DIỆU NGHĨA BÀI KINH THÍCH GIÁO BỬU CÁO

Aug 15, 11 | Tâm Duyên | 2,531 views | No Comments



Share |




ADiDaPhat3



DIỆU NGHĨA BÀI KINH




Bài kinh nầy thuộc “Tâm Kinh” dạy về Nguyên Lý Phật Đạo trong thời kỳ Phổ Độ lần thứ Ba nầy.

Bài kinh tôn vinh Đấng đã sáng lập Đạo Phật đầu tiên, đồng thời cũng dạy cho người tu hành những bí yếu trong việc tu luyện để đạt tới cứu cánh giải thoát.

Danh hiệu của Đấng lập ra Phật Đạo đầu tiên là “Nhiên Đăng Cổ Phật”. Suy nghiệm lời kinh, mà nhứt la giải thích danh xưng nói trên, chúng ta rõ biết đó là một tá danh của Thượng Đế.

Người đời hay dung cái biết của phàm trí mà suy luận, cho rằng Đạo nầy cao,Đạo kia thấp, Đạo kia chánh, Đạo nọ tà. Làm như vậy là họ tự đóng khung vào một thành kiến giáo lý nào đó, rồi sanh ra óc kỳ thị Tôn Giáo, chia phe rẽ phái, phủ nhận Chơn Lý đại Đồng, Vạn Giáo Nhứt Lý.

Thời kỳ nầy Thượng Đế mượn linh cơ diệu bút minh xác cho nhơn loại biết rằng: Tất cả Tôn Giáo trên thế gian này đều do chính tay Ngài lập ra cả. Tùy theo thời kỳ, tùy theo trình độ của nhơn sanh mỗi nơi mà Ngài ban cho một hình thức Giáo Lý thích hợp.

Xin hãy nghe lời Thượng Đế dạy sau đây:


(1). – “Một Chơn Thần Thầy mà hóa sanh thêm chư Phật, chư Tiên, chư Thánh. Chư Thần, và toàn cả nhơn loại trong Càn Khôn thế giái, nên chi các con là Thầy, Thầy là các con.

Như kẻ bên Phật Giáo hay tặng Nhiên Đăng là chưởng Giáo, Nhiên Đăng vốn sanh ra đời Hiên Viên Huỳnh Đế.

Người gọi Quan Âm là Nữ Phật Tông, mà Quan Âm vốn là Từ Hàng Đạo Nhơn biến thân. Từ Hàng lại sanh ra lúc Phong Thần, đời nhà Thương.

Người gọi Thích Ca Mâu Ni là Phật Tổ. Thích Ca vốn sanh ra đời nhà Châu.

Người gọi Lạo Tử là Tiên Tổ Giáo, thì Lão Tử cũng sanh ra đời nhà Châu.

Ngưới gọi Jesus là Thánh Đạo Chưởng Giáo, thì Jesus lại sanh ra nhằm đời nhà Hớn.

Thầy hỏi vậy chớ ai sanh ra các Đấng ấy?

Khí Hư Vô sanh ra có một Thầy, còn mấy Đấng kể đó, ai sanh? Ấy là Đạo, các con khá biết.

Nếu không Thầy thì không có chi trong Càn Khôn thế giái nầy, mà nếu không có Hư Vô chi Khí thì không có Thầy…


(2). – “…Khai Thiên Địa vốn Thầy, sanh Tiên Phật cũng Thầy. Thầy đã nói Một Chơn Thần Thầy mà biến ra Càn Khôn thế giái và cả nhơn loại. Thầy là chư Phật, chư Phật là Thầy. Các con là chư Phật, chư Phật là các con. Có Thầy mới có các con, có các con rồi mới có chư Thần Thánh Tiên Phật. Nên Thầy khai Bát Quái mà tác thành Càn Khôn thế giái, nên mới gọi là Pháp. Pháp có mới sanh Càn Khôn vạn vật, rồi mới có Người, nên gọi là Tăng.

Thầy là Phật, chủ cả Pháp và Tăng, lập thành các Đạo mà phục hồi các con hiệp một cùng Thầy.

Thầy lập Phật Giáo vừa khi khai Thiên lập Địa, nên Phật Giáo là trước kế Tiên Giáo, rồi mới tới Nho Giáo…


(3). – Trong nhiều bài Thánh Giáo Thầy có dạy:

Phật Trời, Trời Phật cũng là Ta,
Nhánh nhóc chia Ba cũng một Già,
Thích, Đạo, Gia Tô, tay chưởng quản;
Thương dân xuống thế độ lần Ba.

Trên trời làm Chủ một mình Ta,
Nhánh nhóc chia Ba cũng một Già,
Phải mượn nhiều ngôi mà giáo Đạo;
Xét coi cho kỹ có ai mà?



Tóm lại, mỗi khi tụng đọc bài “Phật Giáo Chí Tâm Kinh” ta nên lãnh hội diệu nghĩa của nó, hầu hành Đạo cho đúng Chơn Lý, và đinh ninh rằng, dù Đạo nào cũng từ một gốc “Tạo Hóa” mà ra, và gốc đó là Thượng Đế Chí Tôn. Không nên kỳ thị, chia rẽ Đạo nầy, Đạo kia, Đạo nọ mà mang tội.

Điều cần nhứt cho người tu hành là: Đọc kinh phải hiểu nghĩa để mà hành chớ không phải tụng đọc suông mà không hành theo lời kinh dạy. Như vậy việc tụng kinh mới hữu lý và lợi ích.

* * * * *



DIỄN NÔM THEO THỂ LỤC BÁT



Kể từ hỗn độn sơ khai,
Càn Khôn Chủ Tể, Một Thầy hóa sanh.
Gom trong Nhứt Khí vận hành,
Ba ngàn thế giái mối manh chủ quyền.
Trần hoàn hạ giới mối giềng,
Hai tay cầm giữ máy Thiên không rời.
Huệ Đăng chiếu diệu đời đời,
Hằng soi ba sáu (36) cung Trời minh quang.
Lưu thong Đạo Pháp mở mang,
Chín mươi hai (92) ức nguyên nhơn mê mờ.
Đạo Cao Vô Cực Đồ Thơ,
Hư Không linh diệu, thiên cơ dạy rành.
Nhã hơi thành khí khinh thanh,
Làm trụ chống vững Trời xanh an hòa
Hóa kiếm thành thước, phân ba,
Chống vững giềng Đất, trần la vững vàng.
Công sánh Thái Cực huy hoàng,
Mở tung Nhứt Khiếu Huyền Quan khai đường.
Huờn hư, chơn tánh thuần dương,
Tam Tài thống lãnh, kỷ cương bao gồm.
Ân huệ nhuần gội cao thâm,
Độ nhơn tế chúng muôn năm vô cùng.
Đại bi, đại nguyện mênh mông,
Đại từ, đại thánh, rộng lòng xiết bao.
Tiên Thiên Chánh Đạo tối cao,
Nhiên Đăng Cổ Phật một màu huyền linh.
Vô Vi Xiển Giáo cao minh,
Thiên Tôn cảm ứng lòng tin chí thành.

Nam Mô Nhiên Đăng Cổ Phật
Vô Vi Xiển Giáo Thiên Tôn


* * * * *



GIẢI THÍCH BÀI KINH THEO Ý ĐẠI THỪA (HUYỀN NGHĨA)




1. – Hỗn độn Tôn Sư, Càn Khôn Chủ Tể:

Trong nhơn thân Tiểu Thiên Địa có một bộ máy vận hành như Vũ Trụ Đại Thiên Địa bên ngoài. Làm chủ sự vận hành đó là Chơn Thần (Tôn Sư). Điểm tựa của sự vận hành đó là Thượng, Trung, Hạ Đơn Điền, trên dưới Càn Khôn. Trong khi vận hành mà vô ý thức thì gọi là hỗn độn. Lúc công phu vận hành mà có ý thức thì gọi là Chủ Tể do Chơn Thần làm chủ.

Con người được mang danh Thiên Hạ,
Vì nhơn thân có cả diệu mầu,
Máy linh vũ trụ tóm thâu;
Ngũ Hành, Tam Bửu, kém đâu Đất Trời.
Thân người có ba ngôi Thái Cực,
Thượng, Hạ, Trung, lãnh vực đơn điền,
Họ là hỗn độn huyên nguyên;
Vì chưa nắm được bổn nguyên vận hành.
Khi học Đạo hiểu rành nguyên tắc,
Dụng Chơn Thần chế khắc Âm Dương
Luyên phanh bộ máy hằng thường;
Người là chủ tể, dễ nhường tôn sư.


* * * * *



2. – Qui thế giái ư nhứt khí chi trung. Ốc trần huờn ư song thủ chi nội:

Nhơn thân là một Tiểu Thế Giới. Vũ trụ vận hành đều do một Khí lưu hành. Bên tron một Khí lưu hành, nhứt hô, nhứt hấp, một ra, một vào, một lên, một xuống, một vãng, một lai, một xuất một nhập.

Cõi trần hoàn được nắm chặt trong tay. Vũ trụ vận hành do Thái Cực làm chủ. Con người hai bàn tay nắm cả thiên địa vạn vật, Thái Cực, Âm Dương rồi. Hai bàn tay chấp lại, khi bắt ấn Tý, lấy dấu và lạy đã tượng trưng cho cái lý đó. Trong bàn tay đều nắm hết Thập Thiên Can và Nhập Nhị Địa Chi rồi.

Thân tứ đại tuy từ nhục thể,
Nhưng thọ nơi Thượng Đế Khí linh,
Âm Dương, Tạo Hóa thần hình;
Thế nên đồng thể bẩm sinh như Ngài.
Trời sáng tối, chiều mơi, nhựt dạ,
Trời bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông,
Đều do một Khí lưu thông;
Vận hành luân chuyển khắp trong vũ hoàn.
Người một Khí tạo đoan Tánh Mạng,
Mà xác hồn mới đặng đề cao,
Khí kia hô hấp ra vào;
Vãng lai, lên xuống, có nào kém hơn.
Trời nuôi dưỡng trần huờn một Khí,
Lưởng Nghi kia là ví hai tay,
Âm Dương. Tiêu trưởng, đêm ngày;
Đều do Thái Cực an bày chuyển luân.
Người thì có Chơn Thần, Tâm Thức,
Làm chủ ngôi Thái Cực nhơn thân,
Hai tay nắm trọn thời thần;
Thập Thiên Can, Thập Nhị phần Địa Chi.
Hai tay chấp đúng ni khuôn mẫu
Khi cúng thời lấy dấu làm căn
Niệm Nam Mô Phật, Pháp, Tăng;
Thiên Tý, Địa Sửu, Người Dần là đây.


* * * * *



3. Huệ Đăng bất diệt, chiếu tam thập lục thiên chi quang minh:

Khi công phu vận hành thì Thần phải bám sát Khí luân lưu nội tại không rời ra, gọi là “Huệ Đăng bất diệt”. Đèn đó là lửa, là hỏa, mà hỏa trong thân người là Chơn Thần đó, là tư tưởng đó. Thần soi đến đâu thì Khí theo đến đó, mà Thần Khí tức là Âm Dương đó. Hễ Thần bền thì Khí vững, Khí vững thì Thân an, tâm não sáng suốt, chiếu khắp 36 cõi trời. Nơi đây ám chỉ trong người có Tâm và Thận cách nhau 10 tấc 8 phân: Tâm cách Giáng cung 3 tấc 6 – Giáng Cung cách Huyền Quang 3 tấc 6 – Hyền Quang cách Thận 3 tấc 6. Tổng công ba cái 3 tấc 6 thành ra 10 tấc 8 phân. Tiếng lóng, đường đi Tây Phương là mười muôn tám ngàn dặm là đây.

Đèn huệ ví Tâm nầy đừng tắt,
Thời công phu bám, sát Khí Thần,
Xuống lên, ngưng tụ, huân chưng;
Gọi là bất diệt thì thân mới bền.
Thần dẫn khí xuống lên chu đáo,
Chiếu sáng soi băm sáu (36) cung trời,
Giáng cung, Tâm, Thận, ba nơi,
Mỗi ba tấc sáu, chẳng dời , chằng sai.
Ấy tiếng lóng cõi ngoài Trời Đất,
Phải hiểu rằng ấy thật nội thân,
Nhơn ba tấc sáu, ba lần;
Sẽ ra mười tấc tám phân rõ rang.
Xưa Huyền Trang Tây Phang cầu Phật,
Trải mười muôn dặm đất tám ngàn,
Nay ta thiền định tâm an,
Chỉ trong nháy mắt Tây Phang tới liền.


* * * * *



4. Đạo Pháp trường lưu, khai cửu thập nhị tào chi mê muội:

Thân thể người mà không biết tu, không có Thần soi chiếu thì giống như bị mê muội, tối tăm, u trệ. Nay biết tu luyện Đạo Pháp, có Thần soi chiếu khắp nơi, ấy là Đạo Pháp trường lưu. Thần soi chiếu đó mà toàn thân 92 ức tế bào đều được bồi dưỡng nuôi nấng.

Dòng Đạo Pháp luân liên chẳng nghỉ,
Ấy Chơn Thần, Chơn Ý sáng soi,
Trước đây bởi vì mê đời;
Để Thân u trệ thời thời tối tam.
Nay biết Đạo nên chăm sóc kỹ,
Dụng Chơn Thần, Chơn Ý khít khao,
Dụng công nội quán làm sao;
Chín mươi hai ức tế bào hồi sinh.
Xa bỏ phế không gìn, không giữ,
Mặc tình cho sanh tử mất còn,
Nay nhờ biết Đạo học khôn;
Phải lo tánh dưỡng tâm tồn mới nên.


* * * * *



5. Đạo cao vô cực, giáo xiển hư linh:

Đạo Pháp cao siêu khôn cùng, bởi không hình bóng. Nhưng nhờ tâm truyền mà tự mỗi hành giả tu luyện thì sẽ thấy ấn chứng linh nghiệm của Đạo Vô Vi đó.

Tuy Đạo Pháp mênh mông cao thượng,
Tâm truyền tâm chú tưởng thực hành,
Lâu ngày Đạo đã pháp sanh;
Sanh trong trầm mặc, đắc thành không hay.
Sự chỉ giáo cách nầy, cách khác,
Hoặc đi nhanh về tắt ngỏ đường,
Chuyên tâm là Đạo hằng thường;
Có tu có chứng, dễ nhường chi ai.
Chớ đừng nói phương nầy đốn tiệm,
Rồi phóng tâm vọng niệm đảo điên,
Nhọc nhằn lặn lội sơn xuyên;
Lông rùa, sừng thỏ, biết huyền đâu ra.


* * * * *



6. Thổ khí thành hồng nhi nhứt trụ xanh thiên. Hóa kiếm thành xích nhi tam phân thác địa.

Công phu cấp nhị cơ vận châu thiên khai thông Nhâm Đốc mạch, tức khai thấu thiên địa vạn vật trong thân người, vì thế mới gọi là xang thiên, thác địa, cũng đều là một Khí đó mà thôi.

Nhã một Khí xuyên qua Đốc mạch,
Gọi xanh thiên chế phách dưỡng tâm,
Hấp vào khí hải mạch Nhâm;
Gọi là thác Địa tiếp lâm Hạ Kiều.
Cần phải có Thầy dìu Bạn dắt,
Pháp đại thừa tu tắt về nguyên,
Ấy là pháp vận châu thiên;
Khai thông Nhâm Đốc triều huyền Chí Tôn.


* * * * *



7. Công tham Thái Cực, phá nhứt khiếu chi Huyền Quan. Tánh hiệp vô vi thống Tam Tài chi bí chỉ:

Trong nhơn thân con người có ba chỗ quan trọng, đó là phía trước Tam Điền, phía sau Tam Quan. Mỗi chỗ là mỗi Thái Cực. Công phu nhờ Thần dẫn khí vào ba nơi đó để mà khai khiếu. Thần Khí tương hội vào nơi đó thì gọi là phá nhứt khiếu chi Huyền Quan.

Tam Tài là Thiên, ĐỊa, Nhơn, tượng trưng cho Tam Điền hay Tam Quan. Trong giờ công phu, dung Chơn Ý là Tánh của mình mà điều Thần dẫn Khí vào ba nơi đó. Tu vô vi không thấy, nhưng đó là chỗ bí yếu của sự tu luyện theo Tiên gia.

Thân người có ba đơn điền chánh,
Là Thượng, Trung, Hạ cảnh nhơn thân,
Mỗi nơi có trạm tụ thần;
Gọi là Thái Cực phải cần luyện tu.
Những thời khắc công phu tịnh định,
Khí nương thần tỉnh tỉnh mê mê,
Tìm nơi Thái Cực qui về;
Ấy Huyền Quan Khiếu nhứt tề khai thông.
Tánh hiệp Mạng huyền công bí quyết,
Tuy vô vi, chi xiết nhiệm mầu,
Tam Tài nào phải xa đâu;
Trời, Người, Đất, cũng là một bầu ấy ra.
Bởi Tam Tài chính là Ba Huyệt,
Thượng, Hạ , Trung, bí quyết Đơn Điền,
Khí Thần giao hội cố kiên;
Con đường phản bổn huờn nguyên chỗ nầy.


* * * * *



8. Đa thi huệ trạch, vô lượng độ nhơn:

Đã nhiều đời Ngài ra nhiều ân trạch như trời mưa chan rưới cho dân chúng gội nhuần. Đạo Pháp như mưa chan rưới.Tuy nhiên vạn vật thụ hưởng được nhiều hay ít đó là còn tùy căn cơ của mỗi vật, mỗi người.

Ơn Tạo Hóa an bày khắp chốn,
Do tâm người tiệm, đốn tiếp thâu,
Ví như mưa khắp hoàn cầu;
Hút nhiều ít nước, phải đâu tại Trời.
Mà do tại nơi người tiếp nhận,
Sấm hồ lu, hướng dẫn nước vào,
Nhược bằng : ve, chén, chậu, thau,
Sắt, cây, đá, sỏi, làm sao hút nhiều.


* * * * *



9. Đại bi, đại nguyện, đại thánh, đại từ. Tiên Thiên Chánh Đạo, Nhiên Đăng Cổ Phật Vô Vi Xiển Giáo Thiên Tôn.

Đức Nhiên Đăng Cổ Phật, nhờ cái lượng lớn như vậy, cho nên mới xứng đáng là bậc Thiên Tôn. Vậy con người muốn đắc đạo thì cũng phải tu cho có thiện hạnh đó như Ngài.

Phải đại thánh, với nhiều đại nguyện,
Phải đại từ, tinh tiến đại bi,
Lòng hằng thanh tịnh vô vi;
Khêu đèn từ huệ, linh tri kiền thiền.
Đó mới thật Tiên Thiên Chánh Đạo,
Đó mới rằng Xiển Giáo Huyền Môn
Hằng tu Tánh dưỡng Tâm tồn;
Nhiên Đăng Cổ Phật, Thiên Tôn chính mình.


* * * * *



CẢM TƯỞNG CỦA NGƯỜI DIỄN GIẢI




Con người là Tiểu Thiên Địa, có một nhơn thân rất quí giá. ĐÓ là một vũ trụ càn khôn thu hẹp. Nếu con người biết tu luyện, biết tận dụng khai thác bộ máy nhơn thân, tức là khai thác bộ máy Thiên Địa trong người, thì sẽ đắc Đạo.

Thánh xưa đã tu theo đó mà thành, và đã để lại cho hậu thế những kinh điển quí giá. Vì thế mà ta phải noi gương tiền nhân, bảo trọng nhơn thân, dùng nó vào Chánh Đạo, đừng hoang phí nhơn thân, hủy hoại cuộc đời một cách vô ý thức, làm cho linh hồn phải bị sa đọa. Nếu như vậy thì rất uổng cho một kiếp được làm người, đã có sẵn một kho tàng quí giá mà không biết dùng.

Người có một nhơn thân quí giá,
Sánh ngang hang Tạo Hóa, Quỉ Thần,
Có thân phải trọng lấy thân;
Nương đây để luyện thiên Chân sáng ngời.
Chớ lêu lỏng ăn chơi sa ngã,
Phí cuộc đời sa đọa nên chi,
Kho tàng, bảo ngọc vứt đi;
Uổng cho một kiếp đương vi làm người.
Cũng thân ấy biết giồi, biết luyện,
Từ nhục thân cải biến Kim Thân,
Vượt ngoài hỗn độn mê tân;
Phiêu diêu làm Thánh, làm Thần, Phật Tiên.



Kinh điển là phương khai tâm mở trí trong các thời cúng tụng đọc để nung đúc đức tin và gợi cảm, hầu gieo cảm lực cùng các Đấng Thiêng Liêng. Nhưng kinh điển cũng có tác dụng về Đạo Pháp đại thừa như bài kinh nầy.

Tuy mượn lời xưng tụng Đức Nhiên Đăng Cổ Phật, kỳ thật nội dung bài kinh có ẩn tàng một bài giảng về Đạo Pháp đại thừa công phu tu luyện rất tuyệt diệu. Vậy người tụng đọc bài kinh nầy, hãy tìm hiểu thấu đáo nội dung, chớ không nên xem thường hay tụng suông mà bỏ phí công sức lâu ngày cúng lạy mà chẳng bổ ích gì cả.

Nếu miệng đọc muôn ngàn kinh kệ,
Mà tâm mình phóng để đâu đâu,
Tụng mà chỉ biết nguyện cầu;
Không lo tu sửa thì đâu ích gì.
Tụng kinh kệ, thực thi cho đúng,
Chẳng thực hành, trì tụng suốt đời,
Như vầy chẳng khác tu chơi;
Uổng công Thần, Thánh, Phật Trời dạy khuyên.
Tụng kinh biết chơn truyền Đạo Pháp,
Thì hãy mau kết nạp công phu,
Tri hành hiệp nhứt là tu;
Thoát vòng luân chuyển muôn thu vững bền.


Trích: Kinh Tam Giáo Nhựt Tụng Diễn Giải
Biên Soạn: Thiện Trung Nguyễn Xuân Liêm


DamSen


DIỄN GIẢI: KINH CHÚC TỤNG NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ
XƯNG TÁNG NGŨ NGUYỆN DIỄN CA
QUI TAM GIÁO
TỤNG KINH
HẰNG NIỆM DANH HIỆU THẦY
TẠI SAO LẠI LÀ “NGŨ NGUYỆN”?
Ý NGHĨA CỦA MỖI CÂU NGUYỆN TRONG “NGŨ NGUYỆN”
PHẦN PHỤ GIẢI “NGŨ NGUYỆN”
THÁNH GIÁO DẠY VỀ “NGŨ NGUYỆN”
LUẬN GIẢI: VỀ Ý NGHĨA, CÔNG DỤNG, VÀ XUẤT XỨ CỦA KINH NHỰT TỤNG TRONG ĐẠO CAO ĐÀI
NIỆM HƯƠNG NGHĨA LÀ GÌ?
GIẢI NGHĨA BÀI “NIỆM HƯƠNG”
GIẢI NGHĨA BÀI “KHAI KINH”

Tìm hiểu thêm: CHÚ GIẢI KINH CÚNG TỨ THỜI – THIÊN VÂN (HIỀN TÀI QUÁCH VĂN HÒA)


Leave a Reply