ĐỨC PHẬT THÍCH CA

May 10, 12 | Tâm Duyên | 1,854 views | No Comments



Share |




I.- Sơ lược tiểu sử:

Ngược dòng lịch sử, vào một ngày trăng tròn tháng Hai Ấn Độ, tức Rằm tháng Tư Âm Lịch giữa thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên, khoảng năm 624, thái tử Tất Đạt Đa – con vua Tịnh Phạn và Hoàng hậu Ma Da giáng trần tại vườn Lâm Tì Ni, vương quốc Ca Tì La Vệ miền Bắc Ấn Độ, ngày nay thuộc nước Népal.

Theo sử truyền, dân Ấn độ lúc bấy giờ chia làm 4 giai cấp:

1/ Hạng Bà La Môn, tức hàng tăng sĩ, học hành uyên bác, giữ giới hạnh, nắm cả quyền văn hóa chính trị;

2/ Hạng Sát đế lỵ, tức dòng dõi vua chúa;

3/ Hạng Phệ xá, tức công thương bình dân; và

4/ Hạng Thủ đà la, là những lao động tôi tớ.

Thể theo lòng trông ngóng một đấng cứu tinh cho dân chúng cũng như sự thiết tha cầu tự của vua Tịnh Phạn và Hoàng hậu Ma Da, và hợp với nguyện lực muốn san bằng hố thẳm đau thương, một vị Bồ Tát từ cung trời Đâu suất giáng trần. Trong đêm Hoàng hậu mơ thấy Bạch tượng sáu ngà từ trên không sa ẩn vào hông phải. Và Hoàng hậu đã thọ thai Thái tử. Ngày đản sanh của thái tử, trong thành cảnh vật vui vẻ lạ thường, chim chóc ríu rít hát ca, hương hoa thơm ngào ngạt thoảng khắp, hào quang chiếu toả khắp mười phương.

Theo truyền thuyết, khi sinh ra ngài đứng hẳn dậy, mỗi bảy bước đi có hoa sen đở, và mắt nhìn tứ hướng và tuyên thuyết: “THIÊN THƯỢNG THIÊN HẠ DUY NGÃ ĐỘC TÔN, SINH TỬ DĨ LAI Ư KIM TẬN HỶ” (Ta chính là bậc tôn quý hơn hết trên cõi trời, cõi người, kể từ nay sinh tử khôn lường đều dứt sạchKinh Nhân Quả – Chữ NGÃ ở đây chỉ Chơn Ngã, tức Phật Tánh).

Từ đỉnh núi cao, nghe tin thái tử ra đời, tiên tri A Tư Đà vội vã đến thành Ca Tì La vệ. Đến nơi vừa ngắm nhìn thái tử, đạo sĩ sụp lạy thái tử rồi khóc nức nở. Vua và hoàng hậu kinh hải hỏi dồn: “Sao đạo sĩ lại khóc, có chuyện gì không may cho Hoàng gia hoặc điều bất hạnh cho thái tử chăng?” “Muôn tâu Hoàng thượng, tôi khóc là khóc cho tôi, vì tôi không còn sống được bao lâu nữa để thọ giáo vị thái tử đây là bậc Giác Ngộ, Ngài sẽ cứu nhơn loại ra khỏi bể trầm luân; nếu xuất gia Ngài sẽ thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác; nếu là vua, Ngài sẽ là bực chuyển luân Thánh Vương.”

Lớn lên ở Hoàng cung, thái tử được nuôi dạy hoàn thiện cả văn lẫn võ bởi nhiều vị thầy tăm tiếng, vì học một biết mười, nhiều câu hỏi của thái tử nhiều vị thầy không giải đáp được, phải tâu vua cha: Thái tử là bực “Sinh nhi tri chi” (Sinh ra đã biết) lần lượt xin cáo thối, không dám dạy. Càng lớn diện mạo càng khôi ngô, tài năng phát lộ gấp bội, sức khoẻ hơn người, thông minh xuất chúng. Có lần thi bắn thái tử bắn một mũi tên thủng luôn chín lớp thiết cổ (9 mặt trống bằng thép).

Năm 16 tuổi theo phong tục bấy giờ, thái tử kết duyên với công chúa Da Du Đà La. Tuy sống vương giả trong tháp ngà, nhung lụa đờn sáo du dương, con xinh vợ đẹp, ràng buộc thê nhi, nhưng lòng Thái tử luôn cảm thấy một nỗi buồn ray rứt. Đương cơn khủng hoảng tâm hồn như vậy thì bốn cảnh mắt thấy tai nghe thêm làm thái tử suy nghĩ.

Bữa nọ, cùng người hầu cận Sa Nặc dạo chơi ngoại thành, ngài gặp một người già yếu, thân thể tiều tụy, mắt mờ chân chậm đứng đi không vững, thái tử sinh lòng cảm xúc thở dài. Sa Nặc bèn bảo: Cuộc đời là vậy, mấy ai thoát khỏi cảnh GIÀ?! Trong lòng còn đang lãng vãng thì tiếp đến thái tử thấy một người bịnh quằn quại bên đường, miệng rên tay giựt. Ngài không dằn được cảm động. Sa Nặc liền nói: Đời người ai cũng không tránh khỏi cảnh BỆNH ngài ạ! Rồi một lần nữa ngài thấy một người chết sắp mang đi chôn, bà con kêu khóc, bạn bè bi thảm. Thái tử rơi lệ, Sa Nặc an ủi: Cảnh CHẾT là tất nhiên cuộc đời, ngài khóc lóc làm chi!”

Từ ấy lòng ngài nhóm lên một triết lý trước sự sống, sự đau khổ của loài người. Một hôm gặp một nhà tu khổ hạnh, dáng điệu ung dung, mặt mày thơ thới như nguời không mảy may phiền lụy, ngài bèn đến gần hỏi chuyện, thì được biết vị tu sĩ nọ xuất gia học đạo, quyết trừ ác căn, lấy từ bi chế dục vọng, hộ niệm cho chúng sinh . Nghe vậy thái tử rất vui, nảy ra ý định sẽ thực hiện điều này. Giữa lúc ấy, công chúa Da Du Đà La hạ sinh một hoàng nam; vua Tịnh Phạn đặt tên là La Hầu La. Thái tử không cảm thấy vui mừng mà than: “Lại thê thằng tử phược, thêm một sợi dây tình ràng buộc nữa, hảy tìm cách cắt dứt!”

Năm 19 tuổi, sau nhiều thao thức suy nghĩ tư lự về sự khổ đau trên thế gian: cuộc sống luôn bị rình rập bởi SINH, GIÀ, BỆNH, CHẾT, sầu bi ưu não, thái tử quyết tâm tìm rõ nguyên nhân hầu có một phương pháp giải khổ cho chúng sinh, tìm ra chân lý giải thoát cho người đời. Nhân một đêm hoàng thành ngũ mê sau cơn tiệc tùng ca xướng tưng bừng. Thái tử quyết định từ bỏ điện ngọc cung vàng, vinh hoa phú quý, trốn vua cha và hoàng hậu, cát ái ly gia, thầm lặng nói lời từ biệt người vợ hiền và con thơ yêu dấu La Hầu La: “Nàng ơi, hạnh phúc nào rồi cũng sẽ tàn phai theo năm tháng, Đôi bàn tay ngà kia rồi sẽ cằn cỗi, đôi mắt long lanh của nàng ngày nào rồi cũng sẽ mờ dần theo thời gian, không nên vì hạnh phúc của riêng ta mà quên đi nhân loại! Nàng ơi, ta đã quyết ra đi vì hạnh phúc của chúng sinh!

Và, thái tử hạ quyết tâm đi tìm đạo giải thoát. Trốn khỏi hoàng cung, phóng nhanh với ngựa Kiền trắc. Hừng sáng thái tử dừng cương xuống ngựa cởi hết châu báu của trong mình và lấy gươm cắt tóc, đưa tất cả cho ngưòi hầu Sa Nặc và bảo: “Ngươi dắt ngựa và mang tất cả về tâu với vua cha, các vị thiên thần mở cửa cho ta đi. Chừng nào đắc đạo ta mới trở về.” Hay tin vua Tịnh Phạn sai các đại thần đến nơi khuyên giải, xin ngài về triều, nhưng tất cả đều thất bại. Thấy vậy vua bèn cho nhóm Trần Kiều Như theo tu và hầu hạ.

Cởi áo vương bào đổi áo nâu sòng của người thợ rừng. Bắt đầu từ đây, Thái tử trở thành một vị Sa môn không nhà, lang thang đi mãi. Suốt bao năm khổ hạnh tầm sư học đạo, nghe nơi nào có đạo sĩ chơn tu đắc pháp lực ngài đến hỏi pháp. Từ các đại sư Kalama, phái Số luận, hoặc Uddaka, phái Du già; Sa môn Tất Đạt Đa đều quán triệt. Nhưng sau khi hỏi các đạo sĩ tu đắc các pháp thần thông này có ích gì cho sự thoát luân hồi tứ khổ và nghiệp báo? Vị thầy uyên thâm nhứt đều ngỡ ngàng không trả lời được, và nhìn nhận phép tu của mình chưa đạt đến đó.

Ngài bèn từ biệt các đạo sĩ, cùng nhóm Trần Kiều Như đến một khu rừng, tu theo phép Bà La Môn, ngày đêm trầm tư mặc tưởng, bớt giảm uống ăn, suốt trong sáu năm trường khổ hạnh thân thể ngày càng ốm gầy, có lần ngất xỉu; mà vẫn chưa thấy được chân lý. Một bữa kia, khi đang trầm tư trong thiền định, bổng nhiên Sa môn nghe tiếng đàn thánh thót từ người thợ rừng cung nhạc bổng trầm, thình lình đến khúc hay nhứt thì tiếng đàn im bặt. Ông tiều lên dây, đàn tiếp. Đến khúc hay nhứt thì dây đờn đứt, ba lần như vậy. Sa môn đang trì định xã thiền và than rằng: “Ông đàn hay, nhưng lên dây cao quá, đến khúc hay phải đứt, thật đáng tiếc!” Tiều phu bèn đáp: “Cái đàn của tôi cũng như cách tu của ngài. Dây lên quá cao bị đứt thì tiếng đàn hay chẳng thể nghe; còn cách tu của ngài nếu cao siêu huyền bí đạt được mà chết theo với ngài thì làm sao hửu ích truyền lại cho đời, tôi thấy cũng thật đáng tiếc vậy.” Nói xong lão tiều ôm đàn đi mất.

Suy nghĩ lời người tiều phu và thức tỉnh nhận ra rằng tu theo khổ hạnh vô lý; muốn suy nghĩ sáng suốt, tinh thần minh mẫn, phải có một thân thể khỏe mạnh. Ngài liền dứt khoát từ bỏ cách tu đó; không sống theo lợi dưỡng và cũng không quá khắc khổ. Thấy ngài đổi ý, nhóm Trần Kiều Như khinh rẻ, nghĩ rằng ngài thối bước bèn bỏ rơi ngài.

Thế là sau bao năm khổ hạnh, ngài tự mình tìm cách riêng. Và ngài đã TỰ THẮP ĐUỐC LÊN MÀ ĐI! Giờ đây con đường tu của ngài là con ĐƯỜNG TRUNG ĐẠO. Không thái quá, chẳng bất cập.

Ngài xuống tắm ở bờ sông Ni Liên Thuyền. Rồi thọ bình sữa cúng dường của một bé gái chăn bò Suyata mang đến. Sức khoẻ bắt đầu phục hồi, tinh thần định tỉnh sảng khoái. Ngài cám ơn cô mục nữ. Từ đây ngài tìm đến cội cây bồ đề to lớn, cành lá sum sê mát mẻ; một mình nhập định tỉnh tọa tư duy thiền quán. Ngài phát đại nguyện: “NẾU KHÔNG CHỨNG ĐƯỢC ĐẠO QUẢ THÌ DÙ TAN NÁT THÂN NÀY, TA QUYẾT KHÔNG ĐỨNG DẬY RỜI KHỎI NƠI ĐÂY.”

Sau 49 ngày đêm thiền quán, lúc sao Mai vừa ló dạng của ngày Trăng Tròn RẰM THÁNG TƯ, tuệ giác siêu việt, bừng sáng nội tâm, biết được nguyên nhân sinh tử, tìm ra được con đường giải khổ cho chúng sinh thoát luân hồi nghiệp báo: Sa môn Tất Đạt Đa vừa chứng quả VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC. Bấy giờ Ngài được 31 tuổi.

Sợ e thế gian không hưởng được giáo pháp vi diệu thậm thâm của Ngài, chư vị Phạm Thiên ở các từng trời đến chúc mừng đảnh lễ đức Phật, và xin ngài rao truyền giáo pháp cứu độ chúng sanh. Từ đây Thế Tôn rời bỏ cội bồ đề và tuyên bố: “Cửa vô sanh bất diệt đã mở ra cho chúng sinh để ai có tai muốn nghe và đặt lòng tin tưởng!

Và Ngài đã trở lại với loài người, 49 năm thuyết giáo khắp thung lũng sông Hằng, khêu đuốc tuệ cho chúng sinh còn đang mê muội.

Đến đầu thế kỷ thứ 5 trước Tây Lịch, trong vườn cây gần thành Câu thi La; ngài Nhập Diệt, thọ 80 tuổi.

Hai đại đệ tử, A Nan và Đại Ca Diếp bạch Thế Tôn xin có điều gì căn dặn; Ngài dạy: “Khi ta nhập diệt, hãy lấy giới luật làm thầy. Tuân theo chánh pháp mà tu, giữ gìn giới luật mà sống thì Như Lai lúc nào cũng ở bên cạnh.


II.- Giáo Lý Đạo Phật:

Không như Thiên Chúa Giáo, giáo lý chỉ ở trong Kinh Thánh Cựu và Tân Ước. Giáo lý đạo Phật đều trong Tam Tạng Kinh Điển: Kinh, Luật, Luận rất phong phú uyên thâm. Bỏ suốt cả đời người cũng không thể đọc hết Tam Tạng Kinh điển đạo Phật. Đến nỗi có một vị thiền sư đã viết:

Kinh điển ba nghìn tám vạn tư
Học hành không thiếu cũng không dư
Đến nay gẫm lại đều quên hết
Chỉ nhớ trong đầu một chữ “NHƯ

Bởi vì trong mở đầu kinh Phật luôn bắt đầu bằng câu: “Như thị Ngã Văn,”. . . nghĩa là “Ta nghe như vầy,” đây là lời của hai vị An Nan, Đại Ca Diếp khi kết tập kinh điển sau các lần hội tăng chúng.

Nay xin nói đôi điều cốt yếu giáo lý của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật:

Nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước biển” – (Khế Kinh). Mỗi cuộc sống đều phải chịu trong vòng tứ khổ. Muốn giải được, chúng sinh phải: Tri Khổ, Đoạn Tập, Chứng Diệt, và Tu Đạo. Bốn điều này gọi là Tứ Diệu Đề hay Tứ Thánh Đế.

1/ KHỔ ĐỀ: Sinh khổ, Bịnh khổ, Lão khổ và Tử khổ . . .

2/ TẬP ĐỀ: Vì phiền não mê lầm tạo nghiệp tác nhân. Gây hậu quả khổ. Do Tham (ham muốn ưa thích bất chính), Sân (nóng giận), Si (mê mờ, không sáng suốt phân biện phải quấy, thiện ác. Tham Sân Si, còn gọi là Tam độc.

3/ DIỆT ĐỀ: Dứt hết khổ quả và tập nhân (Khổ đề và Tập đề). Tập nhân và phiền não diệt hết, khổ quả luân hồi cũng không còn, ắt chứng được đạo quả. (Kinh Nhân Quả)

4/ ĐẠO ĐỀ: Đường chính đạo người tu phải theo. Đây là điều trọng yếu. Giữ chính đạo mới làm chủ được mình, mới tự giác được. Chân chính mới sáng suốt, mới phá nổi vô minh – nguồn gốc của khổ đau.

Đường Chính đạo ấy gọi là Bát Chánh Đạo.

BÁT CHÁNH ĐẠO gồm:

1/ Chánh Kiến: Xem xét ngay thực, không xen tà kiến.

2/ Chánh Tư Duy: Tư tưởng ngay thực, không làm sai chơn lý.

3/ Chánh Nghiệp: Làm ăn ngay thực, không gian ác bạo ngược.

4/ Chánh tinh tiến: Mãi tiến tới, không để điều tà mỵ cản bước tiến thủ.

5/ Chánh Mạng: Sống đời ngay thực, trong sạch, nhân nghĩa đạo đức.

6/ Chánh Ngữ: Nói lời thành thực, không xảo mị

7/ Chánh Niệm: Luôn tưởng điều ngay, không để ý việc phi lý dị đoan.

8/ Chánh Định: Suy ngẫm ngay thực, không xao loạn tâm trí

Để ý: Khi cúng Chẩn tế Âm Nhân, chúng ta thường nhớ đọc trong Kinh Giải Oan (Kinh Tận Độ):

.. . . Tứ Đạo Đề là chỗ chơn tu,
Tu hành phải rõ công phu,
Trong trường Bát Chánh mau hầu xét suy.
Nào Mạng, Định, Tư Duy, Tinh Tiến,
Nghiệp, Niệm
cùng Chánh Kiến Ngữ ngôn,
Nhớ vâng lời dạy Thế Tôn . . .



III – Đức Phật Thích Ca trong Đạo Cao Đài:

Tiêu ngữ: Tam Giáo Quy Nguyên Ngũ Chi Phục Nhứt; Đức Thích Ca Như Lai chủ về Phật Đạo trong Ngũ Chi của Cao Đài: Phật, Tiên, Thánh, Thần, Nhân.

Đọc lại trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển:

Ngày 8-4 năm Bính Dần 1926;

Thích Ca Mâu Ni Phật,
Chuyển Phật Đạo, Chuyển Phật Pháp. Chuyển Phật Tăng Quy Nguyên Đại Đạo. Tri hồ chư chúng sinh?
Khánh Hỷ! Khánh Hỷ! Hội đắc Tam Kỳ Phổ Độ; Chư Thần Thánh Tiên Phật đại hỷ, phát đại tiếu. Ngã vô lự Tam đồ chi khổ. Khả tùng Ngọc Đế Cao Đài Đại Bồ Tát Ma Ha Tát
.“ (TNHT I, 14)

Bài giáng cơ chữ Nho trên dịch ra Việt ngữ sau đây:

Thích Ca Mâu Ni chuyển Phật Đạo, Phật Pháp, Phật Tăng quy nguyên Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Chư Thần Thánh Tiên Phật quá mừng phát ra tiếng cười lớn.
Ta không còn lo lắng về ba đường luân hồi khổ sở. Khá tùng theo lời dạy của Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế, gọi là Cao Đài Đại Bồ Tát Ma Ha Tát

Đức Phật Thích Ca còn giáng cơ ban hai bài kinh quan trọng: Kinh Đại TườngDi Lặc Chơn Kinh.

Hằng năm tại Tòa Thánh, Hội Thánh và các Thánh Thất trong nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đều có lễ lớn, tưởng niệm công đức của Ngài.


PHẦN GHI THÊM:

a/ Tứ Hoằng Đại Nguyện của Phật:

1- Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ.

2- Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.

3- Phật pháp vô lượng thệ nguyện học.

4- Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

Đức Ngô Minh Chiêu, vị giáo tổ của nền Tân Pháp Cao Đài Đại Đạo, diễn nôm rất tài tình Tứ Hoằng đại nguyện này ra thơ lục bát, dán ở đơn phòng để thường ngâm đọc:

MỘT là sanh chúng hằng hà
Dốc lòng cứu độ lòng ta thệ nguyền.
HAI là phiền não nối chuyền
Nguyện thề đoạn tuyệt như thuyền ra khơi.
BA là học đạo chiều mơi
Pháp mầu sâu nhiệm thảnh thơi có ngày
BỐN là Phật đạo cao dày
Quyết thành chánh quả mới tày chí ta.



b/ Phật Ngôn (Trích)

Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật thuyết (Kinh Pháp Cú)
Không làm điều ác, thực hiện các hạnh lành, giữ tâm ý trong, đó là lời chư Phật dạy.

Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ thanh âm cầu ngã thị nhơn hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai (Kinh Kim Cang)
Lấy sắc tướng để thấy ta, lấy thanh âm để cầu ta, là kẻ hành tà đạo, chẳng thể nào thấy được Như Lai.

Thị dĩ chúng sanh giai hửu Phật TánhMọi chúng sanh đều có tánh Phật.

Tứ Vô Lượng Tâm: TỪ BI HỈ XÃ, Từ năng dữ lạc, Bi năng bạt khổLòng Từ mang niềm vui đến cho chúng sinh, lòng Bi diệt được mọi khổ đau.

Hãy nhìn thẳng mặt trăng, đừng nhìn lầm vào ngón tay của ta! (Đừng lầm lẫn giữa phương tiện và cứu cánh)
Những điều ta đã nói chỉ là nắm lá trong bàn tay, những điều ta chưa nói như lá trên rừng.

TA LÀ PHẬT ĐÃ THÀNH, CHÚNG SINH LÀ PHẬT SẼ THÀNH.


(Bài thưa chuyện trong dịp lễ Phật Thích Ca Thành Đạo Rằm tháng Tư Nhâm Thìn 2012 của Huỳnh Quốc Hân tại Thánh Thất Tacoma, WA)

Leave a Reply