TÍN – KÍNH – HÀNH

Feb 11, 12 | Tâm Duyên | 2,736 views | 2 Comments



Share |




IMG_1471Tín – Ở trên đời, bất cứ làm việc gì người ta cũng phải đặt lòng tin vào việc đó, thì việc làm mới đủ yếu tố thành công. Nếu đã làm một việc mà không đặt lòng tin vào việc, thì đó chỉ là hành động vô tình hay vô ý thức, dù có kết quả chăng cũng chỉ là sự ngẫu nhiên trùng hợp mà thôi.

Con người đứng trên mặt đất là một loài có tâm hồn có ý thức và có bản năng làm chủ mặt đất, cho nên con người phải hành động ý thức, phải đặt tin tưởng vào việc làm của mình, nghĩa là phải có đức tin.

Người đi buôn thì tự tin là sẽ kiếm được lời để giúp gia đình. Người trồng cây thì tự tin là sẽ lớn lên, sẽ đơm hoa kết quả. Người học trò thì tự tin là học hành sẽ tiến bộ và chắc chắn thành công.

Nói cách khác, người học trò mà có được tiến bộ và thành công là nhờ họ đã tin vào việc học của mình, nên mới hăng say chăm chỉ.

Người trồng cây mà có được trái ăn là nhờ họ đã biết đặt tin tưởng vào công phu trồng cây vun gốc của mình, nên mới bền chí gắng công.

Vững tin nơi việc làm thì việc mới có thể vượt qua được chông gai trở ngại, gian nan để tiến triển.

Ngày xưa khi Hưng Đạo Vương xua quân phá giặc Nguyên, lúc vượt sông, Ngài đã chỉ xuống sông mà nói rằng: “Trận này ta không phá được giặc thề sẽ không trở về đây.” Câu nói đó đã vận dụng được nghị lực của chính Ngài và tác động được niềm tin của ba quân, nhờ thế mà chiến trận nầy Ngài đắc thắng hoàn toàn.

Thái Tử Sĩ-Đạt-Ta, khi bắt đầu cuộc nhập định dưới cội bồ đề, Ngài đã nói rằng: “Nếu ta không đắc đạo, thề quyết chẳng đứng dậy khỏi nơi đây.”

Như vậy, đức tin của Ngài đã đặt vào câu nói đó. Và, đức tin ấy đã có một oai lực vô biên, xoi thông tâm khiếu và đã khiến cho Ngài thành công viên mãn.

Nay nói đến đức tin của chúng ta.

Là người tín đồ, khi chúng ta quì trước Bửu điện Chí-Tôn tất nhiên ai ai cũng đặt một niềm tin nơi Đức Thượng Đế rồi.

Tuy nhiên chúng ta cũng cần xác định niềm tin đó phải như thế nào, vì không phải chỉ riêng người tín hữu Cao Đài mới có đức tin về Thượng Đế và Thánh Thần Tiên Phật.

Người thế gian cũng đã tin Thượng Đế. Nhưng vì sao cái đức tin đó của thế gian từ lâu đã không có công dụng đưa người thế gian đến đạo quả?

Chúng ta khi đã khép mình vào đạo là cốt để mà tu, để mà chứng đắc đạo quả, để mà hóa giải thế gian nầy. Cho nên cái đức tin của chúng ta và của thế gian có thể đã khác nhau rất nhiều.

Người thế gian, khi đến dâng hương trước tượng Phật, lòng họ liền cũng dâng lên một niềm tin. Niềm tin ấy gói ghém trong sở cầu sở vọng của người ta về quyền lợi và vị kỷ.

Thật vậy, khi sấp mình trước Phật đài, họ lâm râm khẩn nguyện một sự phù hộ của Đức Phật để buôn may bán đắt, tài lợi dồi dào, hoặc mong Đức Phật độ cho gia đình bình an, con cháu học hành đỗ đạt.

Lắm người mỗi khi khăn áo sạch sẽ, lễ phẩm tốt tươi, mang đến miếu mạo lăng đền để khẩn nguyện, họ những mong được giải tỏa một tâm sự tơ vò.

Vì vậy, khi cúi đầu trước linh vị Thần Tiên, họ sẽ đem hết nỗi khổ tâm của họ về tình duyên, ân oán, gia cảnh, tai họa hoặc về quyền danh lợi lộc để mà giải bày, như là giải bày trước một đấng quân vương để cầu xin định đoạt và chờ mong một sự giải cứu tận tình.

Quả thật, đức tin của người thế gian đối với Thượng Đế với Thiêng Liêng chỉ quanh quẩn có như thế mà thôi.

Còn đức tin của hàng tín đồ Cao Đài khi sấp mình trước bệ thờ Chí Tôn tất nhiên phải khác biệt.

Người thế gian tin Thượng Đế, nhưng trong niềm tin của họ đã không nhận định được Thượng Đế là thế nào.

Một vạn người tin Thượng Đế, họ có quyền tưởng tượng và hình dung ra một vạn Thượng Đế khác nhau, cả về hình sắc, uy quyền và đức độ.

Nhưng với hàng tín hửu Cao Đài thì phải đặt niềm tin Thượng Đế của chúng ta trên một quan điểm Chân Lý và đồng nhất. Đó mới là điều hệ trọng. Thật vậy, Thượng Đế của chúng ta tin vốn không phải là Ông, không phải là Bà, không mang hình thù màu sắc của một dân tộc nào cả.

Thượng Đế là một bản thể vạn năng Thiêng Liêng tuyệt đối, uy quyền vô thượng. Thượng Đế ở giữa lòng mọi vật. Thượng Đế ngự trong tâm thể của loài người. Do đó, Thượng Đế là Tính thể Như Lai, là ngọn đền trí huệ, tự hữu hằng hữu và luôn luôn soi dẫn tâm linh của con người và của chúng sinh. Thượng Đế không thương riêng ai, không ghét riêng ai, không vì cầu xin mà ban phước, không vì vô lễ mà giáng họa.

Thượng Đế chính là nguồn gốc chân thật uyên nguyên của vũ trụ vạn vật, xuyên thông, thống suất và ngự trị tất cả muôn loài.

Vậy nên, chúng ta tin Đức Thượng Đế là Cha chung, là Đấng Toàn Tri Toàn Năng, bao trùm dưỡng dục và Chủ Tể vũ trụ.

Tất cả đó là đức tin chủ yếu của mọi người Cao Đài vậy.


IMG_1472Kính. – Kính, chỉ là tác động của lòng chí tín tận thành đó thôi.

Sau khi tín tâm đã được đặt đúng chỗ và đặt vững vàng chắc chắn rồi thì những ý niệm và hành vi trọng vọng mới bộc lộ hết vào nơi đó nên gọi là Kính.

Những cử chỉ nào có được ý nghĩa nêu cao tín tâm của người ta đến cao độ thì gọi là Kính.

Do đó, tín tâm càng vững chắc thì hành vi càng cẩn trọng kính thành.

Từ các lẽ trên, suy diễn ra, ta thấy lòng tin của người mà riêng tư mê vọng và tham cầu, thì đó là lòng tin không chơn chánh, gọi là “mê tín.”

Nếu là đức tin đã là mê tín, tất nhiên các động tác kính của người ta cũng hóa ra tà mị mà thôi.

Ngược lại, lòng tin của người mà cao thượng sáng suốt, tức là lòng tin chơn chánh thì gọi là “Chánh tín.” Nếu đã là chánh tín, tất nhiên các động tác Kính của người ta cũng thành ra chơn thật cao cả.

Còn những hành động mơ hồ, những cử chỉ dể duôi, khinh lờn thì không thể nào chứng minh được cho lòng tin chân chính và thành thật.

Những người thiếu đức tin chân chính như thế đều là hạng dễ bị lôi cuốn theo dòng thụ cảm của thế gian để rồi mai một trong bể nghiệp thành sầu.

Tất cả đó đều bởi không đủ tín thành và không có hành động chí kính vậy.

Vì thế, người tu đã có một niềm chánh tín thì chánh tín phải được thể hiện qua cái cử chỉ chí kính và tận thành.

Thật vậy, kính là cử chỉ phải có của người tu. Có kính mới có thể bảo vệ lòng tin của mình và còn nuôi dưỡng được lòng tin cho người đồng đạo.

Có truyền thuyết rằng: Thời xưa ông Thiện Huệ tự cởi áo đang mặc đem trải xuống đường, còn xả tóc trên đầu đem lót che đất ướt để có lối sạch cho Phật Nhiên Đăng đi qua, đó là một hành vi chí kính chí thành vậy. Hành động như thế chỉ được biểu lộ khi tín tâm đã phát hiện trước Đấng Chí Tôn. Niềm tin đó đã khiến cho ông Thiện Huệ về sau đạt thành Chánh quả và truyền nối đức tin cho người đời.

Đã tin mới nhận, đã nhận thì phải kính. Có kính có tín, mới đẩy ý chí của mình cho đến thành công kết quả được.

Không ai buộc mình phải tin. Lòng tin thoạt đầu là một khởi niệm. Do đó, không ai buộc mình phải nhận. Mình nhận là do mình đã nguyện, mình nguyện là do mình đã tin. Nếu đã tin đã nhận mà không dốc kính dốc thành thì nghị lực phải đổ vỡ, tâm chí ắt lung lay.

Vậy, Tín và Kính tuy là hai hiện tượng nhưng vốn cùng chung một tính chất.


IMG_1476Hành. – Ngày xưa có một đạo sĩ đương tĩnh tọa dưới gốc cây, bỗng ông ta trông thấy một vị Sa môn đi qua. Ông ta liền hỏi: “Ông đi đâu đó?” Vị Sa môn trả lời: “Ta định đi lên tìm chư Thiên để hỏi thăm đến bao giờ thì ta đắc thành chánh quả?” Ông đạo sĩ liền nói rằng: “Vậy luôn tiện tôi nhờ ông hỏi giúp cho, tôi ngồi tu tại đây cho đến bao giờ thì trút bỏ hết nghiệp chướng?” Ông Sa Môn nhận lời.

Sau một thời gian vị Sa Môn trở về. Đạo sĩ liền đón hỏi xem kết quả. Vị Sa Môn trả lời rằng: “Chư Thiên bảo, ông phải tu thêm 10 kiếp nữa thì mới thành đạo.” Nghe vậy, Đạo sĩ liền giũ áo đứng dậy mà rằng: “Thế thì lâu quá? Thôi ta không tu nữa đâu.”

Vị Sa Môn lại đi thêm một đoạn đường nữa, lại có thêm một đạo sĩ khác đón hỏi: “Xin Thầy xem giúp, tôi còn phải tu bao nhiêu kiếp nữa thì thoát nghiệp luân hồi?” Vị Sa Môn ngắm nghía hồi lâu rồi chỉ lên tàng cây mà rằng: “Người còn phải tu thêm một số kiếp nhiều bằng số lá trên tàng cây kia thì mới giải thoát nghiệp sinh tử luân hồi.”

Ông đạo sĩ vừa nghe xong, bỗng tỏ ra mừng rỡ và la lớn lên rằng: “Quả nhiên ta có phúc lớn? Chỉ còn phải tu bằng ấy kiếp nữa mà thành đạo, thật là quá mau!”

Đoạn ông đạo sĩ quỳ xuống, hành lễ tạ ơn, rồi tiếp tục tọa thiền nhập định. Ngay từ giờ phút đó, ông đạo sĩ bỗng cảm thấy lòng mình nhẹ bỗng, trí huệ mở bừng, dọn đường cho sự thành đạo.

Vậy “kính” “tín” là giai đoạn khởi đầu, cần phải có “hành” mới mong đi đến thành công chung cuộc. Hành là thực hành, là làm. Làm bằng tất cả tín tâm nghị lực và khả năng tinh tấn của mình.

Nhưng phải làm đúng, làm chính, làm bền bỉ, dẻo dai và chân thực. Làm không thối chí ngã lòng. Làm không bán đồ nhi phế. Làm không dục vọng mơ hồ. Làm không tham cầu miễn cưỡng. Làm không co kéo, làm mà như không làm gì hết. Đó là làm trong cái đạo Vô Vi. Đó là tu pháp Vô Vi vậy.

Bởi vì, tu là sửa lời nói, sửa hạnh làm, coi chừng cái cử chỉ, xét nét cái hành vi của mình để mà trì kéo cái ý hướng và thu giữ tâm cơ lại.

Tu là cảnh tỉnh tri giác, dứt khoát tư lự, thu nhóm tâm thức, minh mẫn chơn thần, tinh tấn bền chặt trong sự vắng lặng vô ngại, để cho tâm an trụ. Tâm có an trụ được thì mới mong thấu suốt được vào chỗ sâu kín tàng ẩn của chư cảnh giới để tìm sự tỏ ngộ.

Vậy, đến chùa cũng tu, ở nhà cũng tu. Ở sở làm cũng tu. Lúc nằm ngồi đi đứng cũng tu. Ban ngày ban đêm cũng tu. Nơi náo nhiệt ồn ào cũng tu. Nơi yên lặng tĩnh mịch cũng tu. Với cảnh hiền cũng tu. Nhằm cảnh dữ cũng tu. Hạnh tu phải thường có. Lòng tu phải nhất thiết. Vượt qua mọi cam khổ, giải tỏa mọi vướng mắc chuyên nhất giữ cho tâm giới thanh tịnh, sáng suốt và vắng lặng như không còn sinh và không còn diệt.

Mặt nước phẳng, gió thổi qua nước liền nổi sóng. Hết sóng, thì nước trở lại cái thể bằng lặng. Sóng lặng càng mau, nước lặng càng mau.

Tâm cũng vậy, khi Thức khởi thì lòng động trùng trùng. Thức tan thì lòng lắng.

Biết làm sao cho Thức mau tan, thì tâm càng mau lắng. Giữ cho Thức đừng khởi thì Tâm bằng lặng. Làm được như thế thì gọi là tu. Nếu công phu tu hành mà được như vậy thì chắc giờ phút nào cũng phải tu. Không tuổi tác nào hay trình độ nào mà khỏi tu, và bất cứ ở chỗ nào cũng tu được.

Tu chừng nào mà tâm vắng lặng và trở về cái thể Chơn như bình đẳng, nhưng vẫn tiếp tục duy trì bền chặt mãi mãi trạng thái đó thì tức là ta đang trên đường đi đến thành công.

Những khi quì gối trước bệ Chí-Tôn, ta hãy định Khí thu Thần để nhìn thẳng vào Thánh tượng Thiên Nhãn.

Nhìn vào Thiên Nhãn mà niệm Thượng Đế.

Phép niệm nầy nên liên tục lâu dài không ngập ngừng dứt đoạn. Niệm Thiên Nhãn như thế sẽ nhóm hội được tư duy, thu nhiếp được vọng tưởng và hóa trừ được chư Thức.

Nhìn được chừng một khắc thì hình bóng Thiên Nhãn sẽ gắn liền với tâm thần và rồi Thiên Nhãn sẽ là cảnh giới chủ yếu để cho tâm thần nương tựa. Lúc đó hãy nhắm mắt lại, níu vững lấy cảnh giới, cố không cho thần trí rung chuyển, ý niệm mơ màng. Nghĩa là tâm thần ý trụ vững chắc trong cảnh giới đó. Đến khi nào thấy bóng Thiên Nhãn phai mờ thì lại mở mắt ra nhìn lại.

Đó là phép Hành niệm, mà Thiên Nhãn là đề mục. Nếu phép niệm mà đi đến thuần thành vững chắc tức là thành công, thì bấy giờ mới tiến đến giai đoạn nhập định.

Tóm lại, có niệm mới trụ, có Tu mới chứng. Đó là lời dẫn chứng quyết định, qui luật của thực hành, là yếu tố chính của công trình tu học.

Mọi phương tiện mọi nghi thức của tôn giáo đều cốt làm cho việc tu hành chóng thành tựu.

Kết luận. Tín, Kính, Hành là 3 yếu tố quyết định của người tu, không nên lần lựa hay thiếu sót.

Ráng nhớ lời dạy cuối cùng của Phật Thích Ca trước khi nhập diệt là:

Hãy tinh tấn lên để giải thoát.”

Huệ Minh

TỨ VÔ LƯỢNG – TỨ DIỆU ĐẾ
THÂN – TÁNH – TÂM
TU TẬP – BÁT CHÁNH ĐẠO CON ĐƯỜNG GIÁC NGỘ
THƯỢNG ĐẾ LÝ TÁNH
Ý NGHĨA & GIÁ TRỊ MỘT ĐỜI NGƯỜI
ĐỨC TIN VÀ THƯỢNG ĐẾ


Comments (2)

 

  1. Lê Thanh Tuấn says:

    chào chư huynh tỷ, em góp ý wedsite tí.
    huynh tỷ nên tạo forum cho các đạo tâm vào đó cùng chia sẽ những điều tâm đắc và những kiến thức về tôn giáo của mình
    Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát

  2. Tâm Duyên says:

    Cảm ơn Huynh Tuấn đã góp ý, một mình Tâm Duyên không thể làm nhiều việc cùng lúc được, có thời gian TD sẽ xem việc thành lập forum sau nhé.

    Kính,

    Tâm Duyên

Leave a Reply