này thì độc khí hết. Ý nói rằng nếu có chúng sanh nghe nói cái Hương mà Tâm Cảnh đều không, vốn không thể tướng, không xứ sở, không một pháp khá được, tin mà ngộ nhập thì tất cả phiền não, độc khí tự nhiên đều thanh tịnh.

Thiền sư Hương Nghiêm Trí Nhàn có bài kệ:

Có một lời, toàn quy củ,
Định suy lường, theo bọn xấu.
Đạp lên mà chẳng lầm, bèn tỉnh ngay xứ sở,
Một đời tham học, sự không thành.
Ân cần ôm được gốc chiên đàn
.

Bài kệ này từ đây mà ra vậy.

Tổ Chí Công nói:

– Trọn ngày lấy hương chọn lửa. Không hay thân tức Đạo Tràng.

Ngài Thiên Đồng nêu ra:

– Kẻ giỡn tinh hồn nào có giới hạn?

Ngài Huyền Sa nói:

– Suốt ngày lấy hương chọn lửa. Chẳng hay Chơn Thật Đạo Tràng.

Ngài Thiên Đồng nêu ra:

– Thật kỳ quái: tám mươi ông vào trường ốc, chẳng phải là trẻ nhỏ giỡn chơi? Thử nói cái lợi cái hại ở chỗ nào? Có Trí hay chẳng có Trí, so ra trong ba mươi dặm đều đồng một tác dụng Vô Sanh, mới là có chút hào ly biện biệt ở đây.

Người có trí hãy biện biệt.

Kinh:

– A Nan, ông thường hai thời ở trong chúng cầm bình bát khất thực. Trong đó, hoặc gặp những món tô lạc đề hồ, gọi là vị quý. Ý ông thế nào? Vị ấy sanh ra ở trong hư không, do nơi cái lưỡi hay do nơi đồ ăn?

A Nan, nếu cái Vị ấy sanh ra do nơi cái lưỡi của ông, thì ở trong miệng ông chỉ có một cái lưỡi. Cái lưỡi lúc ấy đã thành vị tô rồi, nếu gặp cục đường phèn, lẽ ra cái Vị không thay đổi. Nếu chẳng thay đổi thì không gọi được là biết Vị. Còn nếu thay đổi thì cái lưỡi không có nhiều tự thể, thì làm sao một cái lưỡi lại biết được nhiều Vị Thể thế?

Nếu Vị ấy sanh ra do nơi đồ ăn, thì đồ ăn không có sự Biết, làm sao tự nó biết Vị? Lại như đồ ăn tự biết, thì cũng giống như người khác ăn, nào có dính dáng gì đến ông, mà nói là ông biết Vị?

Nếu Vị ấy sanh ra từ hư không, thì ông hãy nếm hư không xem là Vị gì. Nếu hư không đó mà có Vị mặên, làm mặn lưỡi ông, chắc cũng làm mặn cái mặt ông và mọi người trong cõi này: cũng giống như cá biển, đã thường thọ nhận cái mặn thì không còn biết cái vị nhạt là gì nữa. Nhưng nếu không biết nhạt thì lại cũng không biết mặn. Tức là không có chỗ Biết, sao gọi là biết Vị?

Thế nên, phải biết: các Vị và Lưỡi Biết Nếm đều không xứ sở. Tức cái Biết Nếm và các Vị, cả hai Xứ đều hư vọng, vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.

Thông rằng: Đoạn này chứng minh cái tánh của Vị, chẳng sanh ra do nơi hư không, chẳng sanh ra do nơi Lưỡi, thì còn dễ biết. Nhưng sao lại nói chẳng do món ăn sanh ra? Vì, món ăn chẳng có Thức, nó chẳng tự nói: Vị của tôi ngon, Vị tôi dở. Phân biệt ngon, dở là thuôïc về căn lưỡi. Mà căn lưỡi thì không có định thể, theo Vị mà dời đổi. Đủ biết rằng: Vị tự là vị, lưỡi tự là lưỡi. Cả hai đều lặng nhiên. Biết lưỡi cùng vị đều vắng lặng, thì thật tin là chúng chẳng phải là Nhân Duyên, chẳng phải là Tự Nhiên mà chính là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh.

Thiền sư Thần Đảnh Nhân có lần cùng với chúng Tăng đến miền Tương Miện. Có một vị sư khởi bàn về Thiền rất trôi chảy. Trong quán Dã Phạn Sơn đã bày xong thức ăn, mà nhà sư luận nói vẫn chưa xong.

Tổ Đảnh nói:

– Ba cõi duy chỉ một Tâm, muôn pháp duy chỉ là Thức. Duy Thức, duy Tâm, mắt thanh, tai sắc là lời của ai thế?

Nhà sư nói:

– Lời của Tổ Pháp Nhãn.

Tổ Đảnh hỏi:

– Nghĩa ấy như thế nào?

Sư đáp:

– Duy Tâm nên Căn và Cảnh không đến nhau. Duy Thức nên Thanh, Sắc khua đánh.

Tổ Đảnh nói:

– Cái Lưỡi, cái Vị có phải là Căn và Cảnh không?

Nhà sư đáp:

– Phải.

Tổ Đảnh lấy đũa gắp rau bỏ vào miệng, giỡn cợt nói rằng:

– Nào gọi là tương nhập sao?

Người ngồi chung quanh đều kinh hãi. Nhà sư chẳng thể đáp lại.

Tổ Đảnh nói:

– Cái vui dọc đường rốt cuộc chưa đến nhà. Kiến giải dầu vi diệu cũng chẳng gọi là thấy đạo. Tham, cần thật tham. Ngộ, cần thật ngộ. Diêm Vương chẳng sợ chuyện nói nhiều.

Vị sư làm lễ mà cáo từ.

Tổ Huyền Sa có lần ăn trái vải, hỏi đại chúng:

– Trái vải này cho là màu hồng ư? Cho là màu đỏ ư? Các ông làm sao đây? Nếu nói là một màu lại là mông lung; nói là nhiều màu thì chỉ thành cái đoạnthường. Các ông làm sao đây?

Sư Ngạn Thao nói:

– Đó chỉ vì Hòa Thượng phân biệt.

Tổ Sa nói:

– Ngu si mơ hồ như thế có giao thiệp gì đâu?

Sư Xung Cơ nói:

– Hết thảy xưa nay chỉ là một màu.

Tổ Sa nói:

– Đều là mơ hồ hết, có khi nào mà hiểu được?

Bèn quay qua hỏi sư Kiểu Nhiên: Ông nói thế nào?

Sư Kiểu Nhiên nói:

– Không thể không biết đó là trái vải.

Tổ Sa nói:

– Thật chỉ là trái vải.

Lại nói:

– Các ông như lâu nay ở trong Giá Lý (Tâm Pháp) của tôi, cùng nói gì mà chẳng biện nổi trắng đen, không biết lành dữ. Tôi luôn nói với các ông là: Dụng xứ chẳng hoán cơ. Nhân sao chỉ lo đối đáp, có giao thiệp gì đâu!

Người xưa nơi một miếng ăn, một thức uống đều cốt phát minh chuyện hướng thượng. Mỗi mỗi đều như thế, há phải ở chỗ đối đáp lưu loát. Cần phải thực ngộ mới cùng người sáng mắt tương kiến vậy.

Kinh:

– A Nan, buổi sớm mai ông thường lấy tay xoa đầu, ý ông thế nào? Trong việc biết xoa đó, lấy cái gì làm cái Biết Cảm Xúc? Cái Biết ấy ở nơi tay hay ở nơi đầu?

Nếu nó ở nơi tay, mà cái đầu không biết, làm sao thành ra Cảm Xúc? Nếu nói ở nơi đầu, mà cái tay lại vô dụng thì làm sao gọi là Cảm Xúc? Nếu đầu lẫn tay mỗi cái đều có cái Biết, thì một mình A Nan lại có hai cái thân hay sao? Nếu đầu và tay đều do một Cảm Xúc sanh ra thì tay và đầu phải là một tự thể. Mà nếu chỉ có một tự thể thì Cảm Xúc không thành được. Còn nếu là hai thể thì Cảm Xúc ở phía nào? Ở bên Năng thì không ở bên Sở, ở bên Sở thì không có ở bên Năng. Chẳng có lẽ là hư không tạo thành Cảm Xúc cho ông?

Thế nên, phải biết: Cảm Xúc và Thân Căn đều không xứ sở. Tức cái Thân biết Cảm Xúc và cái Cảm Xúc, cả hai đều hư vọng, vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.

Thông rằng: Ở đây, chỉ rõ tánh Xúc là hư vọng, ở năng thì chẳng ở sở, ở sở thì chẳng ở năng. Năng sở đều chẳng phải, thì Xúc tức là Tánh Chân Như.

Kinh Hoa Nghiêm nói:

– Như thế, tự tánh như huyễn, như mộng, như bóng dáng rốt chẳng thành tựu. Trong Tánh Chân Như các pháp tùy duyên. Tuy là tùy duyên, các pháp quy tánh. Khi tùy duyên thì hình như có hiện ra. Như xem làm huyễn thuật: không có mà có. Như nhìn cảnh mộng: không thấy mà thấy. Như xem ảnh trong nước: chẳng phải sanh ra, chẳng phải nhập vào. Như nhìn bóng trong gương: chẳng trong, chẳng ngoài. Vì Vô Tánh mà tùy duyên, nên Lý chẳng thành tựu. Vì tùy duyên mà vô tánh, nên Sự chẳng thành tựu. Lý Sự không thành tựu thì tất cả các pháp đều không thành. Cũng như trong chiêm bao mộng thấy đánh võ với người: cũng có cảm nhận xúc chạm, nhưng rốt ráo ai là người đánh, ai cảm thấy bị đánh? Thế nên, tất cả các pháp đều như thế cả.

Tổ Bửu Phước thấy có vị tăng đi lại, lấy cây gậy đánh vào cây cột lộ trụ, rồi đánh vào đầu ông tăng. Vị này buông tiếng kêu đau.

Tổ Phước nói:

– Cái ấy vì sao chẳng đau?

Vị tăng không đáp được.

Tổ Huyền Giác nói thay rằng:

– Ham đi thì chống gậy.

Lại còn Tổ Bửu Giác có lần hỏi Ông Chuyển Vận Phán Quan là Hạ Ỷ rằng:

– Ông nói Hữu Tình với Vô Tình đều cùng một thể phải không?

Khi ấy, có con chó nằm dưới bàn hương án, bèn lấy cây thước đập xuống bàn hương án rồi lại đập con chó, nói:

– Con chó Hữu Tình thì chạy đi, bàn hương án Vô Tình thì vẫn còn đó. Như thế nào là một thể được?

Ông Hạ Ỷ không thể đáp.

Tổ Bửu Giác nói:

– Vừa mới tư duy liền thành dư pháp!

Cái hiểu biết của chư vị Thánh đời trước trao truyền cho nhau đều là ý chỉ này.

Kinh:

– A Nan, ông thường trong Ý duyên với ba tánh thiện, ác và vô ký sanh ra có các pháp trần. Những pháp trần đó tức nơi tâm mà sanh ra, hay là rời ngoài tâm mà có riêng nơi chốn?

A Nan, nếu tức nơi tâm thì các pháp không phải là trần cảnh, như thế thì chúng không phải là cái sở duyên của tâm, làm sao thành một Xứ được?

Nếu rời ngoài cái tâm có riêng nơi chốn, thì bản tánh của pháp trần là có biết hay không có biết? Nếu có biết thì gọi là tâm, nhưng nếu nó khác với ông và không phải là trần cảnh, thì cũng như là cái tâm của người khác. Còn nếu nó tức là ông và cũng tức là tâm, thì làm sao mà cái tâm ông lại trở thành hai ở nơi ông?

Nếu không có biết thì cái pháp trần đó đã không phải là sắc, thanh, hương, vị, ly, hợp, lạnh, nóng và tướng hư không, thì nó hiện ở chỗ nào? Hiện nay, ở nơi Sắc Không, không thể chỉ ra nó được, chẳng lẽ trong nhân gian lại có cái ngoài hư không? Không có cảnh sở duyên thì ý căn do đâu mà lập thành một Xứ được?

Thế nên, phải biết: Pháp trần cùng ý căn đều không xứ sở. Tức ý căn và pháp trần cả hai xứ đều hư vọng, vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên, cũng phải tánh Tự Nhiên.

Thông rằng: Ba sự thiện, ác, vô ký ngay khi đối đãi với căn thì các sự ấy đều thật, nên gọi là Thật Cảnh. Còn khi không đối đãi với cảnh, chỉ có một mình ý thức duyên mà thôi, bèn là bóng dáng của Thật Cảnh, nên gọi là Nội Trần. Nội trần không ra ngoài ba tánh thiện, ác, vô ký duyên ra Sắc Không, hết thảy pháp, nên cũng gọi là Pháp Trần. Từ vô thủy đến nay, trong và ngoài huân tập lẫn nhau, nên nói là “Sanh thành”.

Nếu nói “Pháp tức nơi tâm”, thì tâm là năng duyên, pháp là sở duyên làm sao mà tức được. Điều này dễ biện rõ. Nếu nói “Pháp lìa ngoài tâm”, thì cái pháp này thật ở đâu? Cho pháp là có biết, thì đồng với tâm, mà đã đồng với tâm bèn chẳng phải là trần cảnh vậy. Chẳng phải trần mà lại khác với ông, mà vẫn phải gọi là tâm, tức là cũng như tâm của người khác. Chẳng phải trần mà không khác với ông, thì sao tâm ông lại thành hai ở nơi ông, mà gọi đó là pháp trần vậy sao? Do đó, lấy sự Có Biết mà làm nơi chốn thì không thể được. Còn cho là Không Biết thì pháp trần ấy lấy cái gì mà bày tỏ ra được?

Pháp trần đã chẳng phải là các tướng Sắc Không, lại chẳng phải rời ngoài Sắc Không mà có riêng chỗ chứa lập. Ngoài sắc có hư không, hư không thì chẳng có gì ở ngoài. Nếu pháp trần có cái Xứ để cho tâm duyên được thì chắc là hư không đã có cái ở ngoài nó. Nhưng hư không làm gì có cái ở ngoài nó, thì tâm duyên vào đâu? Sở dĩ tâm mà duyên với pháp, nghĩa là Sắc Không thì vô tri, do tri mà hiển bày. Tri thì có phân biệt, bèn gọi đó là pháp. Nay pháp đã vô tri, lại không nơi chốn, thì tâm tuy là có biết, mà biết cái gì? Do đó, lấy vô tri làm nơi chốn cho pháp trần thì cũng không được. Chẳng phải có biết, chẳng phải không có biết, thì Xứ do đâu mà lập được? Tức nơi tâm chẳng có pháp, lìa ngoài tâm cũng chẳng có pháp, nên pháp trần không có tự tánh vậy. Thế thì chẳng phải hư vọng sao? Pháp không xứ sở thì ý căn là không. Nên gọi đó là Diệu Chân Như Tánh vậy.

Thiền sư Thanh Châu Pháp Bổn thượng đường, nói:

– Khởi lên âm thanh mà muốn bặt tiếng vang, đâu biết âm thanh là gốc của tiếng vang. Giỡn bóng mà muốn trốn hình, đâu biết hình là gốc của bóng. Lấy pháp hỏi pháp, chẳng hay pháp vốn chẳng phải pháp. Lấy tâm truyền tâm, nào hay tâm vốn vô tâm. Tâm vốn vô tâm, biết tâm như huyễn. Ngộ pháp chẳng phải pháp, biết pháp toàn như mộng. Tâm, pháp không thực, chớ giả dối truy cầu. Mộng huyễn, Không hoa nhọc gì nắm bắt! Đến vào trong ấy thì ba đời Chư Phật, một Đại Tạng Giáo, lời lẽ Tổ Sư, Tôn Túc trong thiên hạ đều lộ bày là đám dây leo, chùm gởi, trọn chẳng còn bám chấp. Tại sao thế? “Thái bình vốn chỗ tướng quân mong. Không để tướng quân thấy thái bình”.

Bài kệ trong kinh Tạp Hoa nói:

Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân,
Tâm, Ý các Tình Căn.
Bởi đó thường lưu chuyển,
Mà thật không người chuyển.
Pháp Tánh vốn không sanh,
Thị hiện mà có sanh.
Trong ấy không Năng hiện,
Cũng không vật Sở hiện.
Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân,
Tâm, Ý các Tình Căn.
Cả thảy: Không, Vô Tánh,
Vọng tâm phân biệt: Có.
Như thế mà quan sát
Tất cả đều Vô Tánh
.

Đại ý đoạn này thật cùng với kinh mà hiển phát.

* * * * *



H. THU MƯỜI TÁM GIỚI


heartKinh:

– Lại nữa, A Nan, như sao là Mười Tám Giới vốn là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh? Thông rằng: Đối với Trần thì gọi là Căn, Căn ở trong vậy. Đối với Căn thì gọi là Trần, Trần ở ngoài vậy. Ở khoảng giữa, mỗi mỗi phân biệt là cái Thức. Ba cái Căn, Trần, Thức nương nhau mà thành lập, như cây lau gác lên nhau, nên có tên là Mười Tám Giới. Ba cái ấy, có thì cùng có, không thì cùng không, vốn không tự tánh. Đã không tự tánh, bèn vốn là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh vậy.

Thiền sư Thùy Lộc Bổn Tiên thượng đường, nói:

– Chỗ các Pháp sanh ra là chỗ hiện bày của tâm. Lời nói ấy thật là cửa nẻo để vào. Thử hỏi các ông: mắt thấy hết thảy sắc; tai nghe hết thảy thanh; mũi ngửi hết thảy mùi; lưỡi nếm hết thảy vị; thân chạm hết thảy các thứ mềm, trơn; ý phân biệt hết thảy các pháp. Vậy thì cái vật đối với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý chỉ duy là tâm các ông hay chẳng phải là tâm các ông? Nếu nói là duy chỉ tâm các ông, sao chẳng cùng thân các ông làm thành một khối cho rồi? Vì sao các vật đối đãi ấy lại ở ngoài các Căn của các ông? Các ông nếu nói vật đối với mắt, tai, mũi, lưỡi… chẳng phải là tâm các ông thì tại sao có câu “Chỗ các pháp sanh ra là chỗ hiện bày của tâm” lưu truyền tại thế gian, ai cũng nêu bày? Các ông nghe lời yếu lý ấy, có hiểu không? Nếu không hiểu, hãy dụng tâm thương lượng để được dạy cho mà hiểu, ở trong ấy chớ có lười biếng học hỏi. Vô sự, hãy lui.

Có vị tăng hỏi Tổ Vân Cư:

– Khi sáu cửa chẳng rõ thì như thế nào?

Tổ Cư nói:

– Chẳng giao thiệp với duyên.

Vị tăng hỏi:

– Thế nào là chuyện hướng thượng?

Tổ Cư nói:

– Người cẩn thận thì không giữ gìn.

Ngài Đầu Tử tụng rằng:

Xuân đến, người đá nhìn núi xa,
Oanh kêu, hoa gỗ sóng xanh nhàn.
Nên biết, ngoài mây, tùng, núi đẹp,
Nghìn xưa đón gió mặc năm hàn
.

Hai câu đầu tụng về “Chẳng giao thiệp với duyên.” Hai câu sau tụng về “Chuyện hướng thượng.” Cần rõ được sự hướng thượng mới tin Mười Tám Giới vốn là Tánh Chân Như vậy.

Kinh:

– A Nan, như chỗ ông bày tỏ: Nhãn căn và sắc trần làm duyên, sanh ra Nhãn Thức. Cái Thức này là nhân nhãn căn sanh ra, lấy nhãn căn làm Giới; hay nhân sắc trần sanh ra, lấy sắc trần làm Giới?

A Nan, nếu nhân nhãn căn sanh ra, mà không có Sắc, có Không, thì không thể phân biệt, dầu cho có cái Thức của ông cũng chẳng làm gì. Cái Thấy của ông mà không có xanh, vàng, trắng, đỏ thì không thể biểu hiện ra được, vậy do đâu mà lập ra Giới?

Nếu nhân sắc trần sanh ra, thì khi ở hư không, chẳng có sắc, lẽ ra cái Thức của ông phải diệt mất, làm sao mà biết đó là hư không? Nếu khi sắc trần biến đổi, ông cũng biết sắc tướng biến đổi, mà cái Thức của ông chẳng biến đổi, thế thì do đâu mà lập sắc trần làm Giới? Nếu theo sắc mà biến đổi thì cái Giới không thành. Nếu không biến đổi, tức là thường hằng, cái Thức đã từ sắc sanh ra, lẽ ra không biết hư không ở chỗ nào.

Nếu do cả hai thứ nhãn căn và sắc trần chung nhau sanh ra, thì hợp lại ắt ở giữa phải có chỗ lìa; còn như lìa, ắt hai cái có thể hợp lại. Như thế, thể tánh xen lộn, làm sao thành được Giới?

Thế nên, phải biết: Nhãn căn, sắc trần làm duyên sanh ra Nhãn Thức Giới, cả ba chỗ đều không. Tức là cả ba thứ Nhãn Giới, Sắc Giới và Nhãn Thức Giới vốn chẳng phải tánh Nhân Duyên, chẳng phải tánh Tự Nhiên.

Thông rằng: Cái Mười Tám Giới này, chỉ phá sáu Thức. Nói cái Thức này chẳng phải từ mắt sanh ra mà lấy mắt làm Giới, vì Thức thì phân biệt, nhưng nếu không có Sắc, Không thì phân biệt dùng vào đâu?

Cái Thức này chẳng phải từ sắc sanh ra mà lấy sắc làm Giới, vì sắc thì có biến diệt, Thức thì không đổi thay, nếu chỉ từ sắc mà ra thì làm sao biện “không”?

Thức ấy cũng không nhân nhãn và sắc hợp lại mà làm ra Giới. Vì một bên “có Biết” (nhãn căn) hợp với một bên “không Biết” (sắc trần) ắt chống nhau, làm sao mà tương nhập? Nên nói “Ở giữa phải có chỗ lìa”.

Bảo rằng lìa ngoài nhãn và sắc mà sanh ư? Lìa căn tức là hợp với cảnh, lìa cảnh tức phải hợp với căn, vậy Thức thuộc bên nào? Thế nên mới nói “Xen lộn”.Ba chỗ đồng chẳng phải, thì Giới ở đâu mà có?

Tổ Pháp Nhãn chỉ cây tre, hỏi vị tăng:

– Thấy không?

Vị tăng đáp:

– Dạ, thấy.

Tổ Nhãn nói:

– Tre đến trong mắt hay mắt đến bên tre?

Vị tăng nói:

– Đều chẳng phải như thế.

Sau này, Tổ Pháp Đăng riêng nói:

– Khi ấy, chỉ nên bửa mắt ra mà ngó thầy.

Tổ Quy Tông Nhu riêng nói rằng:

– Hòa Thượng chỉ là chẳng tin hai chuyển ngữ của tôi lại có hơi thở của thiền tăng.

Lại có vị tăng hỏi Tổ Thiên Đồng Khải:

– Như thế nào là con mắt ứng dụng không thiếu hụt?

Tổ Đồng nói:

– Vẹn giống như mù một thứ!

Ngài Đơn Hà tụng rằng:

Mù, ngọng, điếc, câm xa Thiên Chân,
Mắt tợ lông mày: Đạo mới gần.
Đông Quân đêm trước ngầm ban lệnh,
Chốn hoàng oanh hót liễu xanh xuân
.

Ở chỗ này mà tin được thấu đáo thì mặc tình ứng dụng không thiếu hụt.

* * * * *


Sách (pdf file): KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG

1. GIỚI THIỆU KINH LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
2. DUYÊN KHỞI CỦA KINH
3. GẠN HỎI CÁI TÂM
4. CHẤP TÂM Ở TRONG THÂN
5. CHẤP TÂM Ở NGOÀI THÂN
6. CHẤP TÂM NÚP SAU CON MẮT
7. CHẤP TÂM HỢP VỚI CHỖ NÀO THÌ LIỀN CÓ Ở CHỖ ẤY
8. CHẤP TÂM KHÔNG DÍNH DÁNG VÀO ĐÂU TẤT CẢ
9. CẦU ĐI ĐẾN CHỖ CHÂN THẬT
10. NƯƠNG CÁI THẤY, GẠN HỎI CÁI TÂM
11. CHỈ RÕ TÍNH THẤY KHÔNG PHẢI LÀ CON MẮT
12. Ý NGHĨA CHỦ VÀ KHÁCH
13. CHỈ TÁNH THẤY KHÔNG SANH KHÔNG DIỆT
14. CHỈ CHỖ ĐIÊN ĐẢO
15. LỰA BỎ TÂM PHAN DUYÊN ĐỂ CHỈ TÁNH THẤY KHÔNG THỂ TRẢ VỀ ĐÂU
16. LỰA RIÊNG TRẦN CẢNH ĐỂ NÊU RA TÁNH THẤY
17. NGHI TÁNH THẤY HIỆN Ở TRƯỚC MẮT
18. XIN CHỈ DẠY TÁNH THẤY CHẲNG DO THẤY
19. CHỈ RÕ Ý NGHĨA TÁNH THẤY KHÔNG PHẢI LÀ CÁI THẤY, VIÊN MÃN BỒ ĐỀ
20. TÓM THU: THU SẮC ẤM – THU THỌ ẤM – THU TƯỞNG ẤM




Leave a Reply