ĐẠO ĐÀM TRONG LÚC NHÀN RỖI

Apr 20, 14 | Tâm Duyên | 2,458 views | 1 Comment



Share |




ĐẠO ĐÀM TRONG LÚC NHÀN RỖI

CHỦ ĐỀ: ANH VÀ TÔI




Thượng Đế là một khối Đại Linh Quang, từ khối Đại Linh Quang nầy, Ngài chiếc ra Tiểu Linh Quang để làm thành Linh hồn cho mỗi con người. Linh hồn hay còn gọi là Chơn Linh, là thân xác thứ III của mỗi người. Vậy con người là con của Thượng Đế.

Do đó, con người và Thượng Đế có mối liên hệ với nhau bằng tình Cha Con và giữa người với người là con cùng Cha, là anh em ruột thịt. Ngoài ra, chúng ta còn được biết Thượng Đế cũng là Cha của muôn loài…

Thấu đáo được sự liên hệ mật thiết nầy, lòng người ắt sẽ mở rộng, thương sanh chúng như thương chính bản thân mình, tâm trí không còn hẹp hòi: Mở rộng và thấy Bác ái của Phật có khác gì Bác ái của Chúa, không chấp Ngã của Phật có khác chi với Xả Kỷ của Chúa … Tất cả: Chung một đường lên, chung một hoài bảo… Xa hơn nữa, các tôn giáo sẽ nhận rõ những mối tương đồng trên con đường hành thiện… Ranh giới dần dần không còn nữa, những hố hầm ngăn cách cũng sẽ cạn dần. Toàn cầu hóa trên mọi lãnh vực là hướng bước tới tự nhiên của Cộng Đồng Nhơn Loại.

Vả lại, Đức Ngọc Hoàng Thuợng Đế giáng cơ, giáo đạo Nam Phương ngày 22 tháng 7 năm 1926 đã khẳng định rằng: “….Bởi vậy, một Chơn Thần THẦY mà hóa sanh thêm chư Phật, chư Tiên, chư Thánh, chư Thần và toàn cả nhơn loại trong Càn Khôn Thế giới, nên chi các con là Thầy, Thầy là các con.

Vậy thì, trong phạm vi nhỏ hẹp: Anh là tôi; tôi là anh… tôi anh không có ngăn cách… từ đó sự hòa hiệp đến với chúng ta, ngự trị trong lòng chúng ta. Chúng ta biết sống trong mối Thương yêu và Công Chánh nghĩa là biết TU. Cũng từ đó sự tranh chấp không còn lý do nào để tồn tại giữa tôi và anh.

Nhưng nói về riêng tôi, quả thật rất nhiều người cũng giống như tôi: Lắm lúc hoang mang đến nổi chính tôi cũng không biết tôi là ai!… Như câu chuyện sau đây do nhà văn nước Ý Ông Mingiano viết:

“Một thi sĩ Trung Hoa cứ đến một Tu Viện gom đồ ăn thừa để sống. Các Thầy Tu nhạo báng ông như thể là người điên đáng thương hại, vô tội và không nguy hiểm. Ngày kia trong nhà hẽo lánh của ông, ông than thở: “Ta nghĩ đến mấy năm rồi, ta khoan thai đến Tu Viện bị mọi người cho rằng ta là một kẻ điên! Hiện thời ta suy nghĩ: TA ĐIÊN CHĂNG? Ta không giải quyết được vấn đề, bởi vì chính ta không biết ta kia mà! Như vậy làm sao người khác biết ta hơn ta?

Vậy thì, bằng lý trí, bằng phán đoán, bằng nhìn bề ngoài… Anh không thể hiểu được tôi và ngược lại.

Một câu chuyện khác, tôi đã đọc được trong quyển Lịch Sử và Triết Lý đạo Cao Đài ở trang 254, tác giả là Gabriel Gobron:

“Người gõ cửa mong tìm sự khôn ngoan, một giọng hỏi: Ai đó?
Ngươi trả lời: TÔI. Cánh cửa không mở.
Người gõ cửa mong tìm sự khôn ngoan, một giọng hỏi: Ai đó?
Ngươi trả lời y như người trước: TÔI. Đừng ngạc nhiên, cánh cửa vẫn đóng.
Người gõ cửa mong tìm sự khôn ngoan, một giọng hỏi: Ai đó?
Ngươi do dự rồi trả lời: MI (chính anh)
Cánh cửa mở rộng và ngươi bước vào CÕI KHÔN NGOAN.”

Qua chuyện kể trên, tôi sực nhớ đến tục ngữ Pháp có câu: “Cái Tôi đáng ghét” rồi suy nghĩ miên mang… nào là: nói về mình, người nghe sẽ chán và nhiều lần chán sẽ đưa đến ghét! Thôi thì đoạn tuyệt nói về cái Ta để tìm lấy sự an vui cho cuộc sống…. Nhưng anh không nói cái ta của anh thì làm sao biết gì về anh cũng như về người khác để nói! Chẳng lẽ im lặng!

Im lặng là vàng, hồi còn bé tôi hằng đọc câu nầy trên tường của mỗi lớp học. Khi tuổi về già, tôi năng tới lui Thánh Thất bái lễ… bạn đồng đạo cũng thường nói đến sự im lặng: Khi bạn im lặng, cánh cửa Thiên Đàng mở rộng, khi bạn nói cánh cửa Thiên Đàng khép kín. Vậy im lặng cũng tốt…

Tóm lại, chính anh là người mở ngõ cho tôi bước vào cõi khôn ngoan. Vậy nếu không gọi anh là Thầy thì cũng không thể phủ nhận anh là người đưa đường chỉ lối… Anh là người ơn của tôi.

Nhưng nghĩ lại, coi anh là Thầy, có lẽ đúng hơn… vì Đức Khổng Tử đã từng dạy: “Tam nhơn đồng hành tất hữu ngã sư.” Nghĩa là: Ba người cùng đi, trong đó dĩ nhiên có người là Thầy của ta. Vậy thì tâm quyết rằng: Trong cuộc sống, hãy nhìn thẳng vào người đang đối diện với mình để học hỏi.

Qua kinh nghiệm, mỗi lần tới Thánh Thất, tôi luôn luôn thấy những bài học thực tế đang phô diễn trước mắt mình:

Dừng chân ở nhà bếp, quí Hiền Tỷ đang nấu nướng… tôi thấy người nầy quên việc nhà để lo việc Đạo, chị kia không nệ công khó, miễn sao để mọi người ăn ngon là vui rồi… chưa hết, có người trì chí dốc hết lòng lo làm công quả, không cần thiết phải nghỉ ngơi…

Ngang qua các lớp học Việt Ngữ, quí Thầy Cô đang tận tụy săn sóc mầm non của Đạo, hi sinh thì giờ quí báu cuối tuần… với tinh thần trong sáng không thua gì các bóng đèn néon đang chiếu rọi trên trần nhà!

Lên lầu, nhìn Hiền Huynh Quyền Đầu Tộc với nụ cười hết sức Đạo Đức, nhìn anh Thủ Quĩ, tôi thấy sự phân minh sáng ngời, nhìn anh Lễ vụ, sự cung kính lộ hẳn lên, nhìn chị Ba trên tay với đôi mươi đô thành tâm dâng hiến công quả… nhìn đồng đạo ở cách xa hơn một giờ lái xe… cũng kiên trì có mặt thường xuyên… nhìn hiền muội dẫn hai đứa con bước vào… cái vẻ đảm đan lộ nét tuyệt vời…

Tóm lại, tất cả những người mà tôi đã từng gặp, chưa có người nào mà tôi không học được nơi họ điều đáng học.

Xin đa tạ.
Hiền Tài Phạm văn Khảm


* * * * *



CHỦ ĐỀ: CÁI GÌ LÀM CHO PHỤ NỮ ĐẸP?



Phụ nữ là một tác phẩm tuyệt vời mà Thượng Đế đã dựng nên. Do đó họ được người đời phong cho danh hiệu là ‘phái đep’. Thế nhưng thói thường lại lắm lời khen chê, khen cô nầy, chê cô kia… nào là dễ thương, nào là vô duyên… Nào Bà nầy phúc hậu, Bà nọ có nét phù thủy…

Tại sao như vậy? Cái gì làm giảm sút danh hiệu của họ?

Cụ Nguyển Du tiết lộ rằng:

Tinh anh phát tiết ra ngoài,
Những người mặt ngọc là người vẻ vang
.

(Truyện Kiều)

Vậy thì, cái đẹp, cái tinh anh vốn từ trong tâm phát ra ngoài. Trong tâm không có gì đẹp thì làm sao lộ ra ngoài để tô điểm thêm vẻ sáng của gương mặt? Phải chăng ở nội tâm của người phụ nữ là một kho tàng chất chứ những gì quí báu? Chúng ta lần lượt mở cánh cửa kho tàng nầy để xem thực hư như thế nào.

Nhớ lại hồi thuở còn là một học sinh lớp Đệ Nhị, trong giờ Giảng văn, Giáo sư Hi Di Bùi Xuân Uyên say sưa ca ngợi sắc đẹp của nàng Thúy Kiều nào là “Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da” nào là “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”…

Có một học sinh đưa thẳng tay lên cao xin Thầy cho hỏi. Thầy giáo tươi cười sẵn sàng mời em…

- Thưa Thầy, cụ Nguyễn Du thì… như thế, còn theo quan điểm của Thầy, người đàn bà đẹp là người đàn bà như thế nào?

Cả lớp lặng thinh chờ đợi câu trả lời của Thầy…

Một phút trôi qua, Thầy Uyên phán rằng: Người đàn bà đẹp là người đàn bà hết sức đàn bà!

Cả lớp cười rộ lên vì câu trả lời lơ lơ lửng lửng như cánh chim bay cao giữa bầu trời rộng mênh mông, không biết đâu là bến bờ!

Sau đó Thầy nói tiếp là không cần phải giải thích thêm vì ý nghĩa xác thực của nó theo thời gian sẽ làm sáng tỏ hơn, nghĩa là các em càng lớn sẽ càng thấy rõ nơi xuất xứ của cái đẹp đích thực của người phụ nữ.

Đó là chuyện ở học đường, còn trong lịch sử, Napoleon Bonaparte (1769- 1821) Hoàng Đế nước Pháp quả quyết rằng: “Người đàn bà đẹp làm thỏa mãn đôi mắt, người đàn bà đức hạnh làm thỏa mãn trái tim

Còn trong dân gian thì:

Cái nết đánh chết cái đẹp” hoặc: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn

Phải chăng bản chất tự nhiên là gốc rễ phát sinh cái đẹp của người phụ nữ. Đó là kho tàng tiềm ẩn, là đặc ân trời ban.

Cụ thể hơn, khi ca ngợi một Bà Mẹ, ai ai cũng nghĩ đến tấm lòng, nghĩ đến Đức Hạnh của người mẹ:

Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
.

Hoặc:

Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình

Mẹ là hình ảnh của người phụ nữ với tấm lòng trong sáng, thánh thiện, lượng cả, bao dung… và nhiều hơn thế nữa nên các Văn, Thi, Nhạc, Ca sĩ từ thế hệ nầy sang thế hệ khác mãi mãi suy tôn.

Nói tóm lại, vẻ đẹp của người phụ nữ có nhiều nét khác nhau nhưng tất cả đều phát khởi từ nội tâm. Đó là Đức Hạnh.

Đức Hạnh được nuôi dưỡng và trưởng thành bằng phương thức nào?

Đức Khổng Tử chỉ rõ rằng: Tứ Đức và Tam Tùng. Người phụ nữ giữ trọn những điều nầy thì đủ làm nên người con thảo, vợ hiền, mẹ lành.

Ngày nay, nhìn chung về Tứ Đức tức là Công, Ngôn, Dung, Hạnh của giới phụ nữ, chúng ta thấy nơi họ có sự phát triển nhịp nhàng theo đà văn minh của thời đại. Tuy nhiên về phần DUNG thì phát triển trội hẳn hơn hết.

Thật vậy, vì không phải là nhà nghiên cứu chuyên nghiệp nên không thể nêu rõ những con số chính xác như các nhà thống kê về các phí khoản làm đẹp của phụ nữ nhưng có thể nói mà không sợ sai lầm là giới phụ nữ đã chi ra số tiền để làm đẹp không thể nói là ít được. Nào các công ty sản xuất mỹ phẩm, các tiệm buôn mỹ phẩm, nữ trang, vàng, hột xoàn, các Bác sĩ giải phẩu thẩm mỹ, các tiêm nail, quần áo… chí những thức ăn, thức uống, rồi đến phương thức ăn uống sao cho thân thể thêm đẹp… Đó là những nơi gom góp phần lớn số tiền của phụ nữ, còn thì giờ, người phụ nữ cũng đã bỏ ra để làm đẹp không phải là nhỏ.

Hồi còn trẻ tôi có dịp đọc được một bản thăm dò ý kiến thuộc ngành Tâm Lý học như sau:

Nhà Tâm Lý Học tìm đến một cách ngẫu nhiên để hỏi 100 người đàn ông có vợ rằng:

- Theo Ông, Ông mong muốn hằng ngày vợ Ông phải như thế nào?

- Bà ấy đừng để tôi phải chờ trang điểm quá lâu trước khi ra khỏi nhà!

Gần 80% những người đàn ông trả lời tương tự như thế.

Vậy thì chúng ta có thể tạm kết luận là người phụ nữ đã phải bỏ ra khá nhiều tiền và nhiều thì giờ để lo cho thân xác đẹp thêm. Nhưng lại bỏ ra quá ít thì giờ trau giồi Đức Hạnh.

Chính sự không cân bằng nầy, Bà ĐoànThị Điểm tác giả quyển CHINH PHỤ NGÂM, là một nữ sĩ tên tuổi trong nền Văn Học Việt Nam và sau khi từ giả cõi trần (1748) Bà đắc vị là một nữ Tiên trên Thượng giới.

Đến thời Tam Kỳ Phổ Độ Bà không đầu kiếp xuống trần mà chỉ dùng huyền diệu Cơ bút qua hai Đồng Tử của đạo Cao Đài giáng cơ viết cuốn NỮ TRUNG TÙNG PHẬN với mục đích giáo dục nữ phái để sẵn sàng hòa nhập với chủ trương NHO TÔNG CHUYỂN THẾ (1) của Đạo Cao Đài.

Ngay hai câu đầu của quyển sách nầy, tác giả nói thẳng đến cứu cánh là:

Dụng văn hóa trau tria nữ phách,
Lấy kinh luân thúc thách quần hồng.

Hoặc báo động cho giới phụ nữ biết rằng:

Rừng Nho, biển Thánh thinh thinh,
Nữ lưu nào thấu muôn nghìn thi thơ.

Và trên thực tế, công tâm mà nói người phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi hơn nam giới bởi:

Bởi rẻ rúng thuyền quyên thiếu học,
Dầu chí thân, tơ tóc cũng khi.

Người phụ nữ cần phải học, học để tạo điều kiện cần và đủ cho sự bình đẳng với nam giới một cách tự nhiên.

Đặc biệt về Tứ Đức của nữ giới là Công, Ngôn, Dung, Hạnh mà Dung chắc chắn là điều mà người phụ nữ quan tâm đến nhiều nhất. Dung là dung nhan, dung nhan thế nào cho mỹ miều, cho duyên dáng, cho đẹp đẽ… Vậy làm thế nào cho dung nhan thêm khởi sắc? Ngoài các mỹ phẩm, còn cái gì tô thắm thêm?

Bà Đoàn thị Điểm khuyến cáo rằng:

Nấu kinh sử ra mùi son phấn,
Cầm bút nghiên tô thắm má đào.

Chính kinh sử làm nên kiến thức đã tạo cho người phụ nữ thêm xinh xắn, dễ thương, có má đào tươi thắm… Đó là thứ mỹ phẩm vô giá mà lắm người đã bỏ quên.

Hiền Tài Phạm văn Khảm



Chú thích:

1. NHO TÔNG CHUYỂN THẾ:

Nho tông là Nho giáo, đạo Nho. (Tông là tôn giáo).

Chuyển thế là làm cho cuộc đời thay đổi từ xấu ra tốt, từ loạn ra trị, từ hung dữ ra hiền lành đạo đức.

Nho Tông Chuyển Thế là một chủ trương lớn của Đạo Cao Đài, đối với cuộc thế, đối với nhơn quần xã hội.

Chủ trương nầy là dùng tinh hoa của học thuyết Nho giáo để cải tạo cuộc thế trong buổi Hạ nguơn mạt kiếp, phong hóa suy đồi, nền nếp gia đình đổ vỡ, xã hội vì danh lợi mà tranh giành sát phạt nhau dữ dội, làm cho mạnh được yếu thua, khôn còn dại mất.

Với chủ trương Nho Tông Chuyển Thế, Đức Chí Tôn lập Đạo Cao Đài thành một cơ quan chuyển thế.

Đức Hộ Pháp trong bài thuyết đạo tại Đền Thánh đêm 1-9-Đinh Hợi (1947) giải thích Nho tông chuyển thế như sau:

“Bần đạo nhớ buổi Chí Tôn mới đến tỏ danh hiệu Người, Người hứa với các môn đệ của Người buổi đầu tiên về Cơ quan chuyển thế, làm phân vân biết bao nhiêu nhà trí thức tìm hiểu hai chữ Chuyển thế nghĩa là gì?

Theo triết lý học, định nghĩa hai chữ Chuyển thế là: xoay đổi thời đại hiển nhiên ra thời đại khác, hoặc không phù hạp, hoặc quá khuôn khổ nề nếp nên quyết đoán thay đổi lập trường thiêng liêng vì thời đại nầy đã định.

Chuyển nghĩa là sửa đổi cũ ra mới. Lấy nghĩa lý đã định hẳn ra, tức nhiên chúng ta nhận thấy các khuôn luật đạo đức từ trước đến giờ để lại đều bị biếm cả, bởi vì đời quá hung tàn bạo ngược, vô nhơn luân, tinh thần đạo đức không qui định, tâm lý loài người không tương quan cùng nhau, mất cả luật đồng sanh làm căn bản cho loài người, luật đồng sanh gần như bị hủy bỏ, bởi thấy tấn tuồng trước mắt, nào giặc giã chiến tranh giành sống mà giết hại lẫn nhau, oán kết thâm thù, loài người do nơi ấy mà biến sanh tàn ác, cái phương sanh sống đến một giai đoạn rất khó khăn và chúng ta thử xét đoán trong các kinh điển Đạo giáo đã để lại là “mưa dầu nắng lửa”. Trận mưa dầu nắng lửa sẽ có hiện tượng y như trong kinh đã nói. Cũng vì sự sanh hoạt khó khăn mà loài người giết hại lẫn nhau…

Đời sống đến giai đoạn khó khăn hơn nữa, những phẩm vật nuôi sống loài người càng giảm bớt thì nhơn loại còn quyết liệt chiến đấu hơn nữa.”

“Nền Đạo Cao Đài là Nho Tông Chuyển Thế thì tức nhiên của toàn xã hội nhơn quần tại mặt địa cầu nầy, nhờ đạo Nho sửa đương chỉnh đốn thiên hạ lại. Chúng ta thấy xã hội tinh túy đạo đức của họ dường như đảo ngược lại, khủng hoảng tinh thần mà ra vậy.”

Đạo Cao Đài chủ trương Nho Tông Chuyển thế, không có nghĩa là đem toàn cả học thuyết của Nho giáo ra áp dụng một cách máy móc khắt khe, vì xã hội hiện tại là dân chủ, nam nữ bình quyền, trình độ tiến hóa về khoa học kỹ thuật cũng như tinh thần rất cao so với thời kỳ của Đức Khổng Tử cách đây hơn 2500 năm.

Hơn nữa, tại sao không dùng Phật giáo hay Lão giáo, hoặc Thiên Chúa giáo để làm căn bản chuyển thế mà phải dùng Nho giáo? Bởi vì không có học thuyết nào dạy Nhơn đạo kỹ bằng Nho giáo. Muốn cải tạo xã hội thì phải dạy Nhơn đạo, vì Nhơn đạo là căn bản, chớ không thể dạy Thánh đạo, Tiên đạo hay Phật đạo. Nhưng chỉ lấy những điểm tinh hoa của Nho giáo làm căn bản giáo dục mà thôi, bởi vì toàn cả giáo lý Nho giáo có nhiều điểm không còn thích hợp với xã hội ngày nay.

Những tinh hoa của giáo lý Nho giáo được áp dụng ngày nay, có thể kể ra sau đây:

* Phần chung : – Thiên Địa vạn vật đồng nhứt thể.
– Nhơn Nghĩa, Trung Dung.
* Phần riêng : – Nam thì Tam cang, Ngũ thường.
– Nữ thì Tam Tùng, Tứ đức.
* Phương pháp thực hành chủ trương Nho Tông Chuyển Thế, trước hết thi hành ba điểm :
– Tôn trọng Nhơn luân.
– Sùng kính Nhơn Nghĩa.
– Phục hưng Lễ Nhạc

Comments (1)

 

  1. Đặng Trường Sanh says:

    ANH VÀ TÔI
    Anh và Tôi con chung Thượng Đế.
    Sống làm sao chớ để bất hòa.
    Muốn hòa thì phải quên Ta.
    Hy sinh nhường nhịn để mà thương yêu.
    Chớ ghét người làm điều khờ dại.
    Hãy thương người mới phải em anh.
    Anh em phải biết dỗ dành.
    Ngọt bùi chia sớt mới thành anh em.

Leave a Reply