NGƯỜI PHỤ NỮ CAO ĐÀI

Sep 19, 12 | | 2,356 views | 1 Comment



Share |




Nói đến phụ nữ là một vấn đề quan trọng, vì phụ nữ chiếm hơn nửa nhân số và giữ một vị trí trọng yếu trong gia đình và ngoài xã hội. Có nhiều vấn đề được đặt ra: Phụ nữ với hôn nhân, phụ nữ với gia đình, phụ nữ với xã hội, phụ nữ với chức nghiệp, phụ nữ với khoa học, giáo dục, tôn giáo… Chung qui đều tập chú vào nhiệm vụ, bổn phận của người phụ nữ. Trong lãnh vực tôn giáo, ngoài những nhiệm vụ, bổn phận thông thường, người phụ nữ Cao Đài còn có những nghĩa vụ thiêng liêng và phải có ý thức sâu sắc với thiên chức làm con, làm vợ, làm mẹ… của người phụ nữ.

Để chị em dễ phần lãnh hội, chúng tôi xin phân ra những tiết mục sẽ đề cập đến như sau:


1. NGƯỜI PHỤ NỮ CAO ĐÀI VỚI TÔN GIÁO

Để chị em nhận định rõ ràng sứ mạng trọng đại mà người phụ nữ Cao Đài phải chung lòng hợp sức để xây dựng Đạo đời, chúng tôi xin trích dẫn đoạn Thánh huấn của Đức Vô Cực Từ Tôn giáng dạy tại Trung Hưng Bửu Tòa, ngày 15/8/ĐĐ 39 (1964) như sau:

Hỡi các con nữ phái! Giờ nầy Mẹ đến trần gian với các con trong cảnh mưa thu ảm đạm, gió thu thê lương. Mẹ cảm thấu hằng triệu trái tim của các con khắp các Thánh thất, Thánh đường đang rộn rịp dâng lên đón chờ tin Mẹ. Mẹ chứng kiến lòng con những nỗi hãi hùng kinh sợ, những buồn tủi lo âu bởi đời chiến tranh, đạo tương tranh, thảm cảnh cốt nhục tương tàn, đồng bào tương khuynh mà các con là nạn nhân của bối cảnh. Ôi! Lịch sử nhân loại không bao giờ viết xuôi thuận một dòng như lòng con tưởng, thẳng tắp một đường như ý con mơ, mà chính cái lẽ tán, tụ, cùng, thông, thăng trầm, bĩ thái là lẽ dĩ nhiên! Bởi nghiệp quả số kiếp duyên phận của con người!

Hỡi các con nữ phái! Ngày nay các con phải tự thấy sứ mạng càng quan trọng hơn, phải lấy tình thương yêu, đức nhu thuận để san bằng mọi mâu thuẫn, hòa đồng mọi dị biệt, hàn gắn mọi đổ vỡ. Các con là sinh lực của bác ái của hoà bình, của gia đình cũng như xã hội. Các con phải hăng hái tiến lên, đừng rụt rè e ngại. Các con dù ở đâu: Ở nhà, ở xã đạo, ở Thánh thất, ở Hội Thánh, các con là tín đồ, là chức sắc, là chức việc, là nữ tu sĩ, giáo sĩ cũng đều có thể làm tròn bổn phận người phụ nữ trong sứ mạng Trung Hưng.

Hỡi Nữ phái! Con ơi ghi nhớ!
Nhớ Mẹ hằng nâng đỡ cho con.
…Dẫu bao nhiêu cảnh thăng trầm,
Mối giềng đạo đức vững cầm đừng sai
”.

Trên đây, Đức Mẹ Từ Tôn đã kêu gọi toàn thể Nữ phái phải ý thức được trọng trách của mình dù bất cứ ở đâu, hoàn cảnh nào, lãnh vực nào cũng phải lấy tình thương yêu, đức nhu thuận làm nền tảng xây dựng hạnh phúc gia đình, cải hoá xã hội. Hãy mạnh dạn, hăng hái, vui vẻ làm việc ích lợi cho mình, cho người. Muốn thực hiện được những hoài bão ấy phải:
– Củng cố đức tin.
– Kiên định lập trường.
– Siêng năng học tập: Học ở sách vở, học ở người, ở xã hội, trong cuộc sống hàng ngày. . .
– Phải tự lấp những hố chia rẽ, tư riêng trong lòng.

Những điều căn bản nêu trên để tự đào tạo và rèn luyện cho mỗi chị em trở nên người tín đồ Cao Đài chân chính, thì trước hết, chị em chúng ta phải có một đức tin vững chắc.

Trước tiên là phải biết tin thờ Thượng Đế.

Tại sao phải biết tin thờ Thượng Đế? Thánh giáo đã dạy: “Đức Chí Tôn là Đấng tạo thành càn khôn vạn loại, sự sống bởi Ngài, vạn vật do đó mà còn, do đó mà có, do đó mà nên. Vì vậy, Ngài là Cha yêu thương của vạn vật, nên ta phải hiếu kính Ngài để hướng về lẽ sống hằng còn. Ngài đã dựng nên trời đất, nắm cơ mầu nhiệm nơi tay, đủ quyền năng thống trị trong muôn loài, điều hoà vũ trụ vững an, thì Ngài là Chúa tể càn khôn, ta phải trọng kính Ngài để gội ơn Thánh đức, hướng về lẽ phải là cơ mầu nhiệm”.

Thứ đến là phải giữ giới qui tinh tiến.

Tại sao phải giữ giới qui? Qui giới đối với người tu hành như đường rầy đối với xe lửa. Giữ giới qui là không rót thêm dầu vào ngọn đèn dục vọng, ngăn chận tánh tham, sân, si, là bộ thiết giáp mà Đức Chí Tôn đã ban cho môn đồ của Ngài. Thầy đã dạy:

Thầy chẳng vì ghét mà không lời khuyến dụ; cũng chẳng vì thương mà không sai quỉ dỗ dành. Thầy nói trước cho các con biết mà giữ mình, chung quanh các con, dầu xa, dầu gần, Thầy đã thả một lũ hổ lang ở lộn với các con. Thầy hằng xúi chúng nó thừa dịp mà cắn xé các con, song trước Thầy đã cho các con mặc một bộ thiết giáp; chúng nó chẳng hề thấy đặng là đạo đức của các con.

Ấy vậy rán gìn giữ bộ thiết giáp ấy hoài cho tới ngày các con hội hiệp cùng Thầy“. (TNHT, 13 Mars 1926).

Người tu hành nhờ giới qui để chế ước vọng tâm, trau giồi chơn tánh, bồi dưỡng thiện lương, un đúc một con người thuần thành đạo đức, thì khỏi bị đắm chìm trong bể trầm luân, muôn ngàn phiền não, biết bao giờ giải thoát tâm linh.

Và tại sao phải tinh tiến? Đức Phật dạy: “Ta hãy tinh tiến nỗ lực thêm lên để đạt mục đích cao thượng nào mà ta chưa đạt được, để làm chủ các pháp nào mà ta chưa có, để thực hành các đức tính nào mà ta chưa thành tựu. Siêng năng, tinh tiến thì không việc gì khó. Giọt nước thường chảy có thể xuyên thủng đá”.

Tinh tiến là một tiềm năng linh động, quyết hướng cầu đến chỗ tinh thuần, hiểu biết thành tựu và giải thoát. Tinh tiến là đem tâm trong sáng tự tại hướng tiến mọi công việc dựa trên sự thật để đạt đến chỗ chân thật. Hạnh tinh tiến rất cần cho đời sống con người, nhất là người tu hành. Tất cả những lỗi lầm, những việc không hay, những nết xấu, cần phải tinh tiến giữ gìn đừng cho nó sinh khởi. Tất cả những điều hay, những tính hạnh tốt, những công việc ích lợi cho mình, cho người, cần phải tinh tiến làm cho nó phát sinh.

Việc cuối cùng và cần thiết là phải thường xuyên cúng nước quì hương, công phu tịnh định. Đức Quan Âm Bồ Tát đã dạy về vấn đề nầy như sau:

Cúng lạy để nghỉ ngơi tâm trí,
Để tịnh lòng, tịnh ý, tịnh ngôn;
Khép mình dưới bệ Chí Tôn,
Trau giồi tính nết, luyện hồn tịnh thanh.
Cúng lạy để tâm lành phát hiện,
Nhìn Phật Tiên trên điện hiền hoà;
Khởi lòng bác ái vị tha,
Nhìn chung Thượng Đế là Cha linh hồn
”.

Diệu dụng của việc cúng nước quì hương là để tắm gội tâm hồn, trí não thảnh thơi, để lòng mình được thanh tịnh, ý mình được thanh tịnh, lời nói mình được thanh tịnh. Được vậy, tâm lành phát hiện, trí tuệ khai minh, mới nhận định được con người với vũ trụ đồng một thể. Thượng Đế luôn luôn giá ngự trong con người. Để hiệp cùng Trời, chúng ta phải tu hành tinh tiến.

Đức Mẹ Từ Tôn đã ân cần nhắc nhở:

Thành đạo do con trọn chí thành,
Ngăn ngừa tư dục ở tâm sanh;
Bụi trần chớ để mờ chơn tánh,
Ngôi vị Tiên cung Mẹ sẵn dành
”.

Cái tâm con người chứa đựng thiện ác, Phật ma. Chỉ có công phu tịnh định là pháp môn, chế ngự được quỷ ma, tam bành, lục tặc sẵn có trong lòng người, chờ có nhân duyên phát khởi. Công phu tịnh định là giọt nước ma ha dập tắt lửa phiền muộn, sân hận bùng cháy trong lòng người. Tâm con người như nước trong hồ ao. Nước thanh tịnh không khuấy động thì bùn nhơ lắng chìm dưới đáy, nếu khuấy động thì bùn nhơ nổi lên quỉ ma, đê tiện, xấu xa, hèn mọn trong lòng người cũng hiển hiện đầy dẫy. Cho nên, Đức Mẹ đã ân cần khuyến dụ con cái của Ngài:

Muốn về cung Diêu với Đức Mẹ, thì phải lo giữ gìn khắc chế cái tâm, đừng để tư dục dấy loàn, bụi trần làm lu mờ chơn tánh”.

Thế nên, diệu dụng của công phu tịnh định là để lau chùi gương tâm luôn luôn sáng láng, tạo một nếp sống tâm linh lành mạnh, diệt trừ phiền não, khổ đau, phát huy thiên tính thiện lương, phẩm giá siêu việt của con người nhân thế. Cho nên, người tu hành không thực hiện pháp môn công phu tịnh định là “hàm súc nội tâm” để cho được “lòng trống bụng đặc” thì không lấy gì mà tinh tiến, chỉ lẩn quẩn loanh quanh công việc ăn chay cúng lạy thường tình mà thôi, thì thật là đáng tiếc, đáng buồn !

Muốn ngừng bớt đau khổ, chúng ta hãy gò cương dục vọng lại, nhận chân giá trị, địa vị và hoàn cảnh mình trong phạm vi tự do. Chúng ta hãy công phu tịnh định để xét lại những việc chúng ta đã làm hằng ngày xem phải hay trái. Trái thì cương quyết sửa đổi, phải thì cố gắng làm theo. Cứ làm như thế, làm mãi, cho tâm trí không bị tán loạn; không theo đà dục vọng, tự nhiên chúng ta thấy bớt đau khổ, tâm trí thanh thản, đời sống an vui, tinh thần khoan khoái, siêng năng làm việc và nhiệt thành yêu người yêu đời. Tự mình làm chủ đuợc tâm mình. Dù sống trong cuộc đời huyên náo, giựt giành, bon chen lợi lộc, song cũng không hệ lụy với đời! Được vậy, người tu hành phải thực hiện công phu tịnh định để nuôi dưỡng thần lực, chánh khí đầy đủ trong tâm, là phương cách làm cho lòng trống (không tham, sân, si, không dục vọng, phiền não và nuôi dưỡng đạo đức trong lòng), bụng đặc rồi thì tà vọng không khởi sanh được. Ngài Bảo Pháp Thanh Long đã từng dạy:

Lấy công quả đền bù nợ trước,
Dụng công phu chế ước lòng tà
”.



2. NGƯỜI PHỤ NỮ CAO ĐÀI VỚI BẢN THÂN

+ VỀ PHẦN VẬT CHẤT, người phụ nữ cần phải có một thân thể khỏe mạnh. Chúng ta không ai là không có thân thể, nên phải biết cách giữ gìn và làm phát triển, tất nhiên chúng ta sẽ thấy “một tinh thần minh mẫn trong một thân thể tráng kiện”. Muốn có một thân thể khoẻ mạnh, chúng ta phải thực hành những phương pháp cần thiết sau đây:

* Cần phải vận động: Sự vận động rất cần cho cơ thể, cũng ngang với sự ăn uống, ngủ nghỉ. Có vận động, máu chạy mới đều, gân cốt mới mạnh, tinh thần mới khỏi mỏi mệt và tâm chí mới được bình tỉnh.

* Cần ăn uống điều độ hợp vệ sinh: Ăn để sống chứ không phải sống để ăn. Đó là câu nguời ta thường nói để nhắc nhở những ai ăn uống quá độ. Cơ thể chúng ta gồm vô số tế bào và không giây phút nào là không biến đổi. Lớp nầy sinh ra thì lớp kia hủy hoại. Vì vậy, chúng ta cần phải ăn uống có điều độ và hợp vệ sinh để cơ thể luôn được bồi bổ.

* Cần ngủ nghỉ điều hòa: Ngủ nghỉ là một liều thuốc an định, bổ dưỡng thân tâm sau khi làm việc mỏi mệt. Sau một ngày vận động vì làm việc, ta cần phải ngủ nghỉ có điều độ để lấy lại sức khoẻ.

* Cần phải sạch sẽ thân thể: Vấn đề tắm giặt sạch sẽ và nhà cửa bếp núc sạch sẽ cũng rất quan trọng như vấn đề vận động và ngủ nghỉ, hô hấp… Thân thể bẩn do tiếp xúc với bên ngoài, đôi khi gây bệnh tật. Hô hấp là việc rất cần nên môi trường sống phải sạch sẽ, thoáng mát. Người xưa nói “nhà sạch thì mát, bát sạch thì ngon” là thế !

Ngoài phần thân thể khoẻ mạnh, người phụ nữ cần phải có ngăn nắp thứ tự. Bước vào nhà của ai, nhìn thấy sự bày biện, xếp đặt, chúng ta cũng có thể phán đoán sơ khởi là những người trong nhà ra sao rồi. Vậy thì ngăn nắp, thứ tự là một đức tính tốt của người có nếp sống văn minh. Sự ngăn nắp, trật tự trong gia đình giúp ta khỏi mất công tìm khi cần dùng đến và giúp ta dễ kiểm soát.

Chị em chúng ta cần canh tân nếp sống, mà gia đình là nền tảng của quốc gia xã hội. Chúng ta hãy cố gắng sắp xếp gia đình cho sạch sẽ và ngăn nắp. Điều đó rất có ảnh hưởng đến tâm trí chúng ta, nhất là người phụ nữ trong gia đình. Trách nhiệm của chị em thật vô cùng to lớn.

+ VỀ PHẦN TINH THẦN thì người phụ nữ cần phải học hỏi, phải có tâm hồn cao thượng, phải luôn vui vẻ dịu dàng và phải đoan trang thật thà đức hạnh.

Trong “Nữ phái giáo huấn” có câu:

Trau đức dục, học đòi giáo dục,
Lo tinh thần rèn đúc văn chương;
Đức tài là sắc là hương,
Là câu cẩm tú là chương ngọc vàng
”.

Xem thế, sự học hỏi là điều quan hệ của đời người. Bao nhiêu cảnh đau buồn lo lắng của con người lây cho cả xã hội loài người phần lớn đều do sự thiếu học hỏi. Mọi người cần phải học, học ở nhà trường và trong đời sống. Thời gian không đợi chúng ta đâu!

Trắng răng bao thuở da mồi,
Hoa râm mái tóc thôi rồi tuổi xuân
!”.

Bây giờ chị em không còn là thời cắp sách đến trường nữa, nên phải tự học hỏi bằng cách đọc sách báo, kinh kệ, học bằng việc làm, bằng kinh nghiệm cuộc đời… Chúng ta phải gánh vác việc xã hội, Giáo hội. Vì xã hội là một trường học to lớn, trong đó có đủ thứ để học hỏi. Suốt đời chúng ta vẫn học và phải biết học tất cả.

Thấy người hay ta phải học cho bằng, thấy người dở ta phải rút kinh nghiệm. Nghĩa là không cứ điều hay điều dở, việc phải việc trái, chúng ta đều phải học hỏi. Học hỏi để tiến tới, để sửa chữa – tức là tu hành vậy!

Tiếp theo là phải có tâm hồn cao thượng. Tất cả nết tốt của người phụ nữ đều thể hiện trên lời nói, cử chỉ, tính tình, việc làm và cách xử sự hàng ngày. Không phải ngẫu nhiên, mà chúng ta phải có một nề nếp giáo dục chính đáng, một khuôn phép vững vàng, đào tạo cho con người có một tâm hồn cao thượng. Đó là người không cố chấp, hẹp hòi, biết khoan dung tha thứ, biết thương người, làm việc nghĩa, biết hy sinh nhẫn nhục, không chỉ nghĩ đến quyền lợi của mình, luôn biểu hiện một tâm hồn cao thượng. Cho nên, người phụ nữ Cao Đài phải luôn luôn phát huy năng khiếu và thiện lương sẵn có, phải ý thức giá trị làm người, địa vị cao quí của mình.

Cần phải luôn luôn vun tưới cây đạo đức được sâu rễ chặt gốc trong tâm hồn mình, thì dù ở đâu, bất cứ trường hợp nào, ánh sáng đạo đức vẫn rực rỡ như ngọn hải đăng, vừa giúp cho mình nên người, vừa đưa đường dẫn lối cho người khác. Đức Quan Thế Âm đã từng dạy Nữ phái như sau:

Ai Thánh nữ mấy ngàn năm trước,
Ai Tiên nương mấy lượt năm qua;
Cũng trong cái lớp đàn bà,
Tu thân hành đạo, thoát xa luân hồi
”.

Đàn tại Thánh tịnh Thanh Quang năm ĐĐ14, Đức Vân Hương Thánh Mẫu đã từng cổ vũ: “Biết đâu gái cũng như trai” và: “Công dung ngôn hạnh đáng trang nữ hiền”.

Thêm nữa là phải vui vẻ dịu đàng: Đứng trước đóa hoa vừa có sắc vừa có hương, ai lại không trìu mến, trân trọng? Người phụ nữ kiều diễm, vui tươi dịu dàng thì ai mà không yêu không quí?

Hoa thơm bởi tại mùi hương,
Người xinh bởi tại lắm đường nết na.

Nết na quí trọng nhất và gây nhiều cảm tình nhất. Người phụ nữ luôn vui tươi như đoá hoa, như ánh trăng rằm, nói năng, đi đứng, nằm ngồi dịu dàng thùy mị, làm cho mọi người cảm mến và còn tránh được những trận gây gổ ở gia đình hoặc chòm xóm. Vì “cái tay giận dỗi không đánh nổi cái mặt tươi cười” chị em ạ ! Hơn nữa, gương mặt vui vẻ tươi cười, hiền hậu sẽ động viên khích lệ, an ủi đối với chồng con khi âu sầu tuyệt vọng.

– Điều cuối cùng, là phải đoan trang, thật thà. Đoan trang, thật thà, đức hạnh là phẩm giá quí nhất của người phụ nữ. Thực hành được bốn đức tính: vui vẻ, dịu dàng, đoan trang, ngay thẳng tức là đã xây dựng được một phong hóa tốt đẹp, đem lại lợi lạc cho cá nhân và tập thể. Làm vậy tức là đã gieo truyền mầm mống đạo đức căn bản, căn cơ cấu tạo nên những măng non ưu tú mà người mẹ là bà giáo gương mẫu hiền hoà trong trường học gia đình.

Nữ phái giáo huấn” cũng đã dạy khuyên phụ nữ Cao Đài phải tập luyện, dồi mài những đức tính ấy:

Ở mềm mỏng là ngoan là khéo,
Tiếng nói năng yểu điệu nhu hoà.
… Nhụy hoa chớ để hững hờ
Khó ngăn lũ bướm, khôn ngừa đàn ong
”.



3. NGƯỜI PHỤ NỮ CAO ĐÀI VỚI GIA ĐÌNH

Gia đình là nền tảng của quốc gia xã hội. Xã hội có an bình, quốc gia có thạnh trị là bởi tất cả các gia đình đều biết sống theo đạo nghĩa, mà thực hành đạo nghĩa là do con người. Vậy người phụ nữ đối với gia đình có ba nghĩa vụ chính yếu: nghĩa vụ làm con, nghĩa vụ làm vợ và nghĩa vụ làm mẹ.

+ Trước hết là nói đến nghĩa vụ làm con. Con người đã có thân tất phải có cha mẹ, dĩ nhiên người làm con phải biết báo đáp công ơn của cha mẹ. Đạo Hiếu đứng đầu trong đạo làm người. Vì sao phải báo hiếu? Bởi vì cha mẹ đối với con công đức sâu nặng cao dày. Công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ như núi non sông biển: “Công cha như núi Thái Sơn… Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con”.

Chúng ta làm con luôn luôn phải nghĩ tới và tìm phương báo đáp công ơn bậc sinh thành bằng cả tinh thần lẫn vật chất, trong lúc cha mẹ sống cũng như khi chết.

+ Tiếp theo là nghĩa vụ làm vợ. Người vợ là người chủ sự chốn gia đình. Người vợ là người đem nguồn sống nhân tài đượm nhuần khắp cõi lòng và thân thể con cái, là giọt nước cam lồ để an ủi những nỗi lo lắng cho chồng, là tấm gương khích lệ chí khí cho chồng. Ảnh hưởng giá trị của người vợ đối với gia đình, xã hội, không phải thấp kém mà ngược lại còn cao hơn. Bởi trên cõi đời nầy, nếu không có người đàn bà thì thiếu vui, kém đẹp. Người đàn bà đứng đắn, đảm đang là nguồn nước trong lành tưới mát cho những ai đã lặn lội trên đường đầy gió bụi. Người vợ hiểu biết và thực hiện được nghĩa vụ của mình là đã tạo một thiên đàng hạnh phúc tại thế gian nầy với những việc hết sức bình thường hằng ngày như việc đối xử thương yêu chồng con, thuận hòa vui vẻ, quán xuyến việc nhà, sắp xếp gọn gàng ngay ngắn, ôn hoà nhã nhặn với mọi người… Người vợ như một nhà ngoại giao, luôn luôn ôn tồn, dịu dàng, hòa nhã, lễ độ… Một công việc gì được kết quả, một gia đình nào được êm ấm đều là công phu của sự hiểu biết, cố gắng và nhường nhịn lẫn nhau. Ca dao VN từng có câu:

Chồng giận thì vợ bớt lời,
Cơm sôi bớt lửa có đời nào khê
!”.

Người chồng đôi khi có những ham mê không chính đáng thì người vợ cũng nên dùng những lời lẽ ôn tồn khôn khéo mà sửa đổi, không nên vì thế mà gây gổ giận hờn, đi đến chỗ đánh đập nhau gây tai tiếng xấu hổ. Sự giao tế giữa người chồng và người vợ cần phải tế nhị, lịch sự, phải hiểu biết và nhường nhịn lẫn nhau, để luôn giữ hòa khí, đem lại hạnh phúc và vinh dự cho gia đình, gia tộc.

Bí quyết xây dựng gia đình hạnh phúc mà không thể thiếu được ở người vợ là phải biết giữ gìn nhan sắc, trang phục hẳn hòi, kín đáo, đẹp đẽ. Trong “Nữ phái giáo huấn” cũng đã chỉ vẽ cặn kẽ nghĩa vụ làm vợ như sau:

Nên duyên phận càng thêm ý vị,
Khi có chồng trọn thỉ trọn chung;
Chồng nghĩa sĩ, vợ trinh trung,
Chồng là đoan chính, vợ tùng nghĩa phu.
Lo gìn giữ trước sau nội trợ,
Đạo tề gia nâng đỡ cho chồng;
Kìa chồng nặng gánh non sông,
Vợ lo chăm sóc những công việc nhà.
Dầu nghèo khổ cũng là chịu cực,
Dầu gian nguy tùng nhứt nhi chung.
Có chồng trọn tiết với chồng,
Dù cay đắng lắm cũng lòng không hai.
Chồng trông cậy một tay kim chỉ,
Giúp cho chồng danh vị thăng cao.
Chồng nên một đấng anh hào,
Thì ta cũng đã góp vào thành công
”.

+ Cuối cùng là nghĩa vụ làm mẹ. Cha mẹ, con cái là một mối dây hòa đồng tông gia tộc, nên cha mẹ, nhất là người mẹ có một nguồn thông cảm rạt rào không bờ bến trước sự trưởng thành của con cái. Dù phải nhẫn nhục trước bao sự vất vả, khổ sở, ô uế, hay khinh bỉ trong khi thơ ấu cũng như trong lúc trưởng thành, cha mẹ cũng chỉ biết dốc hết cả vào nơi con cái một lòng thương yêu chân thật và một cố gắng lo toan xây dựng.

Người mẹ lại đóng một vai trò quan trọng hơn hết trong công việc nuôi nấng và giáo dục con cái. Vậy người làm mẹ phải ý thức được những trách nhiệm thiêng liêng đó. Nghĩa là trước hết người mẹ phải làm gương tốt cho con cái. Con cái sẽ tốt hay xấu, hư hay nên, lành hay dữ phần lớn là do sự giáo dục, cảm hóa của người mẹ. Nên làm người mẹ phải luôn luôn gương mẫu, như không nói dối với con, không tham lam, không chửi thề, văng tục, không nguyền rủa người khác, không giận dữ la ó om sòm với mọi người, không đánh đập tàn bạo với con cái, không răn phạt quá mức hay không công bình, không nghiêm khắc thái quá, cũng không nuông chìu vô lý, không cho ăn uống quá độ, tham ăn và hay ăn lặt vặt suốt ngày. Luôn luôn hướng dẫn con cái có chí tự lập, tự chủ, không ỷ lại, không lười biếng, không rụt rè, nên bạo dạn và nên hoạt động. Tập tánh vui vẻ và rộng lượng, thương yêu và tha thứ, khiêm nhường và lễ độ.

Người mẹ phải ngăn cấm con cái làm điều ác. Làm mẹ phải biết nhận thức rành rẽ những hành vi của con cái. Hành vi ác phải triệt để ngăn cấm không cho nó sinh khởi và phải cố gắng diệt trừ để khỏi hư hỏng thân con, khỏi liên lụy đến mình và khỏi mất thanh thế gia phong. Đồng thời, người mẹ phải hướng dẫn con cái biết và làm điều thiện. Điều thiện tức là điều lành, là những gì làm tăng trưởng hay duy trì sự sống của con người và của xã hội, là những gì ứng hợp với lệ luật của sự sống. Là cha mẹ, không bao giờ muốn cho con cái lạc ra ngoài phương châm ấy, mà phải cố gắng uốn nắn cho con theo đúng khuôn khổ của nó trong sự tìm hiểu và thực hành.

Con hư tại mẹ”. Câu tục ngữ nầy đã chứng minh rất xác thực. Trưng Trắc Thánh Nương đã từng nói rõ:

Thảm thương bánh méo vì khuôn méo
Chẳng đặng con lân bởi mẹ mèo
”.

Vậy chị em chúng ta nghĩ sao khi ý niệm được trọng trách của người mẹ? Chẳng những là người mẹ trong gia đình mà là người mẹ của quốc dân. Sự tồn vong của quốc gia, sự thịnh suy của xã hội, người phụ nữ – Người làm mẹ – cũng gánh vác một phần lớn lao trách nhiệm.

Người mẹ phải có một tình thương chân thật thấm thía. Tình thương yêu của cha mẹ đối với con cái phải là tình yêu thương chân thật thấm thía, thương yêu trong chia ngọt sẻ bùi trong rét bức đói no, trong ốm đau tật bệnh. Nghĩa là không giờ phút nào, hoàn cảnh nào mà cha mẹ lảng quên con cái, lảng quên sự yêu thương đùm bọc chở che. Đem tình thương yêu chân thật trìu mến tiêm nhiễm sâu sắc vào huyết quản, tế bào của con cái, làm cho con cái trong gia đình cùng một nhịp thở, một nhịp sống an hoà, vui vẻ, đạo đức, văn minh, tiến bộ với người mẹ.

Dù gặp cảnh nghèo chứ lòng mẹ không nghèo. Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào. Nuôi thể xác đứa con chưa bằng nuôi linh hồn đứa con. Cho con học hành tiến bộ chưa đủ, người mẹ còn phải để lại phúc đức cho con nhờ. Người ta thường nói: “con nhờ đức mẹ, cháu hưởng lộc bà”, là có ý như vậy!

Cuối cùng là người mẹ phải hướng dẫn hôn nhân cho con cái. Con cái khi tuổi xuân đến độ tất nhiên phải đòi hỏi nơi cha mẹ vấn đề thành lập gia thất cho chúng. Trong trường hợp ấy, cha mẹ không thể yên nhiên phó mặc cho đời son trẻ. Cha mẹ phải ra công dò xét tâm lý con cái – nhất là người mẹ – phải tìm hiểu hoàn cảnh và cá tính của trai gái nào có thể xứng hợp sánh đôi, đem lại hạnh phúc lâu dài cho chúng. Và sau khi hai bên đã ý hợp tâm đồng bằng sự hiểu biết chân thật chứ không phải là sự cám dỗ, mù quáng, áp bức, cha mẹ mới tùy theo hoàn cảnh, phong tục mà tác hợp cho con.

Đến khi làm sui làm gia, đối với dâu với rể, nhiệm vụ người đàn bà cũng không kém phần quan trọng. Khi định làm sui, chúng ta phải giữ theo luật Đạo. Không nên chọn giàu sang theo kiểu “môn đăng hộ đối” mà phải chú trọng phần tu hành, phúc đức của gia đình mà thôi! Đối với dâu rể, người mẹ phải hết lòng thương yêu lo lắng như con đẻ, không vì tiền tài mà để mất nhân nghĩa, đạo đức. Người đàn bà cần lưu ý việc cư xử trong gia đình khi đã có rể có dâu cho mọi bề êm đẹp. Người mẹ cương quyết nhưng dịu dàng, vui vẻ truyền lại bao kinh nghiệm quí báu của đời mình cho dâu con tiếp tục xây dựng gia đình đạo đức.

Thưa quí chị em,

Nói tóm lại, người phụ nữ Cao Đài phải nhìn xa thấy rộng, phải ý thức vai trò trọng đại của mình, thiên chức làm con, làm vợ, làm mẹ, làm tín đồ, mà cố gắng quyết tâm thực hành những điều hay lẽ thật đã trình bày trên đây, là đã góp phần xây dựng hữu hiệu, lớn lao trong công cuộc phục hưng tinh thần văn minh đạo đức của dân tộc, đem lại hạnh phúc vĩnh cửu cho gia đình, an ninh cho tổ quốc và đào tạo một nền văn hoá tốt đẹp cho xã hội.

Bởi vì, từ gia đình đến xã hội, từ đạo giáo đến thế gian, quá trình sinh hoạt trong nhiều lãnh vực đã chỉ chứng cho chúng ta thấy được vai trò của người phụ nữ ngày càng quan trọng.

Trong chiều hướng đó, chúng ta có quyền tin tưởng nữ giới sẽ chia sẻ phần vinh dự trong công cuộc kiến tạo tương lai huy hoàng cho nhân loại. Với vai trò người tín nữ Cao Đài, chúng ta còn ý thức được điều ấy một cách rõ ràng hơn trong sứ mệnh “Thiên đạo giải thoát. Thế đạo đại đồng”.

Bài thuyết đạo của cố Giáo sư Ngọc Dinh Thanh
tại Trung Hưng Bửu Toà, ngày 15/8/Giáp Tý (1984).
Trích: SỐNG ĐẠO 14



Comments (1)

 

  1. kiennguyen says:

    Vấn đề nam nữ bình quyền, bình đẳng đang là xu hướng chung của thế giới ngày nay. Người phụ nữ chiếm một vị trí quan trọng trên thế giới bởi họ chiếm đến 51 % nhân loại, họ đã đang tham gia ở hầu khắp các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và khoa học, mặc dù còn một số ít quốc gia, người phụ nữ vẫn đang bị nhiều phong tục tập quán ràng buộc khó khăn.

    Ở Việt Nam, dưới chế độ thực dân phong kiến, người phụ nữ phải chịu nhiều thiệt thòi, không được bảo vệ dưới bất kỳ hình thức nào thì ngày nay, vai trò của người phụ nữ đối với gia đình,xã hội và tôn giáo ngày càng được tôn trọng. Đặc biệt, khi Việt Nam đã bước vào kỷ nguyên hội nhập với thế giới, vấn đề bình đẳng giới lại càng được quan tâm hơn bao giờ hết. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chế độ, chính sách để tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển, bình đẳng với nam giới, trong đó phải kể đến sự ra đời của Luật Bình đẳng giới và Chương trình vì sự tiến bộ của phụ nữ. Xã hội cũng đã thừa nhận vị thế và vai trò của người phụ nữ. Thực tế cũng đã chứng minh, phụ nữ hoàn toàn có thể đảm nhận tốt vai trò trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, không thua kém gì nam giới.

    Tôn giáo trú trọng về mặt tâm linh, nhìn nhận bản thể Thượng đế trong con người, dù nam hay nữ vẫn bình đẳng như nhau, cần được dìu dắt, bảo vệ như nhau. Trong Kinh Thánh có câu: “Thiên chúa sáng tạo con người có nam có nữ” là muốn nhấn mạnh một cách rõ ràng rằng tuy nam nữ khác nhau về giới tính, nhưng hoàn toàn bình đẳng với nhau, được mời gọi bổ túc cho nhau và tiếp tục đồng trách nhiệm về công trình sáng tạo tốt đẹp của Thiên chúa. Theo Phật giáo thì “Tất cả chúng sinh đều có Phật tính tất hữu” cho nên đối với quan hệ giữa người và người là một quan hệ tuyệt đối bình đẳng.
    Vì vậy, từ nghìn xưa, ngoài phần tu học tại gia, người phụ nữ trong tôn giáo vẫn được đi vào hàng xuất gia của các tôn giáo, họ là những nữ tu, sadi nữ, tỳ kheo ni,…Trong Giáo hội Công giáo, đã có một nữ giáo dân là bà Flaminia Giovanelli đã được Giáo hoàng bổ nhiệm vào vị trí quan trọng trong Uỷ ban Công lý và Hoà bình của Toà thánh với cương vị là Phó Tổng thư ký; đã có không ít các giáo sư thần học là phụ nữ tại các trường Đại học của đạo Công giáo,…
    Đạo Cao đài là một tôn giáo nội sinh ra đời vào năm 1926 tại miền Nam Việt Nam. Đạo Cao đài coi trọng sự bình đẳng nam nữ trong xã hội nên đã sớm chủ trương nam nữ bình quyền, bình đẳng. Ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, tư tưởng “trọng nam khinh nữ” vẫn còn nặng nề mà có chủ trương nam nữ bình đẳng là rất tiến bộ đối với xã hội lúc bấy giờ. Đạo Cao đài quan niệm tất cả các tôn giáo đều cùng một cội nguồn là Thượng đế, tuy mỗi tôn giáo được khai mở trong những không gian và thời gian khác nhau, nhưng tựu chung lại đều quy về chỗ “vạn giáo đồng nhất lý”. Nam nữ là sự thể hiện nguyên lý Âm Dương bất biến của trời đất nơi chốn hữu hình: “Nữ nam âu cũng một chơn linh” (Thánh giáo Cao đài).
    Giáo lý Cao đài xác định dù nam hay nữ, cũng đều là những Tiểu Linh Quang chiết xuất từ khối Đại Linh Quang, đều được nhận sứ mạng cao cả là thay Trời tiếp tục công cuộc hóa sanh, trưởng dưỡng muôn loài vạn vật nơi chốn hữu hình. Sự phân biệt nam nữ hay sự kỳ thị đối với nữ giới chỉ là sản phẩm của con người nơi thế gian.
    Đạo Cao đài khẳng định vị trí, vai trò của nữ giới ở đây không đơn thuần là sự an ủi hay nâng đỡ tinh thần nhất thời dành cho phái nữ mà thật sự muốn khẳng định quan niệm nữ nam đồng đẳng là một sự thật hiển nhiên đã có từ lúc hóa sinh trời đất vạn vật mà thôi.
    Trong giáo lý Cao đài, việc tu học, hành đạo đều bình đẳng cho cả nam và nữ; vị trí, vai trò của người phụ nữ không khác gì nam giới về trách nhiệm, quyền hạn và sứ mạng.Nữ phái không những được bình đẳng với nam phái về mặt sinh hoạt giáo hội, mà tùy tài năng và tâm đức của mình, nữ phái cũng được giao phó các trách nhiệm như nam phái.
    Theo Pháp Chánh truyền: “Hễ bao nhiêu nam tức cũng bấy nhiêu nữ, nam nữ vốn như nhau”. “Nam nữ vốn đồng quyền… Giáo hữu nam phái cũng chịu dưới quyền của Giáo sư nữ phái”.
    Trong lúc xã hội còn nặng hủ tục đối với nữ phái như: “khuê môn bất xuất”, “chồng chúa vợ tôi” hay “phu xướng phụ tùy” thì giáo lý Cao đài đã giải phóng phụ nữ trước thời đại, lớn hơn tầm vóc mà họ mong đợi quá nhiều. Ngay trong cửa Đạo, phái nữ cũng đạt được các ngôi vị Thần, Thánh, Tiên, Phật như nam phái. Trong phạm vi sinh hoạt xã hội, cũng như trong hành chính đạo, đạo Cao đài cũng đã đặt nữ phái ngang hàng với nam phái. Nữ phái cũng có quyền ứng cử phái viên, tham dự ba Hội lập quyền vạn linh, đó là Hội nhơn sanh, Hội thánh và Thượng hội. Nữ phái cũng có quyền tham gia bầu cử, ứng cử vào các cơ quan hành chính Đạo, cùng đóng góp ý kiến và kiểm soát các sinh hoạt của Đạo từ Trung ương đến địa phương, thông qua ba Hội lập quyền vạn linh nêu trên. Đây là một nét đặc trưng của thể chế Cao đài, khác xa với các tôn giáo khác. Chỉ có nữ giới Cao đài mới có quyền thể hiện quyền bình đẳng và tự do dân chủ trong tôn giáo của mình một cách tuyệt đối như vậy.
    Đặc biệt, các Hội thánh Cao đài còn cho phép thành lập cơ quan hành đạo nữ phái. Đây là nơi để nữ tín đồ hành đạo và thực hiện nữ quyền của mình, tự đảm đương, chịu trách nhiệm hướng dẫn và dạy dỗ hàng ngũ nữ phái của mình. Hàng giáo phẩm chức sắc của nữ phái cũng đầy đủ cấp bậc giống như nam phái, nghĩa là cũng có phẩm Đầu sư, Chánh Phối sư, Phối sư, Giáo sư, Giáo hữu, Lễ sanh điều hành, dạy dỗ nữ phái.Tại Họ đạo cơ sở cũng có Chánh Trị sự, Phó Trị sự và Thông sự là nữ phái, quyền hành giống như nam phái. Cũng theo tinh thần Pháp Chánh truyền, Đầu sư nữ được quyền lãnh đạo ở Thượng hội, Chánh Phối sư điều hành nữ phái, trông nom hướng dẫn hàng chức sắc nữ và cộng đồng, chủ tạo Hội Nhơn sanh.
    Quan niệm bình đẳng nam nữ trong giáo lý đạo Cao đài không chỉ dừng lại ở sự công nhận ngôi vị nam nữ ngang nhau mà sự bình đẳng này còn thể hiện ở chỗ hai lực lượng song hành cùng mang một trọng trách “hoằng giáo độ đời” hay nói khác, nam phái hay nữ phái đều:
    – Đồng một sứ mạng như nhau trong nền đạo Cao đài:
    “Nữ cũng như nam có khác nào,
    Cũng người, cũng học, cũng tài cao;
    Chỉ riêng thể chất thì hơi thiệt,
    Lập đức thi công rạng má đào.”
    – Đồng thể chơn linh:
    “Nữ nam âu cũng một chơn linh
    Cùng tách ra đi chốn thượng đình
    Đến cõi hồng trần tu lập vị
    Công dày quả mãn lại hồi sinh.”
    – Đồng đẳng song hành: Bình đẳng với nam phái trên con đường tu thân hành đạo.
    Việc nữ nam đồng chung sứ mạng, đồng thể chơn linh, đồng đẳng song hành được Đức Quan Âm dạy: “Xét theo lý Đạo, không giới nào là trọng, không giới nào là khinh. Mỗi giới đều có sứ mạng phối ngẫu hóa sinh, trưởng dưỡng và bảo tồn cơ vận hành cùng lòng háo sanh của tạo vật”.
    Trong cách thức tổ chức thờ phụng, người đạo Cao đài thờ Thầy, tức Đấng Cao đài, đồng thời cũng thờ Mẹ ở cùng ngôi vị ngang nhau. Trong việc thờ cúng, người đạo Cao Đài không đặt hình tượng nên không có giới tính nam nữ mà họ biểu hiện đức tin bằng “Thiên nhãn”. Bước vào bên trong các thánh thất Cao đài, từ Thiên bàn nhìn ra, bao giờ cũng thấy tín đồ nam bên cánh trái và tín đồ nữ bên cánh phải theo quy ước “nam tả, nữ hữu”, bên trái thuộc Dương, bên phải thuộc Âm. Bên cạnh đó còn có nhà tu, nhà tịnh, hạnh đường dành riêng cho nữ phái.
    Để tôn vinh vai trò nữ phái, đạo Cao đài có ngày lễ trọng dành dành riêng cho nữ phái đó là ngày Rằm tháng Tám – ngày đại lễ Vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu và Cửu vị Tiên Nương là dịp để phái nữ thể hiện nữ quyền và thành quả tu học, hành đạo của mình.
    Như vậy, đạo Cao đài đã đưa người phụ nữ vào một tinh thần tự chủ, tự quyền, tự lập và chiếm vị trí rất quan trọng giáo hội, chẳng khác gì nam phái. Đó cũng là điều đặc biệt mới mẻ, một sự nhìn nhận tiến bộ về bình đẳng nam nữ trong đạo Cao đài.
    Tuy nhiên, phải hiểu rằng, sự bình đẳng nam nữ theo giáo lý của đạo Cao đài không phải là sự cào bằng để người phụ nữ ngang hàng với nam giới trong mọi hành vi mà phải thuận theo Thiên lý.Theo qui luật của trời đất, mặc dù Âm Dương đều có giá trị ngang nhau trong việc phối kết hóa sinh vạn hữu, không bên nào trọng, không bên nào khinh, nhưng mỗi năng lực có tính chất và nhiệm vụ khác nhau. Vì vậy, với hai phẩm vị tối cao trong đạo Cao đài, đó là ngôi vị Giáo tông và Chưởng pháp (Dương vị) thì nữ giới không được nắm giữ. Theo Pháp Chánh truyền chú giải, Đức Hộ pháp Phạm Công Tắc khẳng định rằng đây là mệnh lệnh thiêng liêng của Thượng đế. Người đã tuyên bố rằng nam tượng trưng Dương, nữ tượng trưng Âm. Nếu nữ giới nắm những chức vị đó, tức là Âm thịnh, Dương suy, nữ giới lên ngôi vị Giáo tông, Chưởng pháp sẽ đi đến sự hủy diệt.
    Mặt khác, việc nữ phái không được lên các phẩm cao nhất trong đạo Cao đài, một phần cũng vì lý do Thượng đế thương yêu nữ phái, không muốn phận nữ nhi phải đảm nhận nhiều trách nhiệm nặng nề. Bởi lẽ lên phẩm vị chức sắc càng cao, trách nhiệm với công việc càng lớn, đó là một gánh nặng vô cùng mệt mỏi, mà nữ phái thường làm việc theo xu hướng tình cảm nên nếu gánh trách nhiệm nặng nề thì dễ dẫn đến việc không hay có thể xảy ra trong quá trình làm việc, đó là điểm yếu. Còn nam phái, vốn làm việc theo xu hướng lý trí, nên khi đối mặt với những khó khăn, sẽ có thể bình tâm, tỉnh trí để xử lý những việc trọng đại sao cho hiệu quả và công tâm nhất.
    Ngày nay, người phụ nữ trong đạo Cao đài vẫn đang được tạo điều kiện để phát huy tài năng và trí tuệ của mình cho cả trong đạo và ngoài đời, họ ngày càng khẳng định vị thế của mình trên hành trình phụng sự xã hội và đạo pháp. Trong 10 Hội thánh Cao đài đã được công nhận tư cách pháp nhân, điểm qua danh sách của Ban Thường trực Hội thánh đương nhiệm, hầu hết đều có sự tham gia của nữ phái ở những vị trí quan trọng, đặc biệt Hội thánh nào cũng có nữ giới được giữ chức vụ Phó Trưởng ban Thường trực Hội thánh. Một số Hội thánh Cao đài có những tiêu chí để khuyến khích, cổ vũ nữ phái thi đua lập thành tích trên tất cả các lĩnh vực từ tư tưởng đến hành động cũng như sự tinh tấn khổ luyện thân tâm theo đạo pháp như danh hiệu “người phụ nữ phi thường”. Trong các sinh hoạt tôn giáo của đạo Cao đài chúng ta thường thấy sự hiện diện của nữ phái đông đảo hơn là nam phái. Người phụ nữ Cao đài trong thời đại mới, dù trong hoạt động nào, trong đạo cũng như ngoài đời đều thể hiện được phẩm chất đạo đức và truyền thống của người phụ nữ Việt Nam, đều hướng tới cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”, góp phần làm cho “Nước vinh, Đạo sáng”.

Leave a Reply