KHUYẾN NỮ HỒI TÂM KINH – Thượng Thừa

Sep 24, 12 | Tâm Duyên | 3,815 views | 1 Comment



Share |




Hoa-Linh-Điện, đêm 25-5-Kỷ-Hợi (30-6-1959)


THI:

truyền Đạo-Mạch, Thống Tam-Giang,
-hữu Cao-Chơn, Nhứt Tiên-Đàn,
TIÊN ấn Đài-Trung, Qui Tứ-Tượng,
TRƯỞNG thành Chiếu-Diệu, Nguyên-Căn Thoàn.

Hư-Vô Tiên-Trưởng

* * * * *

Cao-Đài Đạo, vi Tiên tại thế,
Đại-Tịnh rồi, mới chế Phách-Tam,
Phàm-Tâm Tử, Dương diệt Âm,
Dương-Thần xuất hiện, ngàn năm sống hoài .
Có phải đâu: anh tài làm Phật,
Đừng tưởng lầm, mang tật ngụy truyền,
Có Tu mới đặng thành Tiên,
Rõ thông “Vô-Cực“, đồ Nguyên Phật Trời.

Đại Đức DIỆU-GIÁC
Biên khảo


Play MP3: KHUYẾN NỮ HỒI TÂM KINH – Thượng Thừa


Thiên Địa có sau cơ Đại-Đạo,
Ngôi Diêu-Trì: Chánh-Giáo ngọn ngành,
Hạo-Nhiên-Khí ấy hóa thành,
1- Âm Dương ngưng tựu, biến sanh ôn hòa.
Khí Ôn-Nhiệt: khai ra nhơn loại,
Trước là ngôi Tứ-Đại Bộ-Châu,
Hỏa, Kim, Mộc, Thủy, cơ cầu,
2- Bốn phương Tứ-Lão nhiệm mầu chuyển xây.
Huỳnh-Lão tức “Thổ”: ngay chính giữa,
Khí xông lên: Trời giữa Đài-Tinh,
Nguyên do Đại-Đạo biến sinh,
3- Kim-Quang Khí-Hạ, bao gìn Thổ trong.
Huỳnh-Lão tượng, bao vòng Không-Khí,
Xây Trung-Ương ngôi vị ấy là,
Huyền-huyền Thánh-Mẫu khí xa,
4- Ngũ-Hành, Ngũ-Lão, hiệp hòa dưỡng nhơn.
Thủy, Hỏa, Thổ: qui hườn Kim, Mộc,
Hiệp Ngũ-Hành, chí vóc biến sinh,
Anh-Nhi, Trạch-Nữ hiện hình,
5- Mộc-Công, Kim-Mẫu, giữ gìn Hài-Nhi.
Anh, Trạch lại một khi Giao Phối,
Sanh sản ra hai đôi Gái, Trai,
Lớn khôn, bốn trẻ hiệp rày,
6- Cảm giao Anh-Trạch, thối rày vị ngôi.
Nếu Vô-Trung thì rồi có Tượng,
Có Hình rồi: hiện Tượng-Hữu-Trung,
Khí Tiên-Thiên, thiệt vô cùng,
7- Sanh sanh, hóa hóa, muôn trùng Càn-Khôn.
Đại-Thiên: Cha khắp Hồn vạn vật,
Người ở trần: rõ thật Tiểu-Thiên,
Trong Thân: ẩn Khí-Hạo-Nhiên,
8- Thì người thấu rõ, Tu Tiên mới thành.
Càn tức Trời, nhập giành Khôn bụng,
Huỳnh-Khí: Khôn, xung đụng thủ Càn,
Âm Dương ngưng kiết lập an,
9- Dương-Thần xuất hiện, rõ ràng Thánh-Thai.
Khí thuần thuộc, nơi ngay Thân Xác,
Dương-Thần lên, nhập đoạt Hạo-Nhiên,
Thể đồng Trời, Phật, Thánh, Tiên,
10- Đời đời kiếp kiếp vào miền Tây-Phương.
Đạo: Động Tịnh, Âm Dương lên xuống,
Đem vào người, bao cuốn Hậu-Thiên,
Dẫn thông: xuất nhập liền liền,
11- Hư-Vô Chi-Khí nơi miền hư không.
Huyền-Khí hư-không thông nội thể,
Huyền-Khí trong thân thể tiếp giao,
Hậu-Thiên Chi-Khí nhập vào,
12- Hạo-Nhiên, Huyền-Khí, khi nào rời xa.
Mất Huyền-Khí ắt là phải thác,
Làm làm sao cướp đoạt Đất Trời,
Đem vào thân xác đều nơi,
13- Ngưng Thần, tựu khí, dưỡng thời Hạo-Nhiên.
Dụng Thần-Công: vận chuyền Hạo-Khí,
Bát-Bửu Kim-Đơn: Quí, Nhâm Thành,
Thánh-Thai hườn tựu dương sanh,
14- Dương-Thần siêu xuất, bia danh bảng vàng.
Khá Tịnh Luyện, mới an Thần, Khí,
Ngoại Thận lai: chỉ thị Kim-Đơn,
Đem vào Huyệt-Khí thiệt hơn,
15- Không nhầm Huyệt-Khí, hiệp hườn lại tan.
Kịp ngày giờ Kim-Đơn đắc Dược,
Vận Châu-Thiên, tầm thước có chừng,
Dược-Miêu: giữ đúng chớ đừng,
16- Non, Già, quá sức, mau ngừng không nên!
Tinh, Khí, Thần: ban đêm lại Cật,
Bạch nhựt thì Ba Chất khác nhau,
Lỗ Tai: Tinh ngự Âm hao,
17- Khí nơi Lỗ-Miệng, Thần vào Nhãn-Quang.
Dụng Chơn-Ý: thâu sang Ba Nhánh,
Tinh, Khí, Thần, Kim-Đảnh tựu vào,
Tam-Huê Tựu-Đảnh hiệp nhau,
18- Triều-Ngươn Ngũ-Khí, phải nào khó sao?
Ban ngày Kim-Khí vào nơi Mắt,
Mộc-Khí toan cất đặt Lỗ-Tai,
Thủy-Khí Lỗ-Miệng trấn rày,
19- Ngoài Da Thổ-Khí, chẳng sai chẳng rời.
Còn Hòa-Khí qui nơi Lỗ-Miệng,
Ban đêm thì thay chuyển việc nhau,
Phổi nơi Kim-Khí tựu vào,
20- Gan do Mộc-Khí, Thủy bao Cật rành.
Tâm: Hỏa-Khí, Thổ giành Bao-Tử,
Ngũ-Khí luân, khó giữ cho tròn,
Mỗi ngày phải kém phải mòn,
21- Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận, còn chuyển xây.
Nếu người được gặp Thầy chỉ biểu,
Dụng Hồi-Quang, Phản-Chiếu, chỉ rành,
Huyền-Quan-Khiếu, tựu Ngũ-Hành,
22- Triều-Ngươn Ngũ-Khí: ắt thành người ôi!
Khi Ngoại-Đơn: thành rồi Thể-Dược,
Trung-Đơn-Điền: phục thực quá quang,
Châu-Thiên dụng một rõ ràng,
23- Quái-Hào Tam-Bá: thông tàng khá ghi.
Linh-Thai kết, phải thì nên dụng,
Hai Châu-Thiên, công dụng biến sanh,
Hỏa-Hầu, Lục-Bá kết thành,
24- Thai hoàn, Thần xuất, bỏ đành Châu-Thiên.
Trái, Mặt, Đường: Tả truyền, Hữu chuyển,
Tam-Thập-Lục Hầu luyện đúng, Sinh,
Hữu truyền, Tả chuyển đinh ninh,
25- Hầu, Hai-Mươi-Bốn, tua gìn lời phân.
Tấn-Dương-Hỏa, năng cần gìn Tý,
Tứ-Điệp tàn: thẳng chỉ Bốn-Giờ,
Sửu, Dần, Thìn, Tị, ban sơ,
26- Mùi, Thân, Tuất, Hợi, thờ ơ chuyển lần.
Ấy phải gắng: giờ phân làm Sáu,
Thể Mu-Ni, phải thạo Hai-Hầu,
Qui-Lư, Thể-Dược, Một Hầu,
27- Vân-Hành, Thể-Thủ, Một Hầu nữa xong.
Tứ-Hầu dụng: Thần-Công biến chuyển,
”Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu” luyện Pháp-Xa,
”Pháp, Tài, Lữ, Địa” tỏ ra,
28- Đơn-Điền Chơn-Huyết, Huỳnh-Hà Kim-Ô.
Giữ Nhủ-Phòng: ly đồ Sanh-Khí,
Trãm Xích-Long, chứng chỉ Pháp-Thông,
Hống-Dương, Diên-Bị, để lòng,
29- Song-Quan: Giáp Tích, Côn-Lôn: Khiếu Huyền.
Chỉ Chơn-Quyết, Thiên truyền huyền diệu,
Luyện Huyền-Cơ: rán hiểu, rán nghe,
Minh minh, yểu yểu, dặt dè,
30- Lặng êm Đại-Định, khắc khe với lòng.
Thập-Ngoạt Hoài-Thai: ròng Thực-Khí,
Trăm Mạch đều Định-Chỉ tựu ngưng,
Tam-Niên Nhủ-Bộ lần lần,
31- Cửu-Niên Diện-Bích, Dương-Thần xuất ra.
Tam-Quan, Cửu-Khiếu là Kinh-Lộ,
Sau Đơn-Điền, thật chỗ Luyện-Đơn,
Huyền-Quan: Trung-Khiếu hiện Chơn,
32- Phật Tiên sanh biến do đường Huyền-Quan.
Khi Nhập-Định, lần sang bớt thở,
Bế Tức là: bằng cớ trong Tư,
Đem Tam-Bửu, nhập vào Lư,
33- Phản-Quang đừng để chảy dư ra ngoài.
Thâu nhập Khí-Huyệt ngay, ngưng rõ,
Lửa quẻ Ly, lần nhỏ quẻ Khôn,
Hỏa-Âm lần xuống Hạ-Đơn,
34- Kim-Hành hỏa bức, Chánh-Chơn phép mầu.
Hư-Cực Tịnh-Đốc, Châu-Thiên vận,
Khí Dương sanh, định phận luyện Đơn,
Giáp vòng: Đầu Linh qui hườn,
35- Hạ-Đơn thâu Khí, Kim-Đơn kết thành!
Thời Mẹo, Dậu: biến sanh Mộc-Dục,
Trước Trúc-Cơ là lúc Huân-Chuân,
Nhị-Trì, Khí minh Tịnh ngưng,
36- Dưỡng Thai, diện bích, ôn thuần Đại-Châu.
Âm-Tinh là: Tinh-Thần Ngũ-Cốc,
Khí Tốn-Phong dùng lọc nấu ra,
Ngưng Thần, Thác-Thược thổi qua,
37- Đem Hơi trở lại, qui Nhà nghe con!
Luyện Cốc-Tinh, phải tròn Hô-Hấp,
Mồ-Thổ nơi Giáp-Tháp đều đều,
Khí hồi Khí-Huyệt riu-riu,
38- Thần-Tri Dược sản, dẫn đều Châu-Thiên.
Huyền-Khí trong liền liền sanh dưỡng,
Ra Ngươn-Tinh: Chơn-Chưởng thuốc hay,
Tịnh là: Huyệt-Khí rõ thay,
39- Ngươn-Tinh Thuốc đóng, chẳng sai ly hào.
Nhứt-Dương sơ Động: vào Khí đóng,
Chơn-Nhơn dụng ý, ngóng Quan-Ngươn,
Hậu-Thiên: Hô-Hấp Tức-Chơn,
40- Khôn-Trung, thật Tốn-Phong Sơn: ắt nguy.
Điều Ngoại-Dược, Tâm tri vận luyện,
Dìu đến Dương-Quan, chuyển lao xao,
Nghịch hành ấy lúc đi vào,
41- Vận hành Tiêu-Dược, rạt rào sanh sanh.
Hào-Quang sẽ phóng Thanh nơi Mắt,
Hai Lỗ-Tai gió hắt ào ào,
Ót thì tiếng động phía sau,
42- Hơi trong Huyệt-Khí khác nào nước sôi.
Nội Đơn-Điền Khí-Hơi liên tiếp,
Chạy vòng quanh, thẳng kịp Vĩ-Lư,
Châu-Thiên vận nội chẳng trừ,
43- Tịnh rồi, Tịnh nữa; Động như, Động hoài.
Thuốc già quá: chẳng hay Khí tán,
Át Kim-Đơn mất dạng, mất Tâm,
Nấu non: Khí ít khá tầm,
44- Chờ ra Đơn đặng: ngàn năm dã-tràng!
Khí nóng phải hoàn toàn âm-ấm,
Kiết Kim-Đơn, mấy dậm đó con,
Đơn-Điền Chơn-Khí vẫn còn,
45- Châu-Thiên luyện vận, cho tròn một ghi.
Hậu-Thiên thổi đều thì Võ-Hỏa,
Phải giữ tròn, vận Hỏa như xưa,
Dưỡng-Ôn: Tịnh-Định sớm trưa,
46- Dương-Quang xuất hiện, phất đưa hai lần.
Vận cho Khí đầy Cân, đủ Lượng,
Sống Mũi đem hình tượng cột cờ,
Kim-Đơn thành tựu kịp giờ,
47- Thuốc-Sanh chớ để bơ-thờ hiểm nguy.
Tấn-Dương-Hỏa chẳng ghi tấc Lửa,
Thối-Âm-Phù chẳng thửa Qui-Căn,
Thuốc không lên đến Tam-Quan,
48- Không thông Quan-Khiếu mọi đàng tất nguy.
Quá-Quan phải hiểu khi tựu hiệp,
Để tan e chẳng kịp trở tay,
Quá-Quan, Thước-Kiều đặt bày,
49- Huỳnh-Đình phục thực phải rày hư không.
Xuất Dương-Thần trong vòng phiền lụy,
Nhập, Xuất Định: lời chỉ Tôn-Sư,
Châu-Thiên vận chuyển Chơn-Như,
50- Tốn-Phong thổi đặng khắp từ Càn-Khôn.
Lấy Thuốc chớ bôn-chôn khó được,
Dụng ý mà giữ Thuốc Đơn-Điền,
Mượn Hơi: hít thở Hậu-Thiên,
51- Để tìm Hô-Hấp, ra liền Chơn-Nhơn.
Thần Thở ra, Khí hườn về Khiếu,
Khí qui căn, nên hiểu Khí-Hơi,
Thở Hơi sâu lắm con ôi!
52- Hậu-Thiên hô hấp, nương nơi Khí Thần.
Chơn-Khí mạnh đi lần về gốc,
Khôn-Hỏa dùng thổi tróc nóng ra,
Tốn-Phong quạt lạnh đó mà,
53- Thần qui Căn-Khí cũng là về Cung.
Con khá giữ thung-dung Tâm Ý,
Diệt thế trần, chớ nghĩ đừng suy,
Mọi điều nhơn dục tránh đi,
54- Lấy rồi Thuốc-Thánh, sau thì mới nên.
Dụng Tốn-Phong, không nên ngưng thở,
Nhập-Định thì chẳng hở ngưng Thần,
Liễu Tâm, liễu Ý lâng-lâng,
55- Định-Tâm, Khôn-Vị: Thuốc cân có chừng.
Tầm Hơi-Thở chớ đừng chia rẽ,
Chậm cũng không, quá lẹ chẳng nên,
Dung hòa vận chuyển chớ quên,
56- Cung Càn nơi ấy, làm nền đó nghe.
Con khá nhớ dặt dè liên tiếp,
Khí Âm Dương giao thiệp với nhau,
Cung Khôn trở lại dồi dào,
57- Huân chuân đôi Khí, dưỡng sao sanh thành?
Huyền diệu thay! Sẵn dành người Đạo,
Dưỡng Thai Tâm chẳng tráo, chẳng lay,
Thánh-Thai chẳng xuất, Thần hay,
58- Điều Thần, xuất Xác, nữ tài trẻ ôi!
Thượng Đơn-Điền để rồi ôn dưỡng,
Giữ Thần không, xuất tướng rất thông,
Minh minh, yểu yểu một giòng,
59- Đợi khi Khí đóng, trước mong Tịnh-Thoàn.
Con chớ lo rộn ràng chuyện thế,
Kềm Tâm con chớ để nhiễm trần,
Thủy Động, Chơn-Thủy sanh lần,
60- Dược-Miêu lấy được, muôn phần chơn thanh.
Nếu trong khi sản sanh Dược-Thủy,
Con còn lo, còn nghĩ thiệt hơn,
Thủy-Nguyên chẳng đặng thanh chơn,
61- Dùng Miêu-Dương ấy: Luyện Đơn khó thành.
Lúc huân chuân, Dương-Sanh ấy Hỏa,
Thể-Dược là: Hầu, lạ chi đâu,
Tam-Quan, Đơn-Dược qua cầu,
62- Dương lừng Âm-Khí, Hỏa-Hầu phát sanh.
Hượt-Tý-Thời, ắt thành Chơn-Khí,
Chơn-Chưởng sanh, Hượt-Tý dương lai,
Ngươn-Tinh Quan-Khiếu rõ thay,
63- Kể rằng Hượt-Tý-Thời rày nhiều công.
Lúc Ngưng-Thần, vào thông Khí-Huyệt,
Thần-Đảnh, mà Khí thiệt là: Lư,
Trông trên Đảnh, thật dễ trừ,
64- Dưới Ngoại-Thận gọi là: Lư, ấy: Lổ.
Muốn luyện Đơn, trước lo cho đủ,
Lập Tam-Điền, làm chủ thân mình,
Hạ-Đơn-Điền, phải rán gìn,
65- Trúc-Cơ Bá-Nhựt, luyện hình hườn Đơn.
Trung-Đơn-Điền khác hơn chỗ trước,
Mười tháng trường vận Dược dưỡng Thai,
Thượng-Đơn-Điền gốc thật hay,
66- Tam Niên Nhủ-Bộ, Thần rày xuất ngôi.
Mạch Nhâm-Đốc: hai nơi Thần Khí,
Thường lại qua, hai Chỉ xương thôi,
Học thì phải nhớ con ôi!
67- Nhớ lo luyện tập, được hồi cựu ngôi.
Từ Con Mắt đến nơi Lỗ-Rún,
Lằn Bạch-Quang thường dụng sáng lòa,
Đại-Châu-Thiên rõ thật là,
68- Trừ Diên, thêm Hống: Âm xa, Dương dồn.
Khí-Dương sơ, lần tồn đầy đủ,
Khí-Âm thì chẳng trụ đặng đâu,
Thuần Dương, Âm tán, nhiệm mầu,
69- Dương-Thần thành tựu, rõ câu Định Thần.
Dương-Quang hiện trước Chơn-Mày đó,
Coi chói như thiệt có Điển-Quang,
Hỏa-Châu, Đại-Dược rõ ràng,
70- Nơi hai Con Mắt Kim-Quang chói ngời.
Hai Lỗ-Tai, con ôi nghe rõ,
Thường có luồng tiếng gió vu-vu,
Ót sau tiếng dội âm u,
71- Hai bên Thanh-Cật, lù bù nóng rang.
Phải lấy Ý, mở đàng dẫn Thuốc,
Thượng-Đơn-Điền dìu tuốt nó lên,
Hà-Xa liền dụng chớ quên,
72- Lục-Căn không lậu, mới nên, mới thành.
Đường Cốc-Đạo khá canh cho bít,
Giữ Mũi đừng thở hít hơi ra,
Trái Tim Đại-Dược ẩn qua,
73- Nếu Tâm không chứa, sẽ hòa Vĩ-Lư.
Nếu Vĩ-Lư tạp trừ chẳng tháo,
Vượt theo đường Cốc-Đạo chảy ra,
Rán kềm Thủ-Tịnh đặng mà,
74- Đợi Chơn-Khí-Động, lại qua mới dùng.
Từ Giáp-Tích, đi cùng Ngọc-Chẩm,
Tới Minh-Đường, xuống chậm Trùng-Lầu,
Quá-Quan nào có bao lâu,
75- Dương-Thần, Thần-Thất, làm cầu bắc ngang.
Lúc Nhập-Định hoàn toàn Ba Tháng,
Nội-Khí thường, đừng rán Khí hay,
Đó là: Hư-Cảnh rõ thay,
76- Âm Dương ngưng hẳn, kết rày Thai Tiên.
Thượng-Đơn-Điền: Môn-Thiên Thần xuất,
Rõ ràng Càn: trừ diệt Tâm phàm,
Cửu-Niên Diện-Bích rán làm,
77- Thiên-Tiên chứng quả, để đam Đạo thành.
Luyện Thuần-Dương tập tành sao được,
Khí Hư-Vô, trở ngược Côn-Lư,
Dương-Thần, đại định tịch trừ,
78- Nê-Hườn, Thần ngự, chẳng dư phía ngoài.
Tam-Quan ải, hiệp rày Cửu-Khiếu,
Tả, Hữu-Quang, trắng phếu hai đường,
Lọ-Vàng, Chơn-Chưởng Tữ thường,
79- Gọi Huyền-Quan-Khiếu, rõ đường huyền vi.
Trước Tịnh Luyện dụng thì Tân Dịch,
Cửa Huyền-Ưng khiêu khích phía trên,
Luyện hình Ngọc-Dịch chớ quên,
80- Ngưng Thần, tựu Khí, Quan-Ngươn, Khí-Huyền.
Sơ-Động, Nhứt-Dương truyền trở lại,
Hiện Ngươn-Quan, đem phải Dương-Quan,
Qui Căn Đơn-Dược rõ ràng,
81- Ngươn-Môn-Khiếu, Tấn-Dương, sang Nê-Hườn.
Huỳnh-Đình-Khiếu, nuôi Chơn-Đại-Dược,
Ngươn-Khiếu nơi Tiểu-Dược sanh ra,
Tam-Xoa-Lộ, khẩu phát ra,
82- Các con ghi nhớ để mà Tu thân.
Mẹ thương con ân cần dạy biểu,
Con khá vâng, khá hiểu nghe con,
Công-Phu con luyện được tròn,
83- Tập tành Tâm Tánh, sắc son ghi lòng.
Tập Thượng-Thừa, ít dòng nhiều chữ,
Không phải ai muốn giữ được đâu,
Nhiệm mầu Lý Đạo cao sâu,
84- Phát lời Đại-Nguyện mới cầu Thiên-Ngôn.
Mẹ giải nghĩa, con khôn ghi nhớ,
Con nghe rồi, con chớ bỏ qua,
Định Tâm luyện Đạo kỳ Ba,
85- Con ngoan hành sự, thì Già chỉ cho.
Con chớ có gẫm lo cuộc thế,
Cõi dinh-hoàn nào dễ luyện thân,
Nhưng con quyết chí lần lần,
86- Thì con sẽ được đến gần Phật Tiên.
Con siêng học Tiên-Thiên Đại-Đạo,
Tịnh-Tâm rồi, thỉnh giáo lời Ta,
Thượng-Thừa chẳng đặng truyền ra,
87- Chờ cho lịnh dạy, chớ xa lời Thầy.

(Hết phần thứ ba)


KHUYẾN NỮ HỒI TÂM KINH 1
KHUYẾN NỮ HỒI TÂM KINH 2 – Trung Thừa
KHUYẾN NỮ HỒI TÂM KINH 3 – Thượng Thừa
NỮ TRUNG TÙNG PHẬN – ĐOÀN THỊ ĐIỂM



Comments (1)

 

  1. Thái Dương thanh says:

    Không có việc gì khó.Chỉ sợ lòng không bền.Muốn về nơi Tiên cảnh,mùi trần tục phải quên.Lời Thầy Mẹ luôn nhớ,phải quên mình mới nên.
    THI
    Mầu nhiệm ẩn vi hiểu đục trong.
    Tầm cơ Tạo Hóa quyết dày công.
    Hạnh Tiên trao sửa cho thuần mỹ.
    Nết Thánh tập rèn rửa bợn lòng.
    Chín cõi tầng Trời tuy rộng thẵm.
    Mười phương Phật pháp dẫu mênh mông.
    Đường Tiên nẽo Phật không chi khó.
    Chỉ khó là người chẵng hiểu thông.

Leave a Reply