TÓM THU: THU HÀNH ẤM – THU THỨC ẤM – THU SÁU NHẬP

Feb 4, 15 | Tâm Duyên | 1,255 views | No Comments



Share |




heart

KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG

Nhẫn Tế Thiền Sư

-o0o-

QUYỂN III

PHẦN THỨ HAI: PHẦN CHÁNH TÔNG

CHƯƠNG I: CHỈ BÀY CHÂN TÂM

MỤC BẢY: TÓM THU VỀ NHƯ LAI TẠNG

Nghe MP3 (24/61): THU HÀNH ẤM – THU THỨC ẤM


* * * * *



D. THU HÀNH ẤM


tulipsKinh:

– A Nan, ví như dòng nước chảy xiết, sóng mòi nối nhau, lớp trước lớp sau, không vượt khỏi nhau. Nên biết Hành ấm lại cũng như thế.

A Nan, Tánh Chảy như vậy không nhân hư không mà sanh, không nhân nước mà có, cũng không phải tánh nước, cũng không rời hư không và nước. Thật vậy, A Nan, nếu nhân hư không mà sanh, thì mười phương hư không vô tận thành ra dòng nước chảy vô tận, thế thì thế giới đều bị chìm đắm cả. Nếu nhân nước mà có, thì dòng chảy ấy bản tánh lẽ ra không phải là nước nữa và hiện nay đã có thể chỉ ra tướng của dòng chảy và tướng của nước khác nhau. Nếu Tánh Chảy tức là Tánh Nước, thì khi nước đứng lại, lẽ ra không phải là nước nữa. Nếu Tánh Chảy rời hư không và nước mà có, thì không thể có cái gì ở ngoài hư không cả, và ở ngoài nước không thể có dòng nước.

Vậy nên biết rằng: Hành Ấm hư vọng, vốn không phải Tánh Nhân Duyên, không phải Tánh Tự Nhiên.

Thông rằng: Thức A Đà Na vi tế, tập khí hiện hành như dòng nước chảy xiết, tưởng chừng là đứng yên, gọi là Thức Thứ Tám. Gắn dính cái vọng động vào Tánh trong lặng, niệm niệm đổi dời, biến đổi chẳng hề ngừng nghỉ, gọi là Thức Thứ Bảy, đó là Hành Ấm. Hành Ấm giống như dòng nước chảy xiết, theo Cảnh mà đổi dời. Nhưng cái dòng chảy đó, không phải từ Cảnh mà sanh, không phải từ Tâm mà sanh, chẳng phải tức là Tâm Cảnh, chẳng phải lìa ngoài Tâm Cảnh. Tất cả bởi vì Thức Thứ Bảy ở trong dựa vào Thức Thứ Tám, ngoài thì nương theo Thức Thứ Sáu, vốn không có tự tánh khá được. Đã vô tự tánh, tức là hư vọng vậy.

Nói dòng nước chẳng phải từ hư không sanh ra thì còn dễ hiểu, nhưng nói “Dòng nước chẳng phải từ nước mà có” thì khó biện ra. Cái Năng Hữu là nước, cái Sở Hữu là dòng nước chảy. Cũng như cây sanh ra trái, thì trái chẳng phải là cây, rõ ràng có thể chỉ ra là cây khác trái. Thế mà dòng nước chảy và nước, hai tướng ấy không thể riêng ra mà tự có, thì tức là dòng nước không phải do nước mà riêng có, đã rõ ràng vậy. Dòng nước chảy chẳng phải tức là hư không hay nước, nghĩa là không phải Nhân Duyên. Chẳng lìa ngoài hư không và nước, tức chẳng phải Tự Nhiên. Chẳng phải Nhân Duyên, chẳng phải Tự Nhiên thì đương nhiên là hư vọng. Thấu suốt được là hư vọng, hiện giờ vốn tự Vô Sanh, đó là Tánh Diệu Chân Như.

Kinh Lăng Già nói:

– Có tướng thì sanh chấp ngại, có tưởng thì sanh vọng tưởng. Sự trôi chảy (lưu chú) sanh thì theo vọng mà trôi lăn. Nếu đến được Vô Công Dụng Địa thì vẫn còn trong tướng lưu chú. Cần phải vượt ra được cái sanh tướng lưu chú thứ ba, mới là tự tại khoái hoạt.

Có vị tăng hỏi Tổ Triệu Châu:

– Trẻ nhỏ sơ sanh có đủ sáu Thức hay không?

Tổ Châu nói:

– Trên dòng nước xiết, đánh cầu.

Vị tăng lại hỏi Tổ Đầu Tử:

– Trên dòng nước xiết đánh cầu, ý chỉ thế nào?

Tổ Đầu Tử đáp:

– Niệm niệm chẳng dừng.

Ngài Tuyết Đậu tụng rằng:

Sáu Thức vô công, hỏi một câu,
Tác gia chung sức biện mối đầu.
Mênh mông chảy xiết: cầu vẫn đánh,
Chỗ ấy chẳng ngừng, ai biết xem
?

Dịch:

Lục Thức vô công thân nhất vấn,
Tác gia tầng vọng biện lai đoan.
Mang mang cấp xuất đả cầu tử,
Lạc xứ bất đình thùy giải khán
.

Đây là hoạt cú của Ngài Tuyết Đậu. Thử nói bài tụng đến vào chỗ nào? Nếu nhìn thấy được mới tin nổi Hành Ấm tức là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh.

* * * * *



E. THU THỨC ẤM


tulipsKinh:

– A Nan, ví như có người lấy bình tần gìa bịt cả hai lỗ, rồi vác cái bình đầy hư không đi xa ngàn dặm đem cho nước khác. Nên biết rằng Thức Ấm cũng lại như thế.

A Nan, cái hư không ấy không phải đến từ phương kia, cũng không phải nhập vào phương này. Thật vậy, A Nan, nếu đến từ phương kia, thì trong cái bình đã đựng hư không đem đi, ở phương kia lẽ ra phải thiếu một bình hư không! Nếu đưa vào phương này thì khi mở miệng bình trút ra, lẽ ra phải thấy hư không ra!

Vậy, nên biết rằng: Thức Ấm hư vọng, vốn không phải tánh Nhân Duyên, không phải tánh Tự Nhiên.

Thông rằng: Bộ Tông Cảnh Lục nói “Nếu chấp là có Thức, theo thân mà qua lại, nơi này Thức Ấm diệt, qua nơi kia Thức Ấm sanh thì cũng giống như đem hư không của xứ này qua cho xứ khác ở xa. Nếu ở nơi này Thức Ấm thật diệt mất, thì chỗ này phải thiếu hư không. Nếu ở nơi kia Thức Ấm lại sanh ra, thì khi mở nắp đổ bình, phải thấy hư không chảy ra. Bởi thế nên biết rằng: hư không bất động, Thức không “đến đi”, Thức Ấm là hư vọng vậy.

Tổ Ôn Lăng nói:

– Cái Tánh Không Chơn Giác cùng khắp pháp giới một khi đã mê thì là Thức, Thức cũng như hư không ở trong bình. Trong ngoài đều là một hư không: ví dụ cho Tánh và Thức vốn là một Thể. Bịt cả hai đầu: ví dụ cho hư vọng phân ra là Đồng, là Khác. Hư không không có sự “đến đi”: ví dụ cho Tánh không có sanh, không có diệt. Cái bình: ví dụ cho cái nghiệp hư vọng. Hư không trong bình: ví dụ cho Thức hư vọng. Nghiệp mang Thức đi, như cái bình mang hư không. Đi qua nước khác: ví dụ cho sự luân chuyển hư vọng trong sáu nẻo luân hồi.

Kinh Pháp Cú nói:

– Cái tinh thần ở trong hình hài như con chim sẻ nhốt trong bình. Bình vỡ thì chim bay mất.

Cái bình tần già này cũng giống như hình hài, hai ý giống nhau.

Quan Đại Phu Lục Tuyên hỏi Tổ Nam Tuyền:

– Người xưa có nuôi trong bình một con chim, dần dần lớn lên, không ra khỏi bình được. Nay nếu không được hủy bình, không được làm hư hao chim, làm sao ra được?

Tổ Nam Tuyền kêu lớn:

– Đại Phu!

Ông Lục Tuyên ứng tiếng dạ. Tổ Tuyền nói:

– Ra rồi vậy.

Ông Lục Tuyên do chỗ đó mở tỏ, bèn lạy tạ.

Một hôm, lại hỏi Tổ Nam Tuyền:

– Đệ tử theo Lục Hợp mà đến, trong ấy lại còn có thân chăng?

Tổ Tuyền nói:

– Phân minh nhớ giữ, cử động tựa chủ nhân.

Ông Lục Tuyên nói:

– Hòa Thượng thật không thể nghĩ bàn, đến chỗ nào thế giới thành tựu chỗ đó.

Tổ Tuyền nói:

– Thật ra, đều là chuyện của phần ông đó!

Hòa Thượng Báo Ân Minh hỏi hai vị thiền khách:

– Thủ Tòa vừa rời chỗ nào?

Đáp:

– Kinh đô.

Tổ Minh nói:

– Thượng Tọa rời kinh đô đến núi này, thì kinh đô thiếu Thượng Tọa mà núi này dư Thượng Tọa! Dư tức là ngoài tâm có pháp; thiếu thì tâm, pháp chẳng cùng khắp! Nói được lý đạo thì nên ở, chẳng hiểu thì nên đi.

Hai vị này không đáp được.

Như thiền sư Thiên Y Hoài, chỗ thấy tự rành rẽ. Tổ Thiên Y đến ngọn núi Sam, được mời vào chùa, thượng đường nói:

– Suốt hai mươi năm mến mộ núi này, hôm nay mừng đã đến được, quả là đầy đủ nhân duyên. Sơn tăng chưa đến núi này mà thân đã đến trước. Kịp tới khi đến đây, thì núi Sam đã ở trong thân của sơn tăng”. Ở chỗ này mà mỗi mỗi đều thấu triệt, mới tin Thức Ấm là hư vọng, vốn chẳng hề có đến, có đi. Như bọt nước sanh ra, diệt mất, không lìa ngoài biển cả. Bọt nước là biển cả, thì Thức lại chẳng phải là Tánh Diệu Chân Như đó ư?

* * * * *



F. THU SÁU NHẬP


Kinh:

– Lại nữa, A Nan, như sao là Lục Nhập vốn là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh?

Thông rằng: Lục Nhập cũng gọi là Lục Xứ, là cái chỗ để cho Cảnh do đó mà Nhập vào vậy. Ở đây chỉ lấy Căn làm Nhập. Lục Căn sao lại là Diệu Chân Như Tánh? Chẳng phải là “Một Căn đã trở về nguồn thì sáu Căn đều thành Giải Thoát” sao? Bởi thế, sáu Căn tức đó là Phật Tánh vậy.

Vua Dị Kiến hỏi tôn giả Ba La Đề:

Cái gì là Phật?

Tổ đáp:

-Thấy Tánh là Phật.

Vua hỏi:

– Thầy thấy Tánh chăng?

Tổ đáp: Tôi thấy Phật Tánh.

Vua hỏi: Cái Tánh ở chỗ nào?

Tổ nói:

– Tánh ở trong tác dụng.

Vua hỏi:

– Ấy là tác dụng nào mà tôi không thấy?

Tổ nói:

– Nay hiện là tác dụng mà vua tự chẳng thấy.

Vua hỏi: Hiện nơi tôi có chăng?

Tổ nói:

– Vua mà tác dụng thì không có gì chẳng phải là đó; vua mà chẳng dùng, Thể ấy khó thấy. Vua hỏi:

– Như khi đang dùng thì xuất hiện mấy chỗ?

Tổ đáp: Như khi xuất hiện thì hiện có tám chỗ.

Vua nói:

Xin vì tôi nói ra tám chỗ xuất hiện ấy.

Tổ Ba La Đề nói bài kệ:

Ở thai làm Thân,
Ở đời làm Người.
Ở mắt là Thấy,
Ở tai là Nghe.
Ở mũi Ngửi mùi,
Ở miệng Đàm Luận.
Ở tay Cầm Nắm,
Ở chân Đi Chạy.

Hiện khắp đồng đều pháp giới,
Thâu lại trong một vi trần.
Tỏ hiểu, biết đó là Phật Tánh,
Không hiểu, lại gọi là tinh hồn.

Vua nghe xong bài kệ, tâm liền khai ngộ.

Ông Trình Minh Đạo đọc Trung Dung có câu thơ “Diều bay tận trời. Cá nhảy trong vực”, nói rằng “Trên dưới đều rõ ràng vậy”. Đây là Ông Tử Tư quả là vì người mà gắng sức. Biết được thì đời sống quá đổi tự do. Chẳng biết, thì chỉ là “Đùa giỡn với tinh hồn”. Những lời nói ấy, người học vẫn thường nghe. Vì sao vua Dị Kiến lại tỏ ngộ, nhỉ?

Thiền sư Phật Nhật Tài thượng đường:

– Gió mưa tiêu điều lấp kín Tai ông! Lá rụng lại qua lấp kín Mắt ông! Hương mùi loạn xạ lấp kín Mũi ông! Lạnh nóng, ngọt bùi lấp kín Lưỡi ông! Áo gấm ấm mát lấp kín Thân ông ! Vọng tưởng điên đảo lấp kíp ý ông! Này chư vị thiền đức, cho dù các ông có lật lại được chăng nữa thì cũng là đống xương đất bằng! Tham!

Chỗ này chẳng tham thì không được!

Kinh:

– A Nan, tức nơi tròng mắt kia, ngó sững sanh ra mỏi lòa. Cả hai cái: con mắt và sự mỏi lòa đều là cái tướng sinh mỏi lòa do nhìn chăm chăm của Bồ Đề.

Nhân nơi hai thứ vọng trần sáng và tối phát ra cái Thấy ở bên trong, thu nạp các trần tướng mà gọi là cái Thấy. Cái Thấy này rời ngoài hai Trần sáng và tối, rốt ráo không có tự thể.

Thật vậy, A Nan, phải biết rằng cái Thấy đó chẳng phải từ nơi sáng, nơi tối mà đến, chẳng phải từ căn mắt mà ra, chẳng phải từ hư không mà sanh. Vì sao thế? Nếu từ cái sáng mà đến, thì khi tối đã theo cái sáng mà diệt, lẽ ra không thấy được cái tối! Nếu từ cái tối mà đến thì khi sáng phải theo cái tối mà diệt, lẽ ra không thấy được cái sáng! Nếu do căn mắt mà sanh, hẳn không có sáng, có tối thì cái Thấy như vậy vốn không tự tánh. Nếu do hư không mà ra thì ngó tới trước phải thấy các trần tượng, quay về phải thấy con mắt! Lại nữa, hư không mà tự thấy nào có liên quan gì đến chỗ thâu nhập của ông.

Thế nên, phải biết Nhãn Nhập là hư vọng, vốn chẳng phải tính Nhân Duyên, chẳng phải tính Tự Nhiên.

Thông rằng: Ngó sững chặp lâu thì mắt mỏi mà phát lòa, nên thấy hoa đốm loạn xạ, cái căn mắt phân biệt cũng là cái tướng lòa ở trong Giác Tánh Bồ Đề, nên nói “Cả con mắt và cái lòa đều là cái tướng mỏi sanh ra lòa của Bồ Đề”. Mượn con mắt lòa tạo thành sắc ấm để ví dụ là Nhãn Nhập hư vọng vậy. Nếu mắt chẳng mỏi, tướng lòa tự là không, nguyên một Tinh Minh lấy đâu mà vọng? Cái Thấy này lìa ngoài hai trần sáng, tối rốt ráo không tự thể. Rõ ràng hiển bày cái Chân Kiếân Vô Sanh, chẳng vì thấy sáng, thấy tối mà có, chẳng vì lìa sáng, tối mà không. Chân Kiến là Chân Thật, còn cái Thấy này là hư vọng, có thể thấy rõ ràng vậy.

Đoạn trước nói “Hoa đốm chẳng phải từ hư không sanh, chẳng từ con mắt sanh ra” chỉ thẳng sắc ấm vốn không. Ở đoạn này, nói “Tánh Thấy chẳng từ hư không sanh cũng chẳng do con mắt sanh ra” để chỉ bày Nhãn Nhập là hư vọng. Vọng vốn không tự tánh, Đương Thể tức Chân. Nên nói “Tức là Như Lai Tạng Diệu Chân Như Tánh” vậy.

Tổ Triệu Châu nói:

– Cầm chắc Càn Khôn Nhãn, làu làu chẳng lọt mảy lông. Mong ông hiểu thấu, ông lại làm gì nữa?

Ngài Thiên Đồng nêu ra rằng:

– Trở lại đầu mối được chưa? Dù cho ông ở trong ấy hiểu được bảy lỗ, tám hang đi nữa, ta cũng biết ông chẳng ra khỏi cái nôi mây kết tróùi của Tổ Triệu Châu đâu!

Lại có nhà sư hỏi Tổ Cửu Phong Kiền:

– Như thế nào là con Mắt Càn Khôn?

Tổ Phong nói:

– Càn Khôn ở trong ấy!

Nhà sư hỏi:

– Con Mắt Càn Khôn ở đâu?

Tổ Phong nói:

– Chánh đó là con Mắt Càn Khôn.

Sư hỏi:

– Lại có chiếu sáng không?

Tổ Phong nói:

– Chẳng nhờ đến thế lực của ba loại ánh sáng.

Sư hỏi:

– Đã chẳng nhờ sức của ba loại ánh sáng thì nhờ vào đâu mà chiếu sáng, mà gọi là con Mắt Càn Khôn ?

Tổ Phong nói:

– Nếu chẳng như thế thì trước sọ khô thấy quỷ ma vô số!

Hợp hai tắc này lại mà xem xét, nếu mà có nương nhờ thì đó chính là chỗ rỉ giọt, cho dù có hiểu được cũng là trước mắt thấy quỉ. Chỉ nơi một câu “Con Mắt Càn Khôn ở tại chỗ nào?” mà trộm thấy suốt được thì mới nắm chắc. Tướng mỏi sanh lòa từ chỗ nào mà khởi ra thế?

Kinh:

– A Nan, ví như có người lấy hai ngón tay bịt chặt lỗ tai, do căn tai mỏi, trong đầu hóa ra có tiếng. Cả hai cái: lỗ tai và cái mỏi mệt, đều là tướng lâu mà sanh ù mỏi của Bồ Đề.

Nhân nơi hai thứ vọng trần động và tĩnh phát ra cái Nghe ở trong, thu nạp cái trần tượng đó mà gọi là cái Nghe. Cái Nghe đó rời hai trần động tĩnh rốt ráo không có tự thể.

Thật vậy, A Nan, ông nên biết cái Nghe đó không phải từ nơi động, nơi tĩnh mà đến, không phải từ lỗ tai mà ra, không phải nơi hư không mà sanh. Tại sao thế? Nếu cái Nghe ấy từ nơi tĩnh mà đến thì khi động phải theo cái tĩnh mà diệt, lẽ ra không nghe được cái động. Nếu từ nơi động mà đến thì khi tĩnh sẽ theo cái động mà diệt, lẽ ra không nghe thấy cái tĩnh. Nếu do lỗ tai mà sanh, hẳn là không có động, không có tĩnh, thì cái Nghe như vậy vốn không có tự tánh. Nếu do hư không mà ra, thì đã có tánh nghe, chắc không phải là hư không nữa. Lại nữa, hư không mà tự nghe nào có liên quan gì đến chỗ thâu nhập của ông?

Vậy, nên biết rằng Nhĩ Nhập là hư vọng, vốn chẳng phải tánh Tự Nhiên, chẳng phải tánh Nhân Duyên.

Thông rằng: Từ Nhãn Nhập đến Ý Nhập đều như hoa không, nên nói “Đều là cái tướng mỏi mệt sanh ra của Bồ Đề”. Căn Tai mỏi ù, thì trong đầu có ra tiếng. Giác Tánh Bồ Đề phát sanh mỏi, ắt trong tai thành có cái Nghe. Cái Nghe này hư vọng mà sanh ra, cũng như hoa không vậy. Cái Nghe này rời hai vọng trần động và tĩnh thì rốt ráo không có tự thể. Trần đến thì có, trần đi thì không. Cái Nghe ấy vốn không gốc gác nên gọi là hư vọng. Cái Nghe hay phân biệt được động, tĩnh nên chẳng từ cảnh mà sanh. Cái Nghe thật linh mẫn, còn hư không thì trơ trơ, nên chẳng phải từ hư không mà ra. Như cái Thể Nghe của Nhĩ Căn, mỗi mỗi đều có mặt, sao lại nói là không tự tánh? Vì lìa ngoài tiền trần ắt là vô phân biệt. Nếu có phân biệt, đáng lẽ phải chỉ ra được. Nay không thể chỉ ra, thì biết là không tự tánh. Nghiệm xét cái Nghe ở nơi cảnh, ở nơi căn, ở nơi hư không đều không có cái Thể nhất định để tìm ra được, tức là cái Nghe hư huyễn này vốn chẳng phải tính Nhân Duyên, chẳng phải tính Tự Nhiên, bèn là tức huyễn tức chơn vậy. Nếu mà có Nhân Duyên hay Tự Nhiên khá được thì cái Nghe ấy bèn là pháp sanh diệt, sao có thể gọi đó là Diệu Chân Như Tánh?

Có vị tăng hỏi Ngài Huyền Sa:

– Nhờ Hòa Thượng dạy “Cái Tánh Nghe cùng khắp pháp giới”. Ngài Tuyết Phong đánh trống ở trong ấy vì sao chẳng nghe?

Tổ Sa nói:

– Ai biết chẳng nghe?

Lại có vị tăng hỏi Tổ Tào Sơn:

– Gần bạn đạo nào để được hằng nghe chỗ chưa nghe?

Tổ Sơn nói:

– Cùng chung nhau một cái trùm che khắp hết.

Hỏi:

– Cái này cũng như là Hòa Thượng được nghe. Như sao là hằng nghe ở chỗ chưa nghe?

Tổ Sơn nói:

– Chẳng đồng với gỗ đá.

Hỏi:

– Cái nào là trước, cái nào là sau?

Tổ Sơn nói:

– Chẳng thấy nói “Hằng nghe ở chỗ chưa nghe” sao?

Thế mới biết, hằng nghe ở chỗ chưa nghe thì cái Nghe này cùng khắp vậy.

Kinh:

– A Nan, ví như có người bịt gấp hai lỗ mũi. Bịt lâu thành ra mỏi mệt, thì ở trong mũi nghe có cảm giác lạnh. Nhân những cảm xúc như vậy mà phân biệt được là thông, là bít, là rỗng, là đặc cho đến các mùi thơm, thối. Cả hai cái: Ngửi và cái mỏi mệt, đều là cái tướng bịt lâu phát mỏi của Bồ Đề.

Nhân nơi hai thứ vọng trần thông và bít phát ra cái Ngửi ở trong, thu nạp các trần tượng mà gọi là cái Ngửi. Cái Ngửi đó rời ngoài hai trần thông và bít rốt ráo không có tự thể. Thế nên, phải biết cái Ngửi ấy chẳng phải từ thông, bít mà đến, chẳng phải nơi căn mà ra, chẳng từ hư không mà phát sanh. Tại sao thế? Nếu từ cái thông mà đến thì khi bít, cái Ngửi đã mất rồi làm sao mà biết được cái bít? Nếu nhân cái bít mà có thì khi thông, không còn cái Ngửi làm sao biết được các mùi thơm, thối? Nếu từ lỗ mũi sanh ra hẳn không có cái thông, cái bít thì cái Ngửi như vậy vốn không tự tánh. Nếu do hư không mà ra thì cái Ngửi đó phải xoay lại ngửi được lỗ mũi của ông! Lại nữa, hư không mà tự ngửi được nào có liên quan gì đến chỗ thâu nhập của ông?

Vậy, nên biết rằng Tỷ Nhập là hư vọng, vốn chẳng phải là tánh Nhân Duyên, chẳng phải là tánh Tự Nhiên.

Thông rằng: Bịt mũi là bịt ngừng hơi thở, khí không ra vào. Cái lạnh nhân nín thở mà có, không nín thì không có. Nhân nín thở mà biết có thông, bít, rỗng, đặc. Nhân thông, bít mà phân biệt các mùi thơm, thối. Cái Ngửi đó, rõ ràng nhân hư vọng mà có vậy. Như chẳng có cái thông, bít, cái Ngửi thấy đó hiện đang ở chỗ nào? Ở tai thì gọi là cái Nghe thấy, ở mũi thì gọi là cái Ngửi thấy. Công năng lớn nhỏ có thể thấy được. Cái Nghe thì đâu cũng khắp, cái Ngửi thì phát ra do tiếp xúc với tiền trần. Tuy nhiên, căn mũi là hư vọng, vốn không có chỗ chỉ ra được, huống là cái việc hướng thượng nằm ngay trên mũi mình, lại càng khó sờ nắm!

Có vị tăng hỏi thiền sư Hải Yến ở chùa Chửng Mê rằng:

– Như thế nào là chùa xưa một lư hương?

Tổ nói:

– Qua nhiều đời không có người ngửi.

Hỏi:

– Người ngửi như thế nào?

Tổ nói:

– Sáu Căn đều chẳng đến.

Ngài Ba Lăng Giám ban đầu ra mắt Tổ Vân Môn.

Tổ Vân Môn nói:

– Hòa Thượng Tuyết Phong nói “Mở cửa ra thì Đạt Ma đến”, tôi hỏi ông làm sao đây?

Ngài Giám nói:

Ở trên lỗ mũi Hòa Thượng!

Tổ Môn nói:

– Địa Thần nổi dữ, cầm núi Tu Di đập một cái, nhảy tót lên trời Phạm Thiên, bứt phá lỗ mũi của Đế Thích. Ông vì sao mà hướng về trong nước Nhật Bản ẩn mình?

Ngài Giám nói:

– Hòa Thượng không lừa dối người thì tốt.

Tổ Môn nói:

– Ở trên lỗ mũi của lão tăng, lại làm sao?

Ngài Giám không có lời đáp. Tổ Môn nói:

– Hãy biết ông chỉ là phường “Học nói”.

Nếu tham suốt được lời nói của Tổ Vân Môn thì thật như nửa đêm rờ trúng lỗ mũi, xưa nay chỉ ở trên mặt!

* * * * *


Sách (pdf file): KINH THỦ LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG

1. GIỚI THIỆU KINH LĂNG NGHIÊM TÔNG THÔNG
2. DUYÊN KHỞI CỦA KINH
3. GẠN HỎI CÁI TÂM
4. CHẤP TÂM Ở TRONG THÂN
5. CHẤP TÂM Ở NGOÀI THÂN
6. CHẤP TÂM NÚP SAU CON MẮT
7. CHẤP TÂM HỢP VỚI CHỖ NÀO THÌ LIỀN CÓ Ở CHỖ ẤY
8. CHẤP TÂM KHÔNG DÍNH DÁNG VÀO ĐÂU TẤT CẢ
9. CẦU ĐI ĐẾN CHỖ CHÂN THẬT
10. NƯƠNG CÁI THẤY, GẠN HỎI CÁI TÂM
11. CHỈ RÕ TÍNH THẤY KHÔNG PHẢI LÀ CON MẮT
12. Ý NGHĨA CHỦ VÀ KHÁCH
13. CHỈ TÁNH THẤY KHÔNG SANH KHÔNG DIỆT
14. CHỈ CHỖ ĐIÊN ĐẢO
15. LỰA BỎ TÂM PHAN DUYÊN ĐỂ CHỈ TÁNH THẤY KHÔNG THỂ TRẢ VỀ ĐÂU
16. LỰA RIÊNG TRẦN CẢNH ĐỂ NÊU RA TÁNH THẤY
17. NGHI TÁNH THẤY HIỆN Ở TRƯỚC MẮT
18. XIN CHỈ DẠY TÁNH THẤY CHẲNG DO THẤY
19. CHỈ RÕ Ý NGHĨA TÁNH THẤY KHÔNG PHẢI LÀ CÁI THẤY, VIÊN MÃN BỒ ĐỀ
20. TÓM THU VỀ NHƯ LAI TẠNG




Leave a Reply