PHẬT GIÁO CHÍ TÂM KINH – THÍCH GIÁO BỬU CÁO

Aug 13, 11 | Tâm Duyên | 3,824 views | No Comments



Share |




ADiDaPhat2



PHẦN HÁN VĂN:

Hỗn độn Tôn Sư
Càn khôn chủ tế
Qui thế giái ư nhứt khí chi trung
Ốc trần hườn ư song thủ chi nội
Huệ đăng bất diệt
Chiếu tam thập lục thiên
Chi quang minh
Đạo pháp trường lưu
Khai cửu thập nhị tào chi mê muội
Đạo cao vô cực giáo xiển hư linh
Thổ khí thành hồng
Nhi nhứt trụ xanh thiên
Hóa kiếm thành xích
Nhi tam phân thác địa
Công tham Thái Cực
Phá nhứt khiếu chi Huyền Quan
Tánh hiệp vô vi
Thống tam Tài chi bí chỉ
Đai thi huệ trạch
Vô lượng độ nhơn
Đại bi đại nguyện
Đại thánh, đại từ
Tiên Thiên Chánh Đạo
Nhiên Đang Cổ Phật
Vô Vi xiển giáo Thiên Tôn

DamSen



PHẦN THÍCH NÔM:


1. – Đấng Tôn Sư thời hỗn độn sơ khai
2. – Chủ Tể Càn Khôn thế giái
3. – Gom thế giái vào trong một Khí Hư Vô
4. – Nắm giữ cõi trần hoàn trong hai tay
5. – Đèn huệ soi đời đời không dứt
6. – Chiếu ba mươi sáu từng trời sang rỡ huy hoàng
7. – Đạo Pháp lưu thông như dòng nước chảy hoài vô tận
8. – Khai hóa 92 ức nguyên nhơn còn ở trong trạng thái mê muội
9. – Đạo cao không chỗ cuối cùng
10. – Dạy rõ ràng cái Hư Không linh diệu
11. – Nhã hơi thành Khí Hồng Nguyên làm cột trụ chống vững bầu trời
12. – Hóa bửu kiếm (Bửu Pháp) thành cây thước phân ra làm ba đoạn mà mở mang cõi Đất
13. – Công đức sánh bằng Thái Cực
14. – Phá vỡ Huyền Quan Nhứt Khiếu
15. – Thiên Tánh hườn hư hiệp khí hư vô
16. – Thống suất cả ba ngôi (Thiên Địa Nhơn),thống quản bí yếu cả ba cõi Trời Đất Người
17. – Ban ân huệ nhuần gội rất nhiều
18. – Cứu độ nhơn sanh vô lượng
19. – Tình thương bao la, nguyện lớn vô cùng
20. – Thánh đức mênh mông, lòng từ vĩ đại
21. – Chánh Đạo có trước khi lập ngôi Trời Đất
22. – Vị Cổ Phật hiệu Nhiên Đăng
23. – Đấng Thiên Tôn giáo hóa rộng lớn Đạo Vô Vi.

DamSen



CHÚ GIẢI DANH TỪ


Hỗn độn: Thời kỳ và trạng thái của bầu vũ trụ trước khi khai Thiên tịch Địa. Thời kỳ ấy, cả không gian ở trong trạng thái mờ mờ mịt mịt, không tối không sáng, không sanh không dưỡng. Âm Dương, Trời Đất chưa phân định. Lúc đó chưa có ai làm Chủ Tể trong vũ trụ. Vũ trụ chỉ là một bầu hư linh trống rỗng, gọi là thời kỳ Hỗn Nguơn, Hỗn Mang, hay là Hồng Mông (période chaotique).

Khoa học ngày nay chỉ phỏng định thời gian từ ngày hình thành Địa cầu cho đến nay là vào khoãng 4 tỷ 600 triệu năm, chớ không biết được thời gian từ khi khai Thiên tịch Địa cho đến bây giờ. Thật là vấn đề cao xa mầu nhiệm vượt quá trí khôn của con người.

Tôn Sư: bậc Thầy đáng tôn kính hơn hết

Càn Khôn: Hai quẻ trong Bát Quái tượng trưng cho Dương và Âm, hay là Trời và Đất.

Càn: là ngôi Tiên Thiên, ngôi Trời

Khôn: là ngôi Hậu Thiên, ngôi Đất

Nhứt Càn, nhị Khôn: là Nhị Nguyên

Trong kinh Chơn Giáo Thánh Truyền, Thầy có dạy như sau:

Từ Bàn Cổ sơ khai hỗn độn,
Khí Hư Vô hiệp trọn ngôi Trời,
Là ngôi “Thái Cực” tỏ ngời,
Lưởng Nghi sanh hóa phân rời Âm Dương.
Khí khinh thanh tuần dương nhẹ hỏng,
Hiệp Tiên Thiên bay bổng lên trên
Khí Âm trọng trược chẳng bền;
Hậu Thiên vi Địa nên liền lìa ngôi.
Ngôi Tiên Thiên phục hồi phẩm vị,
Là ngôi Càn cao quí vô cùng,
Hậu Thiên vốn thiệt quẻ Khôn;
Bảy hai (72) thế giới không trung xây vần.
Thượng Giới ba sáu (36) từng chọi vọi,
Cõi Tiên Thiên nhuần gội khí Dương,
Khí Âm bẩm thọ hơi Dương;
Âm Dương hiệp nhứt kiết tường Đạo sanh.

….

Hỗn độn Tôn Sư Càn Khôn Chủ Tể: Đấng Tôn Sư trong thời kỳ hỗn độn, Chủ Tể cả càn khôn vũ trụ.

Bài kinh này tôn vinh Đấng đã sang lập Phật Giáo, nhưng lại mở đầu bằng câu đề xướng Đấng ấy là “Bậc Thầy đáng tôn kính trong thời kỳ hỗn độn làm Chủ Tể cả càn khôn vũ trụ”. Như vậy ta phải ngầm hiểu rằng Đấng lập ra Phật Giáo đầu tiên là Thượng Đế.

Trong kinh Thiên Đàng Du Ký, Đức Thái Thượng Đạo Tổ có dạy rằng:

“… Kể từ thuở mênh mông mờ mịt chưa chia, Trời Đất còn là một khối hỗn độn, mặt trời, mặt trăng chưa phân, lúc đó khí Tiên Thiên vô tận. Phật Thánh Tiên hòa hợp chung cùng một thể, tỏa chiếu vô lượng hào quang xoay chuyển hư không được gọi là “Người trên cõi mịt mờ” (Huyền Huyền Thượng Nhơn) hay “Vua Trời thuở ban sơ” (Nguyên Thủy Thiên Vương). Bởi địa vị tối cao đó nên còn được kêu là “Thượng Đế” là thủy tổ của muôn loài vạn vật, hoặc là Cha Trời Mẹ Đất…

Theo lời dạy của Đức Thái Thượng Đạo Tổ trên đây trong thời kỳ hỗn độn chỉ có một Khí Tiên Thiên vô tận. Khí Tiên Thiên xoay chuyển tỏa chiếu vô lượng hào quang ba sắc “Phật Thánh Tiên” hợp thành một Đấng Thượng Đế.

Như vậy chúng ta có thể hiểu là “Nhứt Khí gồm Tam Thanh, Tam Thanh do Một Khí mà ra”.

Tam Thanh là “Phật Thánh Tiên” do Nhứt Khí Thái Cực mà ra. Như vậy ba ngành Phật Thánh Tiên chính do Thượng Đế phân lập ra, đúng như câu trong bài “Khai Kinh”: Một cội sanh Ba Nhánh in nhau.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Thầy cũng dạy:

… Khai Thiên Địa vốn Thầy, sanh Tiên Phật cũng Thầy. Thầy đã nói một Chơn Thần mà biến Càn Khôn Thế Giái và cả nhơn loại. Thầy là chư Phật, chư Phật là Thầy.

Các con là chư Phật, chư Phật là các con.

Thầy mới có các con, có các con rồi mới có chư Thần Thánh Tiên Phật.

Nên Thầy khai Bát Quái mà tác thành Càn Khôn thế Giái nên mới gọi là Pháp. Pháp có mới sanh Càn Khôn vạn vật rồi mới có Người, nên gọi là Tăng. Thầy Phật chủ cả Pháp và Tăng lập thành các Đạo mà phục hồi các con hiệp một cùng Thầy.

Thầy lập Phật Giáo vừa khi khai Thiên lập Địa, nên Phật Giáo là trước, kế Tiên Giáo rồi mới tới Nho Giáo…

Do lời Thầy dạy trên đây, chúng ta hiểu “Nhiên Đăng Cổ Phật” cũng là một tá danh của THẦY khi thành lập Phật Giáo nguyên thủy.

Có Thánh Giáo dạy rằng:

Lúc Trời Đất sanh cơ chưa hiện,
Lúc con người thân huyển chưa sanh,
Hư vô trống rỗng lặng tanh;
Đều do một Khí lưu hành mà thôi.
Một Khí ấy là ngôi Bát Nhã,
Rỗng lặng kia là quả Niết Bàn
Âm Dương Nhựt Nguyệt song quang;
Vô Cực, Thái Cực, hàm tàng nơi đây.
Bởi Nhứt Thể gồm hai Nguyên Bổn
Nên gọi rằng Hỗn Độn sơ khai,
Đến khi Trời Đất phân hai;
Nhiên Đăng Cổ Phật lúc nầy hóa sanh.


* * * * *



Qui thế giái ư nhứt Khí chi trung: Ngài gom ba ngàn thế giái vào trong một Khí Hư Vô, như thế đủ thấy Ngài chính là Chủ Tể càn Khôn vậy.

Nhứt khí chi trung: Thái Cực là Nhứt Khí trong Vô Cực

Thái Cực hàm chứa hai Nguyên Năng phân ra Lưởng Nghi là Âm và Dương.

Thái Cực cũng bao gồm ba sắc Thái phân ra Tam Thanh lập ra Ba Ngành Phật Thánh Tiên tương đương nhau, nhưng ba cách giáo dục và cứu độ khác nhau, chung qui cũng dẫn về một Chơn Lý tuyệt đối là Thượng Đế.

Thế giái: Tam thiên đại thiên thế giái, tất cả đều do Một Khí Chủ Tể gom vào trọn quyền chưởng quản.

* * * * *



Ốc trần huờn ư song thủ chi nội:

Ốc trần huờn: là hạ ốc thất thập nhị địa. Bảy mươi hai trái địa cầu ở cõi hậu thiên gom vào một hạ ốc.

Song thủ chi nội: Hai tay Nguyên Lý và Nguyên Khí hay là sức mạnh của quyền năng Âm Dương. Nhứt Âm nhứt Dương ví như hai cánh tay mầu nhiệm của Đấng Tạo Hóa, tạo tác muôn trùng, xây chuyển vô tận trong cả càn khôn vũ trụ nầy.

Đấng Hỗn Độn Tôn Sư, Càn Khôn Chủ Tể nắm trọn cõi trần hoàn trong hai tay, tức là bằng Quyền Pháp Âm Dương đặng sanh hóa, dưỡng dục và giáo hóc muôn loài.

Tiếp Thánh Giáo:

Nhiên Đăng ấy Chơn Linh vạn tượng,
Là nguồn đầu vô lượng chúng sanh,
Chỉ do Một Khí lưu hành;
Ẩn trong muôn vật, sanh thành dưỡng nuôi.
Nên mới gọi là ngôi “Thái Cực”
Thuở hồng mông độc nhứt tự sanh,
Vạn linh Tạo Hóa trưởng thành;
Ba ngàn thế giái ân lành rưới chan.
Khắp ba cõi trần hoàn nắm chặt,
Khắp mười phương Nam Bắc Đông Tây
Gom về nắm trọn trong tay;
Hai tay biểu tượng lưởng đài Âm Dương.


* * * * *



Huệ đăng bất diệt, chiếu Tam Thập Lục Thiên chi quang minh:

Huệ đăng bất diệt: Đèn huệ chiếu diệu, soi sáng đời đời. Ý nói là Khối Đại Linh Quang sáng suốt soi rọi vô cùng vô tận, cũng còn gọi là Đại Chơn Thần, Đại Từ Phụ, hay Đại Hồn.

Đại Từ Phụ chiết Đại Linh Quang sanh ra muôn loài vạn vật. Linh hồn của con người cũng là một chiết thân của Thượng Đế nên gọi là Tiểu Linh Quang hay là Tiểu hồn.

Người tu hành bày trí cách thờ phượng, để luôn luôn nhớ đến nguồn gốc Đại Linh Quang, tượng trưng bằng một ngọn đèn để giữa Thiên Bàn, gọi bằng nhiều tên:

- Vô Cực Đăng: ngọn đèn Vô Cực
- Thái Cực Đăng: ngọn đèn Thái Cực
- Thiên Đăng: ngọn đèn Trời
- Nhiên Đăng: ngọn đèn thiên nhiên muôn đời bất diệt

Trong vũ trụ vô cùng có ngọn “Huệ Đăng bất diệt” là Thái Cực đại Linh Quang.

Trong thân người cũng có ngọn “Huệ Đăng” tức là Tiểu Linh Quang trong Tiểu Vũ Trụ, được kêu bằng nhiều tên:

- Đèn Lương tâm
- Đèn Trí Tuệ
- Tuệ Giác hay Tâm Đăng
- Nguơn Thần hay Linh Hồn

Nếu con người biết phép tu luyện, khêu tỏ ngọn đèn ấy lên thì Tiểu Linh Quang sẽ phản bổn hồi nguyên trở về hội hiệp cùng khối Đại Linh Quang nơi cõi vô sanh bất diệt.

Bất diệt: đời đời hằng hữu và hiện hữu, không tận diệt, không chấm dứt, không hư hoại, trường tồn vĩnh cửu.

Một Đấng Thiêng Liêng đã giải thích sự bất diệt của Thượng Đế như sau:

- Thượng Đế bất diệt, nhưng cũng diệt luôn, vì định luật “Sanh, Trụ, Hoại, Diệt” nằm trong Chơn Lý. Thượng ĐếChơn Lý, thì định luật đó nằm ngay trong Thượng Đế. Thượng Đế chính là NÓ luôn, cho nên Thượng Đế phải mang trạng thái “Sanh, Trụ, Hoại, Diệt”.

Thượng Đế cũng có sanh có diệt, nhưng có điều Thượng Đế sanh ngay chỗ Ngài diệt. Ngay lúc Ngài diệt, Ngài lại sinh ra. Hai trạng thái sanh và diệt diễn ra cùng một lúc, cho nên thành ra không sanh không diệt là vậy.

Thượng Đế có sanh có diệt, mà không sanh diệt. Ngài là Đấng hiện hữu và hằng hữu đời đời, diệt mà bất diệt. Ngài là Chơn Lý tuyệt đối vậy.

Tam Thập Lục Thiên: là ba mươi sáu (36) từng trời cõi Thượng Giới nhuần gội khí Dương nhẹ nhàng trong sáng, gọi là cõi Tiên Thiên.

Thượng Giới ba mươi sáu (36) từng vọi vọi,

Cõi Tiên Thiên nhuần gội khí Dương

(xin xem lời giải về 36 từng trời trong phần giải bài kinh “Chúc tụng Ngọc Hoàng Thượng Đế”)

Tiếp Thánh Giáo:

Đèn Huệ chiếu hằng thường quá báu,
Nhựt Nguyệt soi băm sáu cung trời
Vạn linh hấp thụ vui tươi;
Dương Thần sưởi ấm thời thời minh quang.


* * * * *



Đạo Pháp trường lưu, khai cửu thập nhị tào chi mê muội:

Đạo Pháp như dòng nước chảy dài không dứt, mở mang soi sáng 92 ức Linh Căn xuống thế còn đương mê muội chưa thức tỉnh bản tâm.

Nguồn sinh ấy gọi rằng Đạo Pháp
Pháp trường lưu ban khắp nguồn lành,
Đạo mầu thức tỉnh chúng sanh;
Chính mươi hai ức Linh Căn xuống trần.
Bởi đắm tục mê tâm vạn đại,
Lịch kiếp còn khổ hải chưa về,
Tam Kỳ going trống giác mê;
Cho người giác ngộ quay về bổn nguyên.

Đạo Pháp: Phép tắc của Đạo tác động trên hai phương diện, như Đức LãoTử đã mô tả trong Đạo Đức Kinh:

: danh Thiên Địa chi thủy, nghĩa là cái “Không” là nguồn gốc của Trời Đất.

Hữu: danh vạn vật chi mẫu, nghĩa là cái “Có” là Mẹ đẻ của muôn loài.

Đạo Pháp: ở trong trạng thái vô hình gọi là “Vô Vi Pháp

Đạo Pháp: ở trong trạng thái hữu hình gọi là “Hữu Vi Pháp

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Thầy có dạy như sau:

… Thầy khai Bát Quái mà tác thành Càn Khôn Thế Giái nên mới gọi là “Pháp”. Có Pháp mới sanh ra Càn Khôn Thế Giái vạn vật rồi mới có Người nên gọi là “Tăng”.

Thầy là Phật, chủ cả Pháp và Tăng, lập thành các Đạo mà phục hồi các con hiệp một cùng Thầy…

Đoạn Thánh Giáo trên đây giải nghĩa quá rõ ràng hai chữ “Đạo Pháp”.


Khai cửu thập nhị tào chi mê muội: Khai hóa mở mang cho 92 ức nguyên linh còn ở trong trạng thái mê muội.

Theo Ngọc Lộ Kim Bàn thì Đức Diêu Trì Kim Mẫu sinh ra loài người, cho hạ trần 96 ức nguyên nhơn.

Thời kỳ Phổ Độ lần thứ nhứt, có 2 ức Nguyên Nhơn đắc Đạo trở về cõi Thiên Đàng. Qua đến thời kỳ Phổ Độ lần thứ hai, cũng có 2 ức Nguyên Nhơn được thành chánh quả trở lại ngôi xưa.

Hiện nay, thời kỳ Tam Kỳ Phổ Độ này, còn lại dưới trần 92 ức Nguyên Nhơn đang đọa lạc nơi song mê bể khổ.

Đức Di Lạc Thiên Tôn sẽ chưởng quản Tam Long Hoa Hội để độ dẫn 92 ức Nguyên Linh còn lại, qui hồi vị cũ.

Trong Thánh Giáo Sưu Tập của Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Cao Đài Giáo Việt Nam, kỳ đàn tại Trúc Lâm Thiền Điện (Vĩnh Long) ngày mùng 2 tháng giêng năm Canh Tuất (07-02-1970), Đức Di Lạc Thiên Tôn có dạy như sau:

“… Ngày nay cuối đường hạ Nguơn Mạt Kiếp, nhân sinh đã theo thời gian luân chuyển vào luật đào thải và bảo tồn. Hiện tình nhân loại ngày nay tiến hóa rất nhiều trên phương diện lý trí, nhưng khối óc tinh xảo hầu hết đặc ước vọng vào công cuộc tầm thiên quật địa, khuynh đảo dơn hà. Vì vậy mà Đức Thượng Đế không giao Chánh Giáo cho tay phàm nắm giữ. Tam Kỳ Phổ Độ, Thượng Đế chính mình giáng trần chọn lựa Nguyên Nhơn thánh thiện trao gởi “Quyền Pháp” để phổ độ toàn linh, xiển dương Chánh Pháp cho đại Đạo lập thành, thế giới mới hòa bình, càn khôn mới an tịnh. Một hành vi rất giản dị mà lý huyền nhiệm khôn lường. nếu chẳng phải chánh tâm tu kỷ thì khó tìm ra Chánh Lý để chứng quả Thiên Tôn…

Cũng tại Trúc Lâm Thiền Điện, trong kỳ đàn ngày mùng 7 tháng 4 năm Canh Tuất (11-05-1970) Đức Vạn Hạnh Thiền Sư có dạy như sau:

… Những thành phần vô ích cho sự tái lập dinh hoàn, xây dựng đời Thượng Nguơn Thánh Đức, sẽ lần lượt nối chân nhau tự diệt. Những cái hữu ích cho Chánh Đạo cứu đời, những cái còn sử dụng cho giai đoạn kết quả cuối cùng, những cái dung để lập lại Thượng Nguơn mới hy vọng sống còn.

Cái tính chất bảo tồn, cái bản chất giữ lại, cái nguyên nhân thế cuộc an bình là Đạo, là Hoàng Cực, là ngôi Di Lạc Thiên Tôn.

Ai muốn được như thế, ai muốn hiến mình lập thế Thượng Nguơn Thánh Đức hãy học cho rõ lý Hoàng Cực, hãy thi hành Vương Đạo. Hoàng Cực hay Vương Đạo là ngôi Di Lạc Thiên Tôn. Danh từ nầy cũng là một đại đồng tiểu vị.

Hỡi thế nhơn! Di lạc Thiên Tôn Hoàng Cực Chủ Nhơn là ngôi của Tòa Tam Giáo, cũng là ngôi của cuộc Đời…

Trong kinh Thiên đàng Du Ký, Đức Phật Tế Công có nói:

“- Lão Mẫu Vô Cực cưu mang 96 ức con đỏ trời đất. Bà dạy “leo thang trời” là muốn cho loài người trở về chốn cũ. Đôi mắt Bà trông ngóng trong suốt nước mùa thu. Bà kêu gào cháy cổ bỏng họng, là MẸ mong con một lòng, nhưng có mấy kẻ nghe rõ tiếng Mẹ mà hồi tâm thức tỉnh, nghĩ tới Cha Mẹ của cái thuở chưa sinh ở chốn nào…

Đức Vô Cực Từ Mẫu mô tả tình Mẹ Vô Cực trông con trở về như sau:

Từ Mẫu thủ trung tuyến
Du tử thân thượng y,
Lâm hành mật mật phùng.
Ý khủng trì trì qui.
Thùy tri thốn thảo tâm,
Báo đắc tam xuân huy.

Dịch:

Mẹ già se chỉ luồn kim,
May cho con trẻ áo xiêm vẹn bề.
Con đi lòng MẸ ủ ê,
Sợ rằng con trẻ lâu về quê xưa.
Đau lòng cỏ lạnh biết chưa?
Ba xuân tươi đẹp bao giờ báo tin.


* * * * *



Đạo cao vô cực, giáo xiển Hư Linh: Đạo cao vô cùng tột. Ngài lập giáo dạy đạo Hư Vô linh diệu.

Đạo cao vô cực: Đạo cao không chỗ cuối cùng. Đạo từ nguyên thủy.

Giáo xiển Hư Linh: Dạy cho rõ cái Hư Không linh diệu (Chơn Không Diệu Hữu).

Đạo là Hư Vô chi Khí, không không mà lưu thông khắp Càn Khôn Vũ Trụ, hàm chứa sự Hằng Sống, Hằng Còn đời đời kiếp kiếp, cho nên gọi là Hư Linh.

: là hư Không
Linh: là linh diệu

Đạo cao thượng phổ truyền giáo hóa,
Không làm sao diễn tả nhiệm mầu,
Giáo truyền Tam Giới, Ngũ Châu;
Cho người giác ngộ quay đầu tỉnh mê


* * * * *



Thổ Khí thành hồng nhi nhứt trụ xanh thiên: Nhã hơi thành khí hồng nguyên như một cây cột chống vững giếng trời.

Thổ: là nhã ra
Khí: là hơi
Hồng: là khí Hồng Nguyên, tức là Nguyên Khí thuở ban sơ trước khi sanh ra Trời đất. Nguyên Khí tự nhiên trước khi khai Thiên tịch Địa.
Trụ: là cây cột, cột cái, chủ chốt
Xanh: là chống đỡ

Câu nầy có ẩn nghĩa, nói bóng về phép luyện Đạo như sau:

Quẻ càn có 3 vạch liền (__) là 3 hào Dương, tượng trưng cho 3 cột trụ chống vững ngôi Trời, thuộc về Tiên Thiên (Dương)

Quẻ Khôn có 3 vạch đứt (_ _) là 3 hào Âm, thuộc về hậu thiên, tạo thành ngôi Đất (Âm)

Lúc con người còn là thai nhi ở trong bụng mẹ, hai khí Âm Dương còn giữ nguyên vị, nghĩa là quẻ Càn còn 3 vạch liền, quẻ Khôn còn 3 vạch đứt. Nhưng đến khi thai nhi lọt lòng mẹ, bị móc miệng, cắt rún, thì Càn và Khôn đều thất vị (thai nhi khi còn ở trong bụng mẹ thì thở và sống bằng khí Tiên Thiên, đến khi lọt khỏi lòng mẹ, bị móc miệng cắt rún, thì không còn thở bằng khí Tiên Thiên nữa, mà phải thở bằng khí Hậu Thiên).

Lúc đó vạch liền giữa quẻ Càn rơi xuống chiếm phần giữa quẻ Khôn, biến quẻ Khôn thành quẻ Khảm. Đồng thời, vạch đứt giữa quẻ Khôn bay lên chiếm phần giữa quẻ Càn, biến quẻ Càn thành quẻ Ly.

Càn Khôn biến thành Khảm Ly: càn Khôn đều thất vị, từ đó về sau con người thở và sống bằng khí Hậu Thiên cho tới chết.

Nếu muốn tránh đường luân hồi chuyển kiếp thì con người phải học Đạo Pháp rồi tu luyện để đổi Hậu Thiên ra Tiên Thiên, chiết Khảm điền Ly, cho Ly trở thành Càn, Khảm trở thành Khôn, thì Càn Khôn trở lại nguyên vị, thì mới phản bổn huờn nguyên được.

Cái vạch liền của quẻ càn nói trên đây là cây cột trụ chống vững ngôi Trời vậy.

Phép luyên Đạo là: Chiết Khảm điền Ly thì Khảm Ly trở lại Khôn Càn.

1. – Càn Khôn biến thành Khảm Ly: Tiên Thiên hóa Hậu Thiên.

2. – Khảm Ly đổi lại Khôn Càn: Hậu Thiên đổi lại Tiên Thiên.

* * * * *



Hóa kiếm thành xích nhi tam phân thác địa: Hóa gươm làm thước, lấy ba phân dở an trái đất.

Đây cũng là lối nói bóng: Quẻ Càn 3 vạch liền, tượng trưng cho ngôi Trời (càn vi Thiên). Quẻ Khôn 3 vạch đứt tượng trưng cho ngôi Đất (Khôn vi Địa)

Câu trên có nghĩa là: tạo Hóa làm phép biến hóa, cây bửu kiếm biến ra cây thước, phân ra 3 đoạn, nghĩa là 3 vạch (quẻ Khôn) mà lập thành ngôi Đất.

Trong phép luyện Đạo, hễ biết chiết Khảm điền Ly, thì Khảm biến thành Khôn, Ly biến thành Càn, thì con người trở lại nguyên vị Tiên Thiên, Trời Đất an ngôi, con người lập vị Tiên Phật.

Hà một khí bốn bề chống vững,
Đỡ khuôn Trời sừng sững nguy nga,
Kiếm linh liền hóa làm ba;
Đỡ nâng trái đất thái hòa vững an.


* * * * *



Công tham Thái Cực. Phá nhứt khiếu chi Huyền Quan: Công đức tham dự vào quyền năng Thái Cực. Phá vỡ khiếu một Huyền Quan.

Công tham Thái Cực: Có công đức tham dự vào quyền năng của Thái Cực.

Thái Cực là Thượng Đế ở ngôi Nhứt Nguyên. Thái Cực phân ra Lưởng Nghi, rồi phân ra Tứ Tượng, lập thành Ngũ Hành và Bát Quái, tác thành càn Khôn Vũ Trụ, đó là công đức sanh Hóa. Sanh hóa vạn loại rồi phải dưỡng nuôi, đó là công đức dưỡng dục. Nuôi dưỡng là ban cho sự sống và những điều kiện để duy trì sự sống. Rồi còn phải mở Đạo dạy dỗ cho khôn linh tiến hóa về ngôi Tiên Phật, đó là công đức giáo hóa.

Xét theo lời kinh thì Đức Nhiên Đăng, Ông Tổ Đạo Phật, có công đức tham dự vào công việc của Đức Thái Cực trên phương diện mở khai Phật Đạo dạy dỗ quần sanh. Đó là công đức Giáo hóa. Nhưng kỳ thật Đấng sáng lập Phật Đạo chính là Thượng Đế tá danh Nhiên Đăng Cổ Phật, tức là vị Cổ Phật soi đèn thiên nhiên mà cứu độ chúng sanh nên mới gọi là Nhiên Đăng Cổ Phật.


Phá nhứt khiếu chi Huyền Quan:

Phá: là làm cho vỡ ra

Nhứt khiếu chi Huyền Quan:

Tronh kinh Đại Thừa Chơn Giáo, Thầy có dạy như sau:

… người tu hành chừng nào luyện Tinh hóa Khí, luyện Khí hóa Thần, luyện Thần huờn Hư, luyện Hư huờn Vô, thì “Huyền Quan Nhứt Khiếu” ấy mở quát ra. Huyền Quan Nhứt Khiếu ấy là chi? Là Thiên Nhãn vậy! Nó ở ngay Nê Huờn Cung, gom trọn Chơn Dương Chành Đạo. Hai con mắt các con là nhục nhãn. Tức là Âm với Dương, thì cũng như Thái Cực là Tiên Nhãn còn lưởng quang là Nhựt Nguyệt hằng soi sáng khắp Càn Khôn, cứ tuần hoàn mãi hết ngày đến đêm, hết đêm kế ngày, không bao giờ dứt sự hành tàng của Tạo Hóa…

Trời Đất có khiếu linh là “Thái Cực”. Con người cũng có khiếu linh là “Huyền Quan Nhứt Khiếu”.

Con người lúc chưa sanh ra gọi là “Vị Sanh Xuất” thì cái khiếu linh đó thông đồng Trời Đất, Tánh Mạng gồm một, trọn lành, trọn tốt. Tuy nhiên khi đã sanh ra lọt khỏi lòng mẹ, bị móc miệng cắt rún, gọi là “dĩ sanh xuất” thì cái khiếu linh đó lần lần bị đóng lại. tánh và Mạng phân hai, Thiên Tán lần lần bị tạp nhiễm trần cấu mà thành ra con người phàm tục.

Nếu may ra con người học được Đạo Pháp khám phá ra được cái khiếu linh đó và phá vỡ nó ra thì được thông đồng Trời Đất, và phàm nhơn trở lại Chơn Nhơn, đời sống hậu thiên trở lại tiên thiên an vui nhàn lạc.

Kinh Vô Vi Pháp có nói:

Nhứt Khiếu Huyền Quan thông vạn pháp
Thiên kinh vạn quyện nhứt thời linh.

Tiên phàm cũng một Khiếu mà ra,
Ở giữa không trung rất kín mà.

Một là một Khiếu ở ngay mình,
Biết đặng khiếu nầy vạn sự linh.

Trong một Thánh giáo dạy Đạo, Đức Lão Tử cho biết:

Các con có Huyền Quan Nhứt Khiếu
Thầy chỉ rồi con hiểu chẳng xa
Thuần dương tâm tánh điều hòa
Bào nguơn thủ nhứt gọi là Pháp Môn

Trong kinh “Huyền Diệu Cảnh” Ông Ly Trần Tử có nói:

… Duy Huyền Quan Nhứt Khiếu, khiếu turng chi vương dã… Nhơn thân Bất đắc Huyền Quan, thân trung vô chủ, dĩ chí lao thần thương khí, tửu sắc hoang mê, bất đắc trường sanh…

Kim Cang vân: Nhứt hiệp tướng bất khả thuyết

Đại Học vân: Chí thiện chi địa

Trung Dung vân: Xuất Tánh chi vị Đạo

Dịch viết: Huỳnh Trung thông lý

Tổng tổng vi danh ngôn chi bất tận, tức Huyền Quan Nhứt Khiếu thị dã.

Nghĩa là:

… Chỉ có một Khiếu Huyền Quan là vua trong các Khiếu

Vậy trong mình người chẳng được Khiếu Huyền Quan thì bản thân không có chủ, đến phải lao thần, tổn khí, tửu sắc mê man, tối tăm chẳng được trường sanh.

Kinh Kim Cang nói: Một chỗ hiệp Pháp Tướng, không nói ra được

Đại Học nói: Chỗ đất chí thiện

Trung Dung nói: Đem Chơn Tánh ra gọi rằng Đạo

Kinh Dịch nói: Thông cái Lý trong chỗ Huỳnh Đình

Tóm lại, cả thảy các danh từ lạ lùng đó, nói chẳng hết lời, tức là Khiếu Huyền Quan đó vậy

* * * * *



Tánh hiệp vô vi, thống Tam tài chi bí chỉ:

Tánh hiệp vô vi: tánh Trời hiệp với cõi trời vô vi

Cái Thiên Tánh là cái của Trời ban, trong sáng, nhẹ nhàng, đời sống phù hạp với cõi trời vô vi. Tuy nhiên khi linh hồn đầu thai vào cõi tục, nhập vào xác thân Tứ Đại, bị trần trược bao quanh, lần lần tạp nhiễm thói trần mà mất hết bản chất tiên thiên, trở thánh tánh khí chất hậu thiên phàm phu tục tử. Nếu may ra con người học được phép luyện Đạo, biết vận chuyển Pháp Luân, khai Khiếu Huyền Quan, thì cái Thiên Tánh trở lại Thiên Môn tìm lại bổn thể xưa, rồi nương theo Kim Thân mà phản hồi vị cũ.

Tánh Người trong sạch hiệp với Tánh Trời gọi là Tánh Hiệp vô vi hay là Thiên Tánh hườn hư mà đắc thành Vô Vi Đại Đạo. Chừng đó con người cũ kỹ đổi lại con người mới mẽ gọi là “Tại minh minh Đức, tại tân dân, tại chí ư chí thiện”. Phàm nhơn lột xác trở lại Chơn Nhơn, trường tồn bất diệt, không còn luân chuyển trong vòng luân hồi lục đạo nữa.


Thống Tam Tài chi bí chỉ: Thống lãnh hết ba cõi: “Thiên Địa Nhơn” là điều bí yếu.

Thống: thống lãnh, nắm hết quyền hành.

Tam tài: ba ngôi “Trời Đất Người”.

Ngoài Đại Vũ Trụ có Ba ngôi “TRời Đất Người” là Thiên Hoàng, Địa Hoàng Nhơn Hoàng. Trong Tiểu Vũ Trụ, bản thân con người, cũng có Tam Tài giống như Đại Vũ Trụ vậy.

Phần “Đầu” là Trời. Phần mình là “Đất”. Phần hạ bộ của xác thân là “Người”. Đó là Tam Tài trong bản thân con người.

Bí chỉ: điều bí yếu, bí quyết, mật chỉ.

Toàn câu có nghĩa là: đạt cái bí yếu thống lãnh cả Ba ngôi “Trời Đất Người”.

Nơi cõi Đại Thiên Địa có ngôi Thái Cực thống lãnh Tam Tài, tức là ba cõi TRời Đất Người.

Nơi cõi Tiểu Thiên Địa, nếu người tu đắc Đạo, mở được Tổ Khiếu Huyền Quan, thị Chủ Nhơn Ông cũng có quyền thống lãnh Ba ngôi TRời Đất Người nơi bản thân mình.

Trong kinh Thiên Đàng Du Ký, Đạo Trưởng Thanh Vân giảng Đạo cho Dương Thiện Sinh nghe, có bảo rằng:

Con người tu hành muốn đắc đạo phải vượt “Sông Tam Thanh”, cố gắng kiên trì hành Pháp theo 3 tiêu chuẩn sau đây:

(1) Thiên Thanh:

Đầu con người là “Trời”, có ẩn giấu “Huyền Quan Linh Khiếu” tức là cửa ra vô mầu nhiệm thiêng liêng. Bình thường cửa đó đóng kín mít, nên cần phải tu luyện để mở tung nó ra. Dẹp bỏ tư tưởng tà dâm, trừ khử ý niệm tham dục, ắt Thần Khí sáng ngời, Đài Linh của bản thân thông với cõi Trời, một sớm dứt bỏ được “Tam Thốn Khí”, tức là 3 tấc khí ô trược để Chơn Linh phơi phới bay thẳng tới Thiên Đường. Như thế gọi là “Thiên Thanh” tức là Trời trong vậy.

(2) Địa Thanh:

Cái bụng của thân thể con người là “Đất” là vì Tỳ thuộc Thổ. Người tu hành ăn ngũ cốc để nuôi sống cơ thể, bỏ thịt cá để giữ vệ sinh cho bụng được sạch sẽ thanh tịnh, không chất chứa thịt cá thối tha. Ba tấc trược khí một khi đã dứt, thanh khí trở lại lúc ban đầu, Thần Linh ắt trở về đất tịnh. Như thế gọi là “Địa Thanh”, tức là Đất trong vậy.

(3) Nhơn Thanh:

Hạ bộ của cơ thể con người là “Người”, nơi đây tình dục của nam nữ phát động thì tinh huyết của họ tiết ra.

Không phải vợ chồng mà bày trò dâm dục gọi là “Tà dâm”. Tà dâm ắt loạn Âm Dương, chà đạp nhơn luân.

Tinh huyết là gốc rễ của loài người, nếu đem sử dụng một cách hoang phí vô độ, làm điên đão thác loạn, cùng hủy diệt chủng tử thiêng liêng, tức là sát hại sanh linh. Tinh huyết hỗn độn ắt là nước sông Tam Thanh vẫn đục. Nhưng kẻ hiếu sắc, dâm dục, chỉ thích chuyện là gió cành chim, chẳng ưa thích chuyện tiên. Chính vì thế mà ý niệm tu hành phải tiêu tan, hốn mà xâm nhập.

Gốc dâm của chúng sanh phát sanh từ dưới đáy sâu biển cả của loài người, vốn là chỗ chất chứa tất cả những cặn bã nhơ bẩn bài tiết ra, nên khi sống thì ngụp lặn ở đó, chết rồi ắt bị dọa trầm dưới đáy sâu Âm Tào Địa Phủ.

Ngược lại, nếu biết thanh tẩy được bản thân, dâm căn hóa thành thiện căn, gạn lọc được, khổ hải hóa thành Đạo hải, ắt hẳn lòng dục dứt tuyệt, Thiên Lý lưu hành, ba tấc khí trược dứt tuyệt, Nhơn Đạo tự nhiên nối tiếp với Địa đạo mà về tời Thein6 Đạo. Tuy nhiên, những kẻ tu hành trên đời, dẫu cho có chí tu hành, nhưng nếu không lìa bỏ được tâm sắc dục, cứ mãi giam mình trong chốn hang hóc ngòi lạch, thì sau khi chết, sẽ bị sóng dục lôi cuốn đi nhận chìm dưới sông ái dục, đày đọa chốn địa ngục, để rồi đầu thai trở lại cõi thế, chịu luân hồi mãi mãi.

Nay nhờ Trời Phật ban ơn cứu độ chúng sanh, nếu như biết tu hành, trừ bỏ được sắc dục, vun bồi được thanh khí, hẳn là 3 phần nơi cơ thể con người là : Thượng, Trung, Hạ , tức là Trời, đất, Người, lâu nay bị ế tắc, nay được khai thông, tức thì vượt qua sông “Tam Thanh” mà chứng ngộ Đạo quả Vô Cực để trở về nơi Thánh cảnh “Tam Thanh”…

Toàn câu: “Phá Nhứt Khiếu chi Huyền Quan, tánh hiệp vô vi, thống Tam Tài chi bí chỉ” dạy bí quyết luyện Đạo như sau:

- Người tu luyện phải biết mở bung cái “Huyền Quan Linh Khiếu” tức là cái cửa ra vô mầu nhiệm cùa Nguơn Thần, cái Đài Linh của bản thân, thì cái Thiên tánh mới huờn hư mà trở lại trạng thái vô vi, chừng đó mới thống lãnh được 3 cõi trong châu thân. Chừng đó con người mới làm chủ cái “Tiểu Thiên Địa” của mình và làm chủ vận mệnh của mình. Đạt được trình độ đó, việc sống chết do người định đoạt, không còn phú cho Trời Đất nữa. Đó là trình độ của bực “chơn Nhơn” trường sanh bất tử.

Công đức ấy sánh bằng Thái Cực,
Phép tắc ngang Trời đất kém đâu,
Mở Huyền Quang Khiếu diệu mầu;
Cho người đắc Đạo về chầu Chí Tôn.
Tánh hiệp Mạng huờn Hồn khí thể,
Bí quyết tu thoát lệ tử sanh,
Con người là vật tối linh;
Tam Tài định vị khai minh siêu phàm.


* * * * *



Đa thi huệ trạch vô lượng độ nhơn:

Đã nhiều đời, Đức Nhiên Đang Cổ Phật ban bố ra nhiều ân huệ, như Trời rưới mưa chan, dân chúng gội nhuần. Ngài tế độ người đời không biết đâu mà lường cho hết công đức của Ngài.

Trạch: ân huệ

Huệ trạch: ân huệ của người trên ban xuống

Vô lượng độ nhơn: cứu độ người vô số kể, không lường, không đếm được.

Đã nhiều kiếp đương kham trọng trách,
Đức Nhiên Đăng ân trạch độ đời,
Ân lành bủa khắp nơi nơi,
Như dòng suối chảy, như trời mưa chan.


* * * * *



Đại bi, đại nguyện, đại thánh, đại từ: Đức Nhiên Đăng Cổ Phật, đối với chúng sanh, có tình thương bao la, hạnh nguyện vô cùng, thánh đức vô biên, lòng từ vĩ đại.

Đại bi: lòng từ bi rộng lớn, tình thương bao la

Đại nguyện: lòng mong mỏi rộng lớn, cao cả, muốn cứu độ, muốn dìu dắt muốn ban vui cứu khổ cho chúng sanh.

Đại thánh: Thánh đức rộng lớn, cao sâu, đã đạt tới sự thấu suốt cao sâu mầu nhiệm

Đại từ: lòng từ ái cao cả, rộng lớn.

Đức Nhiên Đăng Cổ Phật có 4 đức tánh vô biên “Đại bi, đại nguyện, đại thánh, đại từ” tức là những đức tánh của đấng Tạo Hóa, muốn dạy dỗ và cứu độ, ban vui cứu khổ cho quần sanh.

* * * * *



Tiên Thiên Chánh Đạo, Nhiên Đăng Cổ Phật, Vô Vi Xiển Giáo Thiên Tôn:

Đức Nhiên Đăng Cổ Phật là Ông Tổ lập ra Đạo Phật, nhưng Đạo của Ngài chính thật là “Tiên Thiên Chánh Đạo”. Danh hiệu của Ngài là Nhiên Đăng Cổ Phật, dạy tỏ rõ, rộng lớn mối Đạo Vô Vi, một Đấng Thiên Tôn cao cả nơi cõi Hư Vô.

Tiên Thiên Chánh Đạo: Cái Đạo duy nhứt có trước khi lập nền Trời Đất. Cái Đạo đó là nguồn gốc sanh hóa muôn loài vạn vật.

Nhiên Đăng Cổ Phật: Vị Phật tối cổ hiệu là Nhiên Đăng, hay là ngọn đèn Chơn Lý soi sáng Càn Khôn Vũ Trụ, đời đời bất diệt

Vô Vi Xiển Giáo: Dạy tỏ rõ, rộng lớn mối Đạo Vô Vi

Đạo Vô Vi: là Đạo dạy tu Tánh, không dung âm thinh sắc tướng.

Xiển giáo: là phương pháp dạy Đạo để độ bực nguyên nhơn. Tức là những nguyên linh trong số 96 ức Tiểu Linh Quang do Thượng Đế cho hạ trần lúc ban sơ.

Triệt giáo: là phương pháp dạy Đạo độ bực hóa nhơn, nghĩa là những hạng người từ cầm thú tiến hóa lên làm người.

Đức từ bi bố ban khắp cả,
Đại nguyện lành phổ hóa thương sanh,
Thật là đại thánh, chí thành;
Nhiên đăng Cổ Phật xứng danh đến giờ.
Từ thượng cổ tôn thờ Chánh Đạo,
Khắp gần xa Phật Giáo kỉnh tin,
Xiển dương Phật Pháp khai minh;
Nhiên Đăng Cổ Phật sáng danh muôn đời.

Trích: Kinh Tam Giáo Nhựt Tụng Diễn Giải
Biên Soạn: Thiện Trung Nguyễn Xuân Liêm


DamSen


DIỆU NGHĨA BÀI KINH THÍCH GIÁO BỬU CÁO (phần tiếp theo)
DIỆU NGHĨA BÀI KINH CHÚC TỤNG NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ (phần tiếp theo)
DIỄN GIẢI: KINH CHÚC TỤNG NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ
XƯNG TÁNG NGŨ NGUYỆN DIỄN CA
QUI TAM GIÁO
TỤNG KINH
HẰNG NIỆM DANH HIỆU THẦY
TẠI SAO LẠI LÀ “NGŨ NGUYỆN”?
Ý NGHĨA CỦA MỖI CÂU NGUYỆN TRONG “NGŨ NGUYỆN”
PHẦN PHỤ GIẢI “NGŨ NGUYỆN”
THÁNH GIÁO DẠY VỀ “NGŨ NGUYỆN”
LUẬN GIẢI: VỀ Ý NGHĨA, CÔNG DỤNG, VÀ XUẤT XỨ CỦA KINH NHỰT TỤNG TRONG ĐẠO CAO ĐÀI
NIỆM HƯƠNG NGHĨA LÀ GÌ?
GIẢI NGHĨA BÀI “NIỆM HƯƠNG”
GIẢI NGHĨA BÀI “KHAI KINH”

Tìm hiểu thêm: CHÚ GIẢI KINH CÚNG TỨ THỜI – THIÊN VÂN (HIỀN TÀI QUÁCH VĂN HÒA)


Leave a Reply