TÌM HIỂU THÊM VỀ HIỆN TƯỢNG SƯ VÃI BÁN KHOAI

Jul 1, 11 | Tâm Duyên | 22,952 views | 8 Comments



Share |




nu senGiữa thế kỉ XIX, xã hội miền Nam gặp cơn biến động dữ dội: dịch bệnh hoành hành rồi thực dân Pháp xâm lược, các phong trào kháng chiến chống Pháp lần lượt tan rã do bị đàn áp hết sức dã man. Triều đình nhà Nguyễn không còn cách nào khác, phải đi từ thỏa hiệp này đến thỏa hiệp khác và cuối cùng chính thức đầu hàng bằng “hòa ước” 1884. Theo hòa ước đó thì Nam Kì trở thành thuộc địa của Pháp, xem như nước Pháp nối dài. Do đó, nền văn hóa phương Tây thực dụng, lạ lẫm cũng theo chân thực dân Pháp tràn vào xứ Nam Kì. Nền văn hóa truyền thống Việt Nam lại thêm biến động dữ dội.

Những biến động dồn dập nói trên khiến những bậc tiên giác nghĩ đến thời mạt pháp (theo Phật giáo) hay hạ ngươn/hạ nguyên (theo Đạo giáo và Nho giáo)1. Theo tu sĩ Độc Giác Chơn Như trong cuốn Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn2 thì có ba ngươn: Thượng ngươn, Trung ngươn và Hạ ngươn, biểu thị ba giai đoạn thịnh suy của cuộc đời. Mỗi ngươn dài 60 năm, tròn một con giáp theo vòng tuần hoàn của sự dịch chuyển giữa thập can và thập nhị chi. Theo ông Sư Vãi Bán Khoai thì hạ ngươn bắt đầu từ năm Giáp tí 1864 đến năm Giáp tí 1924.

Niềm xác tín nói trên được khởi đầu từ Đức Phật Thầy Tây An, tục danh là Đoàn Minh Huyên (1807 – 1856), được xem là người sáng lập giáo phái Bửu Sơn Kì Hương với giáo pháp vô vi, nhập thế và bất chấp hình tướng. Sau khi Đức Phật Thầy viên tịch, nhiều vị đại đệ tử của ngài tiếp tục xiển dương giáo pháp nói trên, phát phù trị bệnh, đặt sám giảng dạy đời và có khuynh hướng chống Pháp. Có thể kể như: Đức Phật Trùm (ông Đạo Đèn), Đức Cố quản Trần Văn Thành (ông Đạo Lành), Đức Bổn sư Ngô Lợi, ông Sư Vãi Bán Khoai, ông Cử Đa, ông Đạo Xuyến, ông Đạo Ngoạn, ông Đạo Lập, ông Đạo Lãnh, v.v. và Đức Huỳnh giáo chủ.

Trong số những bậc siêu phàm nói trên thì ông Sư Vãi Bán Khoai là trường hợp đặc biệt nhất: thoát ẩn thoát hiện, thay hình đổi dạng, nam giới mà trông như phụ nữ, lại không rõ tên tuổi, quê quán mặc dù ông đã vân du khắp nơi, sang cả Cao Miên, Trung Quốc và để lại nhiều sám giảng. Do đó, mục đích bài viết này là thử tìm hiểu để trả lời một số nghi vấn về ông đạo có một không hai này.


1. Tại sao gọi là “Sư Vãi Bán Khoai”?

Theo Nguyễn Văn Hầu trong Thất Sơn mầu nhiệm thì ông Sư Vãi Bán Khoai “hình dạng nhỏ bé, ốm yếu như người đàn bà, trước ngực thường mang một cái yếm, xa xa trông như một cô vãi. Lại nữa, ông trị bịnh cho đời hay dùng vải áo, vải khăn của mình mà cho, nhân thế người ta đặt cho ông cái biệt danh Sư Vãi3.

Vào khoảng năm Tân Sửu (1901) và Nhâm Dần (1902), ông thường giả dạng thường nhân đi bán khoai ở xứ Cao Miên và trong kinh Vĩnh Tế để tùy cơ khuyến thiện người đời. Thấy vậy người đời mới quen gọi ông là ông Sư Vãi Bán Khoai4.

Một vài thông tin trên cần phải được xem xét lại, chẳng hạn về thời điểm ông Sư Vãi Bán Khoai vân du dạy đời. Nguyễn Văn Hầu ghi nhận là trong hai năm 1901 và 1902 có lẽ chưa thỏa đáng, bởi lẽ trong một số bài sám giảng của mình, ông Sư Vãi Bán Khoai có tiên tri rằng năm Giáp tí 1864 sắp đến là năm bắt đầu thời hạ ngươn mạt pháp:

Hạ ngươn Giáp tí đầu niên,
Gẫm trong thiên hạ không yên chỗ nào.

(Vãn Sư Vãi Bán Khoai)

Hạ ngươn Giáp tí bằng nay,
Cơ trời đã khiến lập đời thượng lai.

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, Sđd, tr. 4)

Giáp tí khổ não muôn phần,
Không phải thái bình ngày rày dân ôi!

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, Sđd, tr. 6)

Điều đó chứng tỏ ông Sư Vãi Bán Khoai xuất hiện từ trước năm 1864 và tính tới năm 1901 thì ông xuất hiện khoảng 40 năm. Hơn nữa, ông đã vân du không chỉ trong nước mà sang cả Cao Miên, Trung Quốc nên chắc chắn phải thực hiện trong một khoảng thời gian dài chứ không thể chỉ trong hai năm:

Rồi tôi đi đến bên Tàu,
Bây giờ trở lại An Giang Nam thành.

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, Sđd, tr. 20)

Tôi đâu mà có an thân,
Bây giờ Phật biểu tôi sang nước Tần.
5

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, Sđd, tr. 21)

Còn về danh xưng “Bán Khoai” thì cần phải hiểu đó chỉ là một cách gọi tên, họa chăng là do ông Sư Vãi Bán Khoai lúc đầu giả dạng người bơi xuồng bán khoai lang củ, chứ thật ra ông còn giả dạng thành nhiều thân phận khác nữa, như người bán gạo, bán củi, bán bánh, đui mù, ăn xin, v.v.

Tôi đây ông vãi bán khoai,
Bán gạo Ông Chưởng6 ai ai cũng lầm.
Ghe khoai, ghe củi, ghe lường,
Chèo qua chèo lại tôi đương độ trà.
Có người bán bánh thật thà,
Bao nhiêu quỷ mị non tà sạch trơn.

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, Sđd, tr. 19)



2.Lai lịch Sư Vãi Bán Khoai và sám giảng/sấm vãn của ông

2.1. Lai lịch

Theo Nguyễn Văn Hầu trong Thất Sơn mầu nhiệm thì ông Sư Vãi Bán Khoai “tên là Mỹ, họ gì không rõ. Quê quán và lai lịch tổ tiên như thế nào hỏi không ai biết. Ông có vợ, sanh được hai con và thường đến Vĩnh Gia thuộc kinh Vĩnh Tế (Châu Đốc)… Ông có nhiều pháp thuật và võ nghệ. Nội ngón tay cái của ông, mỗi khi cần niệm kinh hay đọc chú, ông dùng cây gõ vào thì có tiếng kêu lên cốc cốc, giống như mõ của các thầy phù thủy” (Sđd, tr. 101 – 102.) Tuy nhiên, so với các bậc siêu phàm khác thì lai lịch ông Sư Vãi Bán Khoai được ghi trong Thất Sơn mầu nhiệm còn quá sơ sài.

Trên nguyệt san Giác Ngộ số 136 (tháng 7/2007), Huỳnh Ngọc Trảng có bài “Ký tả một bài về hòa thượng Huệ Lưu”. Bài viết chủ yếu khai thác thông tin từ cuốn Sám giãn người đời (gồm 11 bài) do nhà in Thạnh Mậu phát hành năm 1949. Trong cuốn “Sám giãn” này, theo phân tích của Huỳnh Ngọc Trảng thì có 4 bài không nêu tên tác giả, 5 bài nêu tên Huệ Lưu, 3 bài có tên ông Sư Vãi Bán Khoai. Điều này nghĩa là có một bài (bài số IX) vừa có tên Huệ Lưu, vừa có tên ông Sư Vãi Bán Khoai.
Do đó, Huỳnh Ngọc Trảng nêu nghi vấn: “Chính sự không thống nhất về danh xưng/tên tác giả trong các bài sám giảng in trong Sám giãn người đời như vậy nên hậu thế không ít người đã giả thiết, thậm chí khẳng định Sư Vãi Bán Khoai chính là danh xưng của hòa thượng Huệ Lưu trong khoảng thời gian hòa thượng vân du vùng Thất Sơn – Bảy Núi” (Sđd, tr. 61).

Theo chúng tôi, suy đoán đó tỏ ra có cơ sở mặc dù không hoàn toàn chắc chắn. Bởi lẽ, trong Thất Sơn mầu nhiệm, Nguyễn Văn Hầu cũng đã cho biết: “Ông [Sư Vãi Bán Khoai] để lại một bổn Sám giảng người đời (11 quyển)… ngày nay vẫn còn truyền tụng” (Sđd, tr. 104).

Hơn nữa, trong cuốn Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, có lúc xưng “Tôi đây ông vãi bán khoai” (tr. 19), có lúc lại xưng:

Huệ Lưu ký tả một bài,
Diễn ban châu quận hậu lai khán tường.
(tr. 28)

Huệ Lưu bút ký đã rồi,
Đặng cho thiên hạ dấu lai để đời.
(tr. 28)

Mặt khác, trong bài “Sám giảng khuyên người đời tu niệm”, Đức Huỳnh giáo chủ có kể việc hai thầy trò nhà sư (không nói rõ là ai) cũng vân du giả dạng, biến hóa, ẩn hiện khắp Nam Kì lục tỉnh để “khuyên người đời tu niệm”. Đến đoạn nhắc đến “chuyện năm xưa”:

Cảm thương ông lão bán khoai,
Vì yêu dân chúng chẳng nài nắng mưa
.

thì liền sau đó khẳng định danh xưng:

Đừng thấy ngu dại mà khi,
Thầy thì Huệ Lựu [Lưu], tớ thì Huệ Tâm
.7

Điều này chứng tỏ Đức Huỳnh giáo chủ đã gián tiếp cho biết Sư Vãi Bán Khoai chính là hòa thượng Huệ Lưu. Và nếu quả thật như vậy thì có thể biết được quê quán của ông Sư Vãi Bán Khoai qua lời của thượng tọa Thích Huệ Viên, trụ trì tổ đình Giác Viên (số 161/85/20 Lạc Long Quân, Q.11, TP.HCM) như sau: “Hòa thượng Huệ Lưu vốn quê ở làng Nhựt Tảo [nay thuộc huyện Tân Trụ, tỉnh Long An], sinh vào khoảng giữa thế kỉ XIX và từ nhỏ đã xuất gia tu học ở chùa Giác Viên. Hòa thượng Huệ Lưu thọ giới quy y với hòa thượng Minh Khiêm – Hoằng Ân, dốc chí tu học và giữ giới luật tinh nghiêm, giỏi cả về Phật pháp và Hán văn. Sau đó, ông được cử về làm trụ trì chùa Huê Nghiêm (Thủ Đức)8.

Tuy nhiên, theo cuốn Đình chùa lăng tẩm nổi tiếng Việt Nam9 thì thiền sư Huệ Lưu sinh năm 1857, mất năm 1898, như vậy thì ông không thể nào tiên tri về năm giáp tí 1864 được, vì tính đến năm đó ông lớn nhất cũng chỉ có 7 tuổi. Mặt khác, ông mất năm 1898 thì không thể xuất hiện vào năm 1901, 1902 như ghi nhận của Nguyễn Văn Hầu được. Do đó, giả thiết Sư Vãi Bán Khoai chính là hòa thượng Huệ Lưu cần phải xem xét lại.

Hơn nữa, giả sử Sư Vãi Bán Khoai chính là hòa thượng Huệ Lưu thì quê quán của ông cũng không thống nhất: theo thượng tọa Huệ Viên thì ông quê ở làng Nhựt Tảo (Long An) trong khi Sấm giảng khuyên người đời tu niệm của Đức Huỳnh giáo chủ gọi ông Sư Vãi Bán Khoai là Khùng 10 còn mình tự xưng là Điên 11 và cho biết quê quán của ông Sư Vãi Bán Khoai ở núi Sam (nay là thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang):

Khùng thời quê ngụ núi Sam,
Còn Điên chẳng có chùa am dưới này
. 12

Chính điều này đã góp phần bác bỏ giả thiết cho rằng ông Sư Vãi Bán Khoai chính là hòa thượng Huệ Lưu. Tuy nhiên, nếu hiểu núi Sam là quê hương thứ hai của ông Sư Vãi Bán Khoai thì vấn đề sẽ còn phức tạp hơn nữa.

Năm sinh của ông Sư Vãi Bán Khoai đã không rõ, năm mất cũng không rõ. Tuy nhiên, trong Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, đoạn cuối có bài “Lời từ giã” với những câu:

Xưa kia tục cổ ông bà,
Đâu có cắt tóc như đời nay đâu.
Tu hành cũng khá lo âu,
Để tóc mới khỏi thảm sầu từ đây
. (tr. 40)

Từ đó có thể suy đoán rằng ông Sư Vãi Bán Khoai nói “Lời từ giã” này vào khoảng năm 1905, khi cuộc vận động cắt tóc của phong trào Duy Tân nổi lên rầm rộ. Điều này cũng góp phần bác bỏ giả thiết cho rằng năm giáp tý mà ông tiên tri là 1924.

Tuy nhiên, gần đây trên trang http://vi.wikipedia.org có cung cấp thêm thông tin mới về Sư Vãi Bán Khoai như sau:

Ở Bến Tre có một ngôi đền và mộ của Sư Bán Bán Khoai. Nơi đó không có tài liệu nào viết về thân thế và sự nghiệp của vị tu sĩ này, chỉ biết ông tên Huỳnh Phú Minh, pháp danh Sư Vãi Bán Khoai, sinh năm 1898, mất lúc 21 giờ đêm ngày mùng 10 tháng Hai năm Đinh Dậu (1957), hưởng dương 59 tuổi.

Buổi đầu, an táng ông tại Cầu Móng (thuộc Bến Tre), sau cải táng về xã Hương Mỹ, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre.

Ở đền, có phát không quyển Sám giảng người đời, trong đó có 11 cuốn (tổng cộng 2. 422 câu) và ba bài kệ (tổng cộng 128 câu). Tất cả đều viết theo thể lục bát, có chủ đề tương tự như trên. Nhưng căn cứ lời kể của GS. Nguyễn Văn Hầu, Sư Vãi Bán Khoai ở An Giang xuất hiện và giảng đạo trong khoảng năm 1901-1902, thì lúc đó Sư Vãi Bán Khoai ở Bến Tre chỉ mới ba hoặc 4 tuổi, suy ra hai ông sư này không thể là một được”.

Tóm lại, những thông tin về lai lịch của ông Sư Vãi Bán Khoai còn khá mơ hồ, thậm chí bất nhất và nhìn chung là còn khá sơ sài, chủ yếu là do người đời sau suy đoán ra. Việc để tóc, mai danh ẩn tánh, thậm chí giả dạng chính là cách để các nhà sư của phái Bửu Sơn Kì Hương vân du nhập thế dạy đời theo giáo pháp vô vi, bất chấp danh sắc.


2.2. Sấm vãn/sám giảng của ông

Theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh thì “sấm” được hiểu là “lời sấm, đoán việc tương lai”. Còn “vãn”, theo Huình Tịnh Paulus Của, là “chuyện đặt có ca vần”, thường được gọi chung là “vè vãn: tiếng đôi, thường hiểu là vè”. Việt ngữ chánh tả tự vị của Lê Ngọc Trụ gọi đó là tiếng đôi (“chuyện vãn”), nghĩa là một hình thức tự sự. Theo Huỳnh Ngọc Trảng, có các thể văn vần như: vãn ba (3 tiếng/câu), vãn tư (4 tiếng/câu), vãn năm (5 tiếng/câu)… Đặc biệt là thể vãn lục bát, tức truyện thơ Nôm (Sđd, tr. 62).

Đức Phật Thầy Thây An và hầu hết các vị kế truyền của phái Bửu Sơn Kì Hương đều đặt sấm vãn tiên tri thời thế, đoán trước những tai họa sắp xảy ra trong thời hạ ngươn mạt pháp để khuyên bá tánh làm lành lánh dữ, lo tu niệm để tránh nạn tai oan nghiệt. Những bài sấm vãn này thường ở dạng thơ lục bát dễ đọc dễ nhớ nên có sức lan tỏa và lưu truyền rất mạnh mẽ.

Do đặc điểm ngữ âm Nam Bộ nên có sự gần gũi, thậm chí lẫn lộn giữa “sấm vãn” và “sám giảng”, nhất là nội dung của hai thể tài này lại rất gần nhau, đôi khi thật khó phân biệt, ít ra là trong thời kì tôn giáo cứu thế ở Nam Bộ nửa sau thế kỉ XIX và môi trường của Phật giáo Bửu Sơn Kì Hương. Theo Huỳnh Ngọc Trảng, “sám” (ksama) nghĩa là mong được tha tội, “giảng” là thuyết giảng kinh kệ cho mọi người nghe (Sđd, tr. 63).

Chính do sự gần gũi cả về ngữ âm lẫn ngữ nghĩa giữa sấm/sám và vãn/giảng mà đôi khi chúng được dùng hoán đổi cho nhau. Chẳng hạn, cuốn Sám giảng thi văn toàn bộ của Đức Huỳnh giáo chủ ngoài bìa 1 ghi là “Sám giảng” nhưng kể từ bìa lót trở đi thì đều ghi là “Sấm giảng”. Cá biệt, cuốn Sám giãn người đời [tôi gạch dưới – L.C.L.] của nhà in Thạnh Mậu nói trên là do viết sai chuẩn chính tả: lẽ ra phải viết là “sám giảng”. Riêng cuốn do tu sĩ Độc Giác Chơn Như biên soạn lại đặt tên là Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn [tôi gạch dưới – L.C.L.], xem như thêm một bước “đời thường hóa” nội dung của nó.

Trở lại nội dung sám giảng của ông Sư Vãi Bán Khoai, hiện chưa có văn bản nào có thể xem là chính thức, rõ ràng và đầy đủ. Trong cuốn Sám giãn người đời, như đã nói trên, gồm có 11 bài nhưng chỉ có 3 bài có tên ông Sư Vãi Bán Khoai. Điều này chứng tỏ chưa chắc cả 11 bài đó là của ông Sư Vãi Bán Khoai. Vậy thì 8 bài còn lại là của ai? Câu hỏi này cần được tiếp tục nghiên cứu.

Riêng cuốn Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn do tu sĩ Độc Giác Chơn Như biên soạn thì lại không nói rõ biên soạn dựa trên nguồn tài liệu nào, trong lời nói đầu chỉ ghi ghi là: “Quyển sám này có quá lâu nên không còn truyền nữa. Hôm nay quý đạo tâm gặp lại quyển sám này còn hơn gặp lại vàng mà mình đã bị mất từ lâu… Đây cũng là một duyên lành tôi gặp được…”. Cuốn này cũng không đề năm biên soạn và nơi phát hành, cũng không cho biết lai lịch của người biên soạn. Điều đáng nói là giữa cuốn Sám giãn người đời và cuốn Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn vẫn có một số câu giống nhau, chẳng hạn:

Hạ ngươn như sợi chỉ mành,
Sao không tu niệm, tranh giành làm chi.
Phật trời tiên thánh sầu bi,
Cậy ông Sư Vãi mau mau xuống trần.
Sư Vãi vội vã ân cần,
Đi hết khắp bốn cõi trần giáo khuyên.
Thương ông Sư Vãi nhọc nhằn,
Sao thân chẳng biết mấy thân dưới trần.
Giáo khuyên khắp hết bốn phương,
Ai nghe thì lại mến thương vô cùng.
Như ai có muốn làm hung,
Thằng ông lại giả thằng khùng đi xin.
Lại còn giễu cợt chê cười,
Điên khùng nào phải thần tiên đâu là…
Thấy vậy thêm não thêm buồn,
Trở về núi Cấm tiên bồng thuở xưa.
Rồi tôi qua đến bên Tàu,
Bây giờ trở lại An Giang Nam thành.
Tôi đâu có ngại nhọc nhằn,
Cầu cho ai nấy làm lành tu thân.

(Sám giãng người đời, tr. 56 – 57;
Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, tr. 19 – 20).

Sự giống (và khác) nhau này chứng tỏ sám giảng của ông Sư Vãi Bán Khoai có nhiều dị bản, và điều này cũng có nghĩa là nó đã đi sâu vào đời sống tinh thần vô cùng phong phú của nhân dân Nam Bộ.

Về nội dung, nhìn chung sám giảng của ông Sư Vãi Bán Khoai kêu gọi lòng hiếu thảo, tình yêu nhân loài. Điều đáng lưu ý là ông luôn khuyến khích tu niệm bằng tâm đạo, chống tu hành hình thức, chạy theo âm thanh sắc tướng:

Phật không có biểu tụng kinh,
Gắng công khấn bái chúc nguyền mẹ cha
.

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, tr. 5)

Thậm chí ông chủ trương thực hành đúng theo giáo pháp vô vi của Đức Phật Thầy Tây An, tu chẳng cần chùa am, đình quán:

Chẳng cần chùa miễu đình am,
Thảo lư nhơn đức có hàng Quan Âm.
Chùa am rực rỡ chớ lầm,
Là nơi danh lợi giựt thầm nhân gian.

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, tr. 25)

Ông cũng khuyên không nên thờ cốt tượng, chỉ thờ trần điều là đủ:

Tạo làm chi nhiều cốt với hình,
Rồi sau này xem thấy hãi kinh.
Những hình cốt thành hình ám hại,
Cốt với hình sau thành yêu quái.

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, tr. 32)

Ông chủ trương tu không câu nệ vẻ bề ngoài, không cần mặc áo cà sa, cũng không cần cạo đầu:

Tu hành cũng khá lo âu,
Để tóc mới khỏi thảm sầu từ đây.

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, tr. 40)

Đặc biệt, ông luôn tỏ thái độ gìn giữ đạo lí truyền thống của dân tộc bằng việc bài bác đạo Thiên chúa do người Pháp mang đến. Theo ông, đạo Thiên chúa tràn sang Việt Nam là dấu hiệu của thời hạ ngươn mạt kiếp:

Hạ ngươn thay dạ đổi lòng,
Cho nên theo đạo 13 bỏ mà tổ tông.

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, tr. 9)

Như ai muốn ở thiên đường,
Đừng mê theo đạo quỷ dương làm gì.
Như mê theo đạo Huê Kỳ,
Thời là phải bỏ vậy mà tổ tông.
Người đời phải xét cân phân,
Theo đạo nước khác có công danh gì
.

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, tr. 14)

Dù nội dung bao trùm sám giảng của ông Sư Vãi Bán Khoai là tiên tri thời thế – thời hạ ngươn đầy khổ đau, đen tối, lầm lạc – nhưng nó vẫn không vì thế mà bi quan yếm thế. Đằng sau những cảnh tối tăm ấy, ông Sư Vãi Bán Khoai cũng chỉ ra tương lai sáng sủa nước Việt Nam nếu người dân biết tu tỉnh để sống còn mà bước qua thời thượng ngươn thánh đức:

Nước Nam như thể cái lầu,
Ngày sau các nước đâu đâu lại tùng.

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, tr. 9)

Chừng nào Bảy Núi thành vàng,
Thời là bá tánh an nhàn tấm thân.

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, tr. 15)

Chừng nào núi Cấm hóa lầu,
Thời là bá tánh đâu đâu thái bình.

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, tr. 18)

Ông cũng tin tưởng vào sự phục hưng của Phật giáo Việt Nam:

Bấy lâu Phật ở nước Tần,
Bây giờ Phật lại trở lần về Nam.

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, tr. 25)

Niềm xác tín này có lẽ bắt đầu từ Đức Phật Trùm (tức ông Đạo Đèn). Bởi vì Đức Phật Trùm vốn là người Cao Miên (ta gọi là nước Tần), khi chưa tỏ ngộ thì cạo đầu, nói tiếng Miên, nhưng khi đã tỏ ngộ thì lại để tóc, ăn mặc như người Việt và nói tiếng Việt, không nói tiếng Miên nữa, thậm chí ông còn bảo vợ con phải sống theo phong tục người Việt. Và ông tự nhận:

Tuy là phần xác của Mên [Miên],
Hồn Trùm của Phật xuống lên dạy đời
.

(Thất Sơn mầu nhiệm, Sđd, tr. 89)

Tóm lại, Sư Vãi Bán Khoai chính là ông đạo kế thừa giáo pháp Bửu Sơn Kì Hương của Đức Phật Thầy Tây An – nét độc đáo có một không hai của Phật giáo phương Nam: vô vi ẩn dật, vân du dạy đời và cứu người, đặc biệt là đặt sám giảng khuyên người đời tu niệm, làm lành lánh dữ và luôn tha thiết kêu gọi tu tâm:

Khoai lang ăn nấu ăn chiên,
Bà con hãy đến tại thuyền mà mua.
Bao nhiêu cứ lựa cho vừa,
Tiền nong cũng chẳng hơn thua làm gì?
Ở đời lắm chuyện li kì,
Ăn khoai ăn đá đều tùy cái Tâm
.

(Sám giãng người đời)

Có điều, lai lịch ông Sư Vãi Bán Khoai không rõ ràng, và giữa ông với Phật Thầy Tây An (1807 – 1856), đức Phật Trùm (? – 1875) đức Bổn sư Ngô Lợi (? – 1909), và Đức Huỳnh giáo chủ (Huỳnh Phú Sổ, 1918 – 1947) có nhiều điểm khá tương đồng. Thậm chí, trong Sám giảng khuyên người đời tu niệm, Đức Huỳnh giáo chủ có kể việc hai thầy trò nhà sư giả dạng vân du khắp nơi, biến hóa thành đủ thân phận để tùy duyên hóa độ bá tánh và cuối bài sám giảng ông lại cho biết bóng gió:

Đừng ham nói nọ nói này,
Lặng yên coi thử Điên này là ai.
Cảm thương Ông Lão Bán Khoai,
Vì yêu dân chúng chẳng nài nắng mưa
.

(Sám giảng thi văn toàn bộ của Đức Huỳnh giáo chủ, Sđd, tr. 34)

Tín đồ đạo Bửu Sơn Kì Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa và Hòa Hảo tin rằng Đức Phật Thầy Tây An đã nhiều lần chuyển kiếp qua Đức Phật Trùm, Đức Bổn sư Ngô Lợi, ông Sư Vãi Bán Khoai và cuối cùng là Đức Huỳnh giáo chủ. Đây là vấn đề tâm linh huyền bí thật khó mà kiểm chứng. Tuy nhiên, có thể hiểu khái niệm chuyển kiếp theo nghĩa truyền nhân, nghĩa là các vị nói trên truyền thừa nhau để thực hiện pháp chánh truyền của giáo phái Bửu Sơn Kì Hương mà Phật Thầy Tây An đã vạch ra. Và, nếu quả như vậy thì không có một ông Sư Vãi Bán Khoai cụ thể nào, mà đó chính là hiện tượng Sư Vãi Bán Khoai được nhiều người, đồng thời hoặc tiếp nối, đảm nhận như một sứ mệnh thiêng liêng được trao truyền từ Đức Phật Thầy Tây An.

Lê Công Lý
Tâm Duyên chân thành cảm ơn Đ.H. Lê Công Lý đã email chia sẻ.

GHI CHÚ:




1. Hai danh từ “mạt pháp” và “hạ ngươn” ở Nam Kì thường được dung lẫn lộn nhau do quan niệm “Tam giáo đồng qui”.

2. Sách gồm 52 trang, không ghi nơi phát hành, năm phát hành và lai lịch của người biên soạn.

3. Giọng Nam Bộ nói “vãi” với “vải” như nhau [chú thích của L.C.L.].

4. Thất Sơn mầu nhiệm, Nxb Từ Tâm, SG, 1972, tr. 101 – 102.

5. Nước Tần chính là nước Cao Miên, nay là Campuchia. Gọi là Tần vì Cao Miên nằm phía tây Nam Kì lục tỉnh cũng như nước Tần thời Chiến quốc nằm ở phía tây vùng Trung Nguyên của Trung Quốc.

6. Tức cù lao Ông Chưởng, nay thuộc huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

7. Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo, Sám giảng thi văn tòan bộ của Đức Huỳnh giáo chủ, ban Phổ thông giáo lý Trung ương ấn hành, 1971, tr. 34.

8. Dẫn theo Huỳnh Ngọc Trảng, Sđd, tr. 59.

9. Trần Mạnh Thường cb, Nxb văn hóa Thông tin, 1999, tr. 317.

10. Vì chính ông Sư Vãi Bán Khoai tự xưng như vậy:

Khùng này Khùng Phật Khùng Trời,
Cho nên Khùng biết việc đời hết trơn.

(Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, tr. 30)

11.

Ngồi buồn Điên tỏ một khi,
Bá gia khổ não vậy thì từ đây.

(Sám giảng thi văn toàn bộ của Đức Huỳnh giáo chủ, Sđd, tr. 11).

12. Sám giảng thi văn tòan bộ của Đức Huỳnh giáo chủ, Sđd, tr. 34.

13. Hiểu là đạo Thiên chúa.


TÀI LIỆU THAM KHẢO




1. Đào Duy Anh, Hán Việt từ điển, Nxb Văn hóa Thông tin, 2005.

2. Dật sĩ và Nguyễn Văn Hầu, Thất Sơn mầu nhiệm, Nxb Từ Tâm, SG, 1972.

3. Độc Giác Chơn Như, Lời giảng của ông Sư Vãi Thất Sơn, không đề năm xb, nơi xb.

4. Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo, Sám giảng thi văn tòan bộ của Đức Huỳnh giáo chủ, Ban Phổ thông giáo lý Trung ương ấn hành, Long Xuyên, 1971.

5. http://vi.wikipedia.org

6. Huình Tịnh Paulus, Đại Nam quấc âm tự vị, Imprimerie REY, CURIOL & Cie, SG, tập 1: 1895, tập 2: 1896.

7. Huỳnh Ngọc Trảng cb, Sổ tay hành hương Đất phương Nam, Nxb TP.HCM, 2002.

8. Huỳnh Ngọc Trảng, “Ký tả một bài về hòa thượng Huệ Lưu”, Nguyệt san Giác ngộ số 136 (tháng 7/2007).

9. Lê Ngọc Trụ, Việt ngữ chánh tả tự vị, Nxb Khai trí, SG, 1972.

10. Trần Mạnh Thường cb, Đình chùa lăng tẩm nổi tiếng Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, 1999.

SẤM GIẢNG NGƯỜI ĐỜI
Phần thứ nhất
Phần thứ hai
Phần thứ ba
Phần thứ tư
Phần thứ năm
Phần thứ sáu
Phần thứ bảy
Phần thứ tám
Phần thứ chín
Phần thứ mười
Phần mười một (HẾT)
BỬU SƠN KỲ HƯƠNG – TỪ TRƯỜNG CÀN KHÔN CHƠN KINH

THANH SĨ
1 – LỜI VÀNG TRONG MỘNG
2 – VẠN NIÊN HUYNH ĐỆ
3 – RẰM THÁNG MƯỜI
4 – ĐÂU LÀ PHÀM THÁNH
5 – TIẾNG NÓI TRONG HOA SEN
6 – HỠI QUÊ NHÀ
7 – ĐÃ CHẾT MÀ SỐNG
8 – TÔI KHÔNG QUÊN
9 – ÁNH SÁNG TỪ BI
10 – ĐƯỜNG GIẢI THOÁT
11 – THẦN CƠ THẬT LUẬN
12 – CON THUYỀN ĐẠI ĐẠO
13 – ĐỜI MẠT PHÁP
14 – LÀ PHẬT TỬ
15 – TÌNH ĐẠO PHẬT
16 – ĐẾN LIÊN HOA


Comments (8)

 

  1. lecongquyet says:

    Sấm Kệ Bát Nhã của PHẬT THẦY TÂY AN giáng điển
    Bát nhã Ba La lẽ nhiệm mầu
    Ai mà hiểu được giải thoát mau
    Ngẫm suy hành dụng thường tinh tấn
    Ngộ giải Như Lai lẽ nhiệm mầu

    Năm xưa dẫn dụ thế nhân tu
    Mà có mấy ai vén mây mù
    Đi khắp năm châu chùn chân bước
    Trụ lại một nơi chờ Đại Ngưu.
    Đại Ngưu xuất hiện
    Niên Dậu thái bình (2017)
    Hãy cố tu hành
    Kịp, không qúa trễ
    Trụ ngay tại thế
    Ẩn dật tại gia
    Nếu hiểu ý ta
    Tự nhiên chứng đắc:
    Trả nợ qúa gắt
    Ấy tại nghiệp xưa
    Chớ nên đổ thừa
    Tu là cội phước
    Nay đã đến lúc
    Ta sẽ hộ trì
    Tu hạnh Ma Đi ( Samadhi, Thiền Định )
    Y nơi Bát Nhã ( Trí Tuệ Bát Nhã Ba La Mật Đa – Không Hai – Phá Chấp -Không phân Biệt )
    Chiếu kiến tâm ta
    Thất tình ló ra
    Gươm ( Trí ) Tuệ liền chặt
    Vọng tâm đạo tặc ( trong lòng )
    Tuệ tâm soi lòng
    Tâm tự sạch trong

    Cảm thông hiền sĩ đợi mong
    Cơ Trời chưa chuyển nhẫn lòng chờ duyên

    Đất bằng sóng dậy Cơ Trời chuyển
    Ngựa khóc, dê sầu chó sủa vang (2014,2015,,,,)
    Cuộc đời thay đổi như tên
    Đại Ngưu xuất hiện nhân duyên đã kề
    Chó sủa vang, Thánh Hiền nhân về (2018 Hội long Hoa)
    Gánh vác non sông thật nặng nề
    Gắng công sức Tí hả hê {2020 bắt đầu sung sướng)
    Sửu đủng đỉnh về no nê bá tánh (2021 sống đời Nghiêu Thuấn)

    Chúc anh em kham độ nỗi sầu
    Mừng Minh Vương xuất tận khổ đau
    Xuân sang hát câu chúng hòa hợp
    Mới lạ Kỳ Sơn sinh vọng lầu
    Ngộ kỳ sắt nát đồng rỉ chẩy
    Nhập kiền đông xuất thành thảm sâu
    Chân thật không hư, Phật nhiếp chúng
    Tâm hòa tính hảo đạo nhiệm mầu

    Thế sự chuyển đảo điên
    Xuất hiện các Thánh Hiền
    Việt Nam thành cường quốc
    Thế giới rất ngạc nhiên.
    Tránh sau cuộc tương tàn
    Chốn chốn phải nhà tan
    Kẻ-dữ lìa trần thế
    Hiền-nhân ca khải hoàn
    Mùa Thu lá úa vàng
    Dân đỏ phải khóc than
    Gây chi cho dân khổ
    Qủa báo chịu màu tang
    Dậu Tuất Hợi Tí chuyển (2017 bắt đầu vào thời kỳ Thượng Ngươn Thánh Đức)
    Thế giới lại bình yên
    Muôn dân vui thịnh vượng
    Hướng về Phật Thánh Tiên.
    Chúc nhân thế một mùa xuân mới
    Mừng sao ! Bá tánh hết nổi trôi
    Năm Thân Dậu, Phật Trời đã định
    Mới cả Nhân Tâm , mới cả Đời.
    Niên Dậu Thánh Nhân xuất ( hiện )
    Bạch Y đáo Ta bà
    Xứ xứ khởi can qua
    Thế giới chiến tranh chủng ( tộc ) chiến tranh TG lần 3
    Ngọ Mùi tận anh hùng
    Nước Nam Thánh nhân xuất ( hiện )
    Yêu nước lại thương dân
    Chuyển nghèo thành giầu sang
    Xưa hèn nay Bắc Đẩu
    Bạch Y chuyển thuyết khách
    Xứ xứ hội Việt Môn
    Tam niên định bảo tồn
    Thế giới quy nhất thống.
    Muốn gặp kể Bạch Y
    Phải ra sức tu trì
    Y theo lời đại nguyện
    Cơ duyên ngộ cố tri.
    Nếu ở nơi đất khách (người Việt ở nước ngoài )
    Khéo khai mở đạo mầu
    Ba năm chẳng dài đâu
    Đáo về quê Nam Việt
    Kiến Phật tạo Bích lầu…

    Cùng nhau tu ( hành ) :

    Thiện hữu nên khá rõ,
    Việc tu tập không khó
    Nếu biết tận cội nguồn
    Lìa bỏ pháp có, không
    Liền đến bờ Đại Giác.
    Không động cũng chẳng tịnh,
    Tịnh sa vào mê tánh ( tính )
    Động đưa lối ba đường ( súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục )
    Bờ giác khó bước sang
    Nên lìa xa (2) lối ấy.
    Tâm pháp đang diễn bày,
    Cớ sao lại dừng bỏ ?
    Lắng nhìn vô-sở-thọ,
    Diệu huệ ( tuệ ) tự phát sanh ( sinh )
    Đây lối xưa ngàn ( nghìn ) Thánh …
    Hãy khá mà ngẫm suy
    Tìm cho ra diệu lý:
    Cái tánh biết pháp sanh ( sinh )
    Cái tánh biết pháp diệt,
    Cái tánh biết niệm sanh
    Cái tánh biết niệm diệt
    Cái tánh biết tâm tịnh
    Cái tánh biết tâm động
    Cái tánh ấy là gì ( chi ) ?
    Thiện hữu nên suy ngẫm …

    Muốn gặp Thánh Hiền Trời Phật, thì nên Tu Diệu Hạnh :

    (Muốn ) được như thế phải tu Diệu Hạnh:
    Lắng nghe lòng, kiểm soát tâm tư
    Như chủ nhân theo dõi dân phu
    Như khán giả lắng nhìn tuồng hát
    Chuyện than khóc lắm điều bi đát
    Chuyện vui cười đến chuyện dục dâm
    Đừng để cuốn lôi đến lạc lầm
    Mà sanh ( sinh ) khởi thất tình phiền não …
    …..

    …..
    Hỡi người chân tử hãy ngẫm suy
    Lẽ Đạo diệu thâm phải liễu tri
    Lìa vọng, cầu chân: xa Bát Nhã
    Ly hữu, tâm vô: ắt si mê
    Phải đâu Chân lý riêng hai thứ !!!
    Biệt phân tà chánh chẳng ngộ chi !!!
    Lìa sóng, nước tìm …. làm sao thấy !?!
    Giác mê , lẽ ấy, phải ngẫm suy.
    Nhận điển của Phật Thầy Tây An vào rằm tháng giêng 2011 xin hết

  2. lecongquyet says:

    Thời Thượng Ngươn Thánh Đức: 2017 trở đi
    Giờ đây, 2011 Hạ Ngươn cũ đang gần chấm dứt và Thượng Ngươn Thánh Đức mới sắp bắt đầu, 2012 Aquarius Golden Age, trái đất chúng ta hiện sống đang trải qua cơn thanh lọc để tiến lên; đây là cơ sàng sẩy kỳ ba. Điều này có nghĩa là gì? Đây là một đề tài khá rắc rối để giải thích và tôi xin được sơ lược tối đa.

    Vài định nghĩa về thời điểm của Ngươn Kỳ: Đức Vĩ Kiên một trong 32 vi ngọc đế ở cung trời Đao Lợi tiết lộ thiên cơ như sau:
    - Một chu Kỳ lớn là 13 ngàn năm và chia làm 4 kỳ nhỏ.
    - Một Kỳ dài 3250 năm và có đủ Thượng, Trung và Hạ Ngươn.
    - Một Ngươn dài 1083 năm.
    - Hạ Ngươn Kỳ 3 này có đủ Sanh, Trụ, Hoại, Diệt.
    – Hiện giờ đang ở giai đoạn Hoại. Diệt sẽ bắt đầu từ 2012 đến 2016.
    - Thượng Ngươn Kỳ 4 Sanh sẽ từ 2017 – 2028. Rồi sẽ trụ 1000 năm.
    Kỳ này nhân loại sẽ được hưởng thái bình hơn 1000 năm khi bước vào thời Thượng Ngươn Thánh Đức.

  3. lecongquyet says:

    Ngài Phật Thầy Tây An cho thơ:
    CÀN KHÔN QUY NHẤT THỐNG
    Từ xa xưa muôn ngàn ánh sáng
    Đức Tỳ Lô mới giáng thế gian
    Phân chia thiên điển hằng ngàn
    Tạo nên thế giới cho hàng thượng thiên

    Đức Di Đà mới liền giáng thế
    Đó là điển Ngọc Đế hôm nay
    Vĩ Kiên phân điển làm thầy
    Giúp đời thoát nạn những ngày gần đây

    Mười tám đứa con thầy giai chuyển
    Từ phương tây điển chuyển xuống trần
    Cho nên thế giới phân lần
    Có thanh có trược có thần thánh tiên

    Rồi từ đó ngài liền khai triển
    Giao Thích Ca vận chuyển ta bà
    Trung tâm sinh lực ấy là
    Càn khôn vũ trụ Di Đà bấy lâu

    Ngài mới bèn gom thâu ánh sáng
    Tạo càn khôn thế giới ba ba
    Âm dương trên dưới thuận hòa
    Vĩ Kiên khai đạo nhẫn hòa khắp nơi

    Trở về thời xa xưa mờ mịt
    Khi âm dương khắn khí một bầu
    Thái Thượng Lão Tổ đi đầu
    Hai ông còn lại tạo bầu thái dương

    Đến Ngũ Lão âm dương khai triển
    Tạo Bát Quái vận chuyển ngũ hành
    Cho nên trời đất tạo thành
    Thiên trên, địa dưới hợp thành chúng sanh

    Trở về lại công sanh dưỡng dục
    Đức Thích Ca cấu trúc ta bà
    Tam cõi giáo chủ một nhà
    Tám bốn ngàn pháp thật là từ bi

    Là con trưởng từ khi xa tít
    Khi âm dương mờ mịt chưa sanh
    Quán Âm Thị Kính làm thành
    Cứu nhân độ thế tâm lành từ bi

    Đức Bạch Sĩ từ khi giáng thế
    Từ Đao Lợi Ngọc Đế là cha
    Điển Ngài là của điển Bà
    Quán Âm Thị Kính đó là Bạch Y

    Con thứ tám Bạch Y Đạo Sĩ
    Lòng hiền từ cứu độ khắp nơi
    Cho nên ngài đã một thời
    Lập nên thánh chúa để đời thánh kinh

    Nước Nam Việt vì tình sâu đậm
    Với Phật Trời nên sấm truyền rao
    Trạng Trình là người đi sau
    Để vài câu sấm truyền rao nhiều đời

    Đến Phật Thầy tơi bời sanh chúng
    Nạn ung dịch ngài cũng độ tha
    Can qua thế giới ta bà
    Đức Huỳnh Giáo Chủ thật là từ bi

    Đến hôm nay bài thi sanh chúng
    Lo tu mau để trúng bảng vàng
    Chiến tranh thế giới ngổn ngang
    Mấy ai có biết sắp sang tứ kỳ

    Muốn đầu bảng tâm thì như phật
    Lo tu thân tu thật là tu
    Bố thí giúp đỡ kẻ ngu
    Không cầu danh lợi thì tu mới thành

    Muốn được cứu tâm thành niệm phật
    Tu Vô Vi thân thật là thông
    Tu thân giúp đỡ cộng đồng
    Anh em bầu bạn công không mới mầu

    Ba năm nữa bắt đầu thế chiến
    Nhắn bổn đạo tu điển cho mau
    Vô Vi Thân Pháp thầy trao
    Niệm Phật Tâm Pháp thì mau đắc thành

    Cuối năm Thìn đua tranh thế giới (bắt đầu thế chiến thứ 3)
    Mười tám nước nhìn tới biển Đông
    Cho nên thế giới cộng đồng
    Tranh đua võ khí, súng nồng cho to

    Đến năm Mùi thành tro thế giới
    Biển hạt nhân cùng với sóng thần
    Nhận chìm hết lũ X Y
    Đổi trục trái đất xác thân đâu còn

    Mau tu đi để còn sống sót
    Vào thượng ngươn sống trót ngàn năm
    Có Trời có Phật chẳng lầm
    Có ông Bạch Sĩ âm thầm giúp dân

    Đến Đinh Dậu Tân Dân xuống thế
    X Y Z mà để thượng ngươn
    Di Đà ban bố tình thương
    Di Lặc ban pháp đưa đường chúng sanh

    Ngài Di Lặc được sanh Đâu Suất
    Là W V dũng mãnh thần tài
    Di Lặc sau thành Như Lai
    Ta Bà giáo chủ tương lai vị trì

    Hội Long Hoa tại vì sao có
    Hai triệu năm mới ló mới khai
    Khi đó Đức Phật Như Lai
    Bồ Đề đắc quả tương lai phật nhà

    Đấng Di Đà là cha ngài đó
    Phân thân điển khắp chốn càn khôn
    Bồ Đề đắc quả Thiên Tôn
    Di Lặc tái thế Cao Đài ngôi hai
    . . . . . .
    Chuyện sắp đến làu làu trước mắt
    Hãy tu mau chẳng mắc nạn binh
    Vô Vi có Pháp Chiếu Minh
    Đả thông kinh mạch thông minh hơn người

    Nhâm mạch mở cả người thanh thoát
    Dù vàng mười đổi lấy chẳng thèm
    Pháp Luân Thường Chuyển mở thêm
    Đốc mạch khai mở huệ thêm sáng ngời

    Đến năm Mùi cơ trời mới chuyển(2015 tận thế)
    Thâu ngũ hành vận chuyển âm dương
    Thất nhựt bảy ngày tối đen
    Không người sống sót phật bèn ra tay

    . . . . .
    Quần Tiên Hội họp bàn nhơn nghĩa
    Mỗi một người một dĩa CD
    Pháp chung nay gọi Vô Vi
    Bạch Y Huynh Đệ đạo trời lập nên

    Cơ tiến hóa lập nền đạo trị
    Khắp năm châu chọn vị Minh Vương
    Việt Nam ban bố tình thương
    Mọi người hoan hỷ tình thương chan hòa
    ./.
    Bạch Sĩ
    17/7/2010

  4. le manh hung says:

    NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ CHO THƠ
    Này các con:
    Cuộc thế rồi đây ắt đảo điên
    Thử thách nhơn sanh chọn kẻ hiền
    Dự hội rồng mây Ngươn Thánh Đức
    Trần ai hội ngộ Phật cùng Tiên
    Phật cùng Tiên trần miền giáng hạ
    Giúp nhơn sanh tiến hóa kịp kỳ
    Con ơi ráng kịp khóa thi
    Chần chờ ắt lỡ chu kỳ đó con
    Rồi đây biển cạn non mòn
    Hoàn cầu biến động mất còn bể dâu
    Cha thương trần thế dãi dầu
    Tóc tang trải khắp năm châu lần này
    Cha thương, minh triết tỏ bày
    Vì thương, gánh chịu đắng cay cõi trần
    Vì thương, khổ nhục Kim Thân
    Vì thương, chua chát muôn phần lãnh mang
    Vì thương, giáng ngự trần gian
    Vì thương, quyết định lâm phàm kỳ ba
    Vì thương, điện ngọc lìa xa
    Vì thương, nhịn nhục quỷ ma ngu khờ
    Cha thương con trẻ bơ vơ
    Mê trần ngụp lặn cận giờ không hay
    Thiên cơ xoay chuyển gần ngày
    Mà con cứ mãi đắm say thế tình
    Cha thương vẹt lối u minh
    Ban lời minh triết, con khinh con ngờ
    Sao con cứ mãi lửng lơ?
    Tưởng Cơ Tiến Hóa đợi chờ con sao?
    Nhìn con Cha luống nghẹn ngào
    Thương con ngu muội lao đao cảnh trần
    Cạn lời Cha đã tỏ phân
    Mà con khinh rẻ chẳng cần lắng nghe
    Lại còn nặng tiếng khen chê
    Nghi ngờ thật giả, phán phê ông Trời
    Không tin cũng được con ơi!
    Không tin nhưng nhớ lo thời ráng tu
    Không tu ngu muội đui mù
    Không tu rớt cảnh âm u đọa đày
    Cộng đồng phán xét gần ngày
    Long Hoa biến thế hội khai cận kề
    Không tu là mất lối về
    Không tu rơi rớt bên lề Thiên Cơ
    Trống Long Hoa giục đến giờ
    Sao con cứ mãi chần chờ vậy con.
    Cha thương những đứa mỏi mòn
    Chồn chân gối mỏi chẳng còn đức tin
    Biếng công phu bỏ công trình
    Tam Công bê trễ hồn linh lu mờ
    Con gây trở ngại Thiên Cơ
    Rồi mong chóng đến ngày giờ được yên
    Sắp được yên, phải đảo điên
    Chắc gì con được phước duyên sống còn?
    Lòng Cha luống những héo hon
    Khóc con rơi rớt chẳng còn bao nhiêu
    Nhìn con ngu dại chắt chiu,
    Lệ Cha khóc cảnh tiêu điều chẳng vơi
    Thương con, Cha đã cạn lời
    Lời Cha đã cạn mong đời bớt mê
    Ráng tu ráng nhớ lối về
    Ráng sao bảng hổ tên đề kỳ ba
    Ráng sao dự hội Long Hoa
    Là con sưởi ấm lòng già đó con!
    (Ngọc Hoàng Thượng Đế)

  5. Dương Phước Lộc says:

    Amdin vui lòng cho mình xin thông tin liên hệ của bạn lecongquyet nhe!
    cám ơn nhiều

  6. HOVINHTAI says:

    Lời Nhắn Nhủ của Hòa Thượng thượng Tịnh hạ Không sau 3 ngày địa cầu nâng cấp ( 21-22-23 tháng 12 năm 2012)
    Khi tai kiếp đến, người đáng ở sẽ được ở, người đáng đi thì phải đi. Sống chết đều có số, phú quý mạng đã định, tránh không được, thoát không khỏi. Người số mạng không bị nạn, dù đại tai kiếp đến, vẫn được sống sót bình an. Điều duy nhất ở hiện tại có thể tự cứu và độ tha, chính là nghe “Đại Kinh Giải”, y giáo phụng hành, lão thật niệm Phật, buông xả vạn duyên, cầu sanh Tịnh Độ. Công đức niệm Phật bất khả tư nghì. Chỉ có niệm Phật sửa lỗi mới giảm bớt tai nạn, những phương pháp khác không còn kịp nữa rồi. Diệt trừ vọng niệm, nhất thiết đều tuỳ duyên là tốt.
    Ngày 12 tháng 4 năm 2011

  7. thành says:

    MẪU TRUYỀN LONG HỘI
    Quy y Pháp nguyện Phật Trời

    Khai minh toả sáng cải đời lầm mê

    Chúng sinh thông tỏ đường về

    Long Hoa Tam Hội phép lề quang minh

    Quy y tăng giáng phủ kinh

    Khai Hoa Đại Đạo chúng sinh thoát nàn

    Đổi thay lòng dục tính phàm

    Sống đời lương thiện bình an đêm ngày

    Thế thời sáng tỏ từ nay

    Chúng sinh nhân loại nhờ tay Phật Trời

    Tay Bồ Tát hoá sinh năng lượng

    Giữa cõi Trần âm hưởng Mẹ khai

    Linh thiêng trước cửa Phật Đài

    Có hay mới hiểu đúng sai thế nào

    Thế mới rõ nhân nào quả ấy

    Kẻ phàm Trần nghiệm lấy lời Ta

    Nay gần kết thúc canh ba

    Ngày giờ Thiên định ấy là vận Thiên

    Ai là kẻ có duyên được khởi

    Mẹ bắc cầu tìm tới đổi trao

    Ta đây không định mời chào

    Nhưng vì nhiệm vụ Trên giao Ta làm

    Đời là thế vô vàn biến đổi

    Mẹ thương tình xá tội giúp cho

    Mải mê tính chuyện đói no

    Suy bì hơn thiệt so đo nghèo hèn

    Nơi bể ải đua chen xô đẩy

    Bạc với tiền ai cậy nhờ ai

    Nhìn về thế giới tương lai

    Long Hoa nở rộ nhân tài cứu dân

    Mẹ đã quyết xoay vần con tạo

    Tuyển đàn con nhân đạo trồng người

    Liệu lo mọi việc tốt tươi

    Cân tài cân đức rõ mười vàng Thiên

    Thế có được Vua hiền Tướng giỏi

    Ngọn từ bi soi rọi mười phương

    Tự nhiên ngát xạ thiên hương

    Bao đời sự thật đời thường khó tin

    Giáng thuỷ thanh mát cả tâm can

    Có phúc phước lộc Mẹ ban

    Cam lồ Mẹ tưới Trần gian mát nhuần

    Trên đã chứng Âm hoà Dương thuận

    Cứu phàm Trần mạt vận đắng cay

    Nhiệm màu linh phép trao tay

    Thiện duyên hiển ứng thấy ngay thôi mà

    Ơn nhờ ân ban Phật Bà

    Ra tay che chở tai qua bệnh lành

    Tài tỏ rõ lừng danh thiên hạ

    Nghĩa Đạo là vô giá người ơi

    Giàu sang sướng khổ do Trời

    Việc do Thiên định đến thời phải ra

    Khai Đại Đạo Long Hoa Mẫu giáng

    Tịnh Tâm ngồi tuệ sáng linh thông

    Thiên thủ thiên nhãn được trông

    Mai ngày sáng tỏ sắc không giữa Trần

    Long Hoa độ thế cứu dân

    Long Hoa có cải có cần mới nên

    Long hoa Nguồn Cội vững bền

    Long Hoa trong ấm ngoài êm muôn phần

    Long Hoa Tam Hội ban ân

    Long Hoa thế giới vinh ân rõ ràng

    Long Hoa an hưởng giàu sang

    Long Hoa trí tuệ mở mang nhân tài

    Long Hoa cứu vớt nhân loài

    Long Hoa mở Hội trong ngoài đồng tâm

    Long Hoa Phật Pháp sáng ngần

    Long Hoa đời được sống gần Phật Tiên

    Long Hoa Phật Mẫu xe duyên

    Long Hoa mới rạng vàng Thiên giữa đời

    Long Hoa thay thế đổi thời

    Long Hoa nghiệm phép Luật Trời xét cân

    Long Hoa sàng đức sàng nhân

    Long Hoa có phúc có phần Trời ban

    Long Hoa giải nghiệp giải oan

    Long Hoa xoá sạch tai nàn qua mau

    Long Hoa Thiên Thượng đứng đầu

    Long Hoa mới rõ nhiệm màu Phật Tiên

    Long Hoa ứng báo nhãn tiền

    Long Hoa Tướng giỏi Người Hiền ra tay

    Long Hoa tâm đức cao dày

    Long Hoa độ thế đêm ngày cứu dân

    Long Hoa Phật giáng cõi Trần

    Long Hoa Bồ Tát Quan Thế Âm dẫn đường

    Long Hoa trên kính dưới nhường

    Long Hoa giữ Đạo cương thường nghĩa nhân

    Long Hoa Địa Mẫu ban ân

    Long Hoa đại độ xa gần hưởng chung

    Long Hoa gìn giữ hiếu trung

    Long Hoa xét đến tột cùng sắc không

    Long Hoa quảng đại thần thông

    Long Hoa Thế Giới Đại Đồng sướng vui

    Long Hoa quyết tiến không lùi

    Long Hoa Tam Hội ngát mùi hương sen

    Long Hoa xoá hết nghèo hèn

    Long Hoa toàn giới Phật Tiên sum vầy

    Long Hoa thế giới đổi thay

    Long Hoa giang rộng bàn tay đón người

    Long Hoa học vận Thiên thời

    Long Hoa cải hoá cuộc đời lầm mê

    Long Hoa thông tỏ đường về

    Long Hoa gìn giữ phép lề quang minh

    Long Hoa sâu nặng nghĩa tình

    Long Hoa khoa học tâm linh nhiệm mầu

    Long Hoa Phật Pháp cao sâu

    Long Hoa Cha Mẹ bắc cầu cho sang

    Long Hoa cửa rộng thênh thang

    Long Hoa quy chính thế gian cải tà

    Long Hoa huyền diệu vô vàn

    Long Hoa tâm đức muộn màng chẳng lo

    Long Hoa áo ấm cơm no

    Long Hoa xây dựng tự do hoà bình

    Long Hoa chung một gia đình

    Long Hoa Pháp Giới Thiên Đình truyền trao

    Long Hoa đức rộng tài cao

    Long Hoa ba cõi đi vào tâm linh

    Long Hoa bất lão trường sinh

    Long Hoa Phật độ chính tinh Sao Trời

    Long Hoa thông tỏ thế thời

    Long Hoa mới thực Nước Trời Lạc Bang

    Long Hoa an hưởng thanh nhàn

    Long Hoa mẹ giỏi con ngoan đạo lành

    Long Hoa Nam Việt thịnh hành

    Long Hoa sự nghiệp tất thành quán quân

    Long Hoa nở rộ mừng xuân

    Long Hoa Tam Hội hiền nhân kết đoàn

    Long Hoa tâm đức là vàng

    Long Hoa cuộc sống đàng hoàng trường Thiên

    Long Hoa toàn giới Phật Tiên

    Long Hoa xây dựng Thượng Nguyên Mẫu truyền

    Nghe ba tiếng sấm lệnh truyền

    Long Hoa tỏ ngộ lời khuyên cao dày

    Long Hoa linh phép đủ đầy

    Long Hoa tu luyện đêm ngày tinh thông

    Long Hoa năm uẩn là không

    Long Hoa giáng thế đời trông rõ ràng

    Long Hoa cứu khổ cứu nàn

    Long Hoa che chở mạt sang yên lành

    Long Hoa chẳng dám lợi danh

    Không sân không hận không sanh chức quyền

    Sáu trần thanh tịnh như thiền

    Long Hoa sáng tỏ nhân duyên Phật Trời

    Long Hoa Tam Hội sáng ngời

    Long Hoa Mẹ dặn con thời chớ quên

    Sống đời lương thiện bình yên

    Đời gây nghiệp quả ứng liền chẳng sai

    Long Hoa hội đủ đức tài

    Mẹ khuyên nên nhớ miệt mài luyện tu

    Nhẫn nhục mới đặng trượng phu

    Đời không phân biệt bạn thù con ơi

    Long Hoa là ánh đăng Trời

    Trong vòng lục đạo cứu đời chúng sinh

    Long Hoa Phật Pháp quang minh

    Xua tan nghịch cảnh bất bình trần ai

    Nhân loài đúng đúng sai sai

    Long Hoa xoá sạch chiêu bài mị dân

    Sấm vang thức tỉnh cõi Trần

    Mau mau tìm hội Long Vân nương nhờ

    Phật Bà chuyển hoá nước cờ

    Cờ Tiên bảy ngọn vô bờ hiển linh

    Long Hoa khai sáng khai minh

    Hư không Địa Mẫu hoá sinh muôn loài

    Đạo Phật có một không hai

    Trần gian mê muội mấy ai tỏ tường

    Long Hoa chung một con đường

    Xây nền hạnh phúc Âm Dương thuận hoà

    Long Hoa trong ngọc trắng ngà

    Mọi người chung sống thật thà tu tâm

    Long Hoa đại xá lỗi lầm

    Long Hoa một phút xuất thần làm mê

    Long Hoa thấu Địa thông Thiên

    Long Hoa siêu độ Tổ Tiên xa gần

    Giúp đời báo đáp thụ ân

    Long Hoa trừ diệt bất nhân độc tài

    Tâm tà khẩu Phật làm oai

    Áo thầy khoác vỏ tiền tài ô danh

    Long Hoa quyết quyết phải thành

    Long Hoa rửa sạch hôi tanh bụi Trần

    Khuyên người làm đức làm nhân

    Long Hoa ban phước hồng ân đẹp giàu

    Long Hoa tâm đức làm đầu

    Long Hoa trí tuệ nhiệm màu thần thông

    Long Hoa muôn pháp là không

    Long Hoa giải thoát khỏi vòng nghiệp oan

    Long Hoa tỏ ngộ Thánh – Phàm

    Long Hoa đời được tỏ làn hư không

    Giữa Trần sắc sắc không không

    Long Hoa chính thực vàng ròng Trời trao

    Tình thương cõi Thế dạt dào

    Hư không Địa Mẫu đưa vào tâm linh

    Mẫu truyền Mẫu giáng Chân Kinh

    Vô vi diệu pháp vô hình thâm thâm

    Phật rằng Phật tại Chân Tâm

    Thiện duyên mới được hồng ân lưu truyền

    Đến thời thấu tỏ vận Thiên

    Nhiệm màu phép Phật vô biên phước lành

    Có tâm muôn sự viên thành

    Ngọc vàng như cát như sành, người ơi!

    Long Hoa nghiêm luật dưới đời

    Đói no sướng khổ Đất Trời ban cho

    Vàng Tâm không thể cân đo

    Của Trời nhiều lắm trong kho còn đầy

    Long Hoa sự thật thẳng ngay

    Luân Hồi Nhân Quả mê say khôn lường

    Hoạ vận mấy kẻ ổi ương

    Trong lòng bao lỗi vẫn vương ưu phiền

    Long Hoa độ thế tuỳ duyên

    Long Hoa xuất thế Thần Tiên nhiệm màu

    Long Hoa huyền diệu cao sâu

    Cứu đời thoát khỏi nỗi đau bao ngày

    Đời thường ôm hận đắng cay

    Tham lam dục vọng nghiệp dày nợ mang

    Có tin có tín thì sang

    Long Hoa bắc nhịp cầu an cho đời

    Thanh thuỷ Tiên Thiên phép Trời

    Cam lồ Mẹ tưới tốt tươi muôn phần

    Long Hoa thuốc Phật cứu Trần

    Long Hoa toả sáng ngàn lần vinh quang

    Long Hoa thế giới chuyển trang

    Long Hoa cuộc sống ngày càng phồn vinh

    Long Hoa trên dưới đồng tình

    Long Hoa xã hội văn minh đẹp giàu

    Đại Đồng Thế Giới năm châu

    Long Hoa nối một nhịp cầu bờ vui

    Hoa thơm dâng trái ngọt bùi

    Long Hoa nở rộ ngát mùi hương thơm

    Phật Bà Bồ Tát Tuyết Sơn

    Giáng Trần cứu khổ nguồn cơn tỏ tường

    Long Hoa gìn giữ kỷ cương

    Long Hoa quy tụ hiền lương siêu phàm

    Long Hoa tỏ ngộ long đàm

    Long Hoa rực sáng hào quang đêm ngày

    Quy luật thế sự đổi thay

    Long Hoa Tam Hội giáng tày việc Thiên.

    *****

    Luyện truyền giáng phẩm Kinh Hoa

    Tâm Kinh nhật tụng ta bà mênh mông

    Chăm cầu chăm nguyện viên thông

    Đời thường gìn giữ tâm trong phúc lành

    Sắc không cứ để tiến hành

    Làm sao thoát khỏi tử sanh luân hồi

    Ở trên thì đã có Trời

    Dưới Trần có Phật độ đời cứu sinh

    Lệnh đây từ ở Thiên Đình

    Có Ngài Bồ Tát Quang Minh soi đường

    Khai thông năm uẩn sáu trần

    Cho đời trí tuệ xuất thần như Tiên

    Người người tỏ ngộ nhân duyên

    Long Hoa mở Hội Trường Thiên nhiệm màu

    Tòng tâm sở ý nguyện cầu

    Cầu xin Đức Phật trên đầu chứng minh

    Thành tâm nhất niệm anh linh

    Mẹ Cha ban phước khang minh thọ trường

    Ơn nhờ Mẹ mở lòng thương

    Quan Thế Âm Bồ Tát dẫn đường con đi

    Thương đời mạt kiếp đen sì

    Nhiệm mầu phép Phật linh chi Mẹ truyền

    Đại bi Mẹ mở trường yên

    Long Hoa cứu độ mọi miền gần xa

    Có công hành thiện phúc nhà

    Nhớ lo thờ phụng Ông Bà Tổ Tiên

    Đời đời toả ánh đăng nhiên

    Nếu mà lầm lỗi con nguyền độ tha

    Long Hoa thờ Phật tại gia

    Trong nhà Địa Mẫu Phật Bà hiển linh

    Xét soi cho rõ sự tình

    Một lòng vì Đạo quên mình dựng xây

    Thiện duyên mới được thơm lây

    Ai ơi xin nhớ từ rày tu tâm

    Thế ra tội tránh phúc tầm

    Duyên ai lại tới có phần trao tay

    Long Hoa phúc đức cao dày

    Cứu đời ra khỏi bàn tay tử thần

    Thế thời trong buổi sàng nhân

    Thấy con khờ dại ngu đần mà thương

    Phong trần thuỷ hoả tai ương

    Đam mê vật chất vấn vương trong lòng

    Tham lam, sân hận khôn cùng

    Tương lai nào thấy mịt mùng tối đen

    Trầm luân khổ ải đua chen

    Mạt sang xoá sạch ngu hèn con ơi!

    Long Hoa Tam Hội sáng ngời

    Hồng phúc muốn hưởng còn thời tu tâm

    Cầu xin Bồ Tát Quan Thế Âm

    Đại xá cho những lỗi lầm xưa nay

    Tụng Kinh con nguyện từ đây

    Thành tâm sám hối đổi thay tính phàm

    Luyện rèn khẩu ý thân tâm

    Xa lìa bể khổ trầm luân lạc loài

    Pháp Không tu học miệt mài

    Tam quy ngũ giới tâm trai tu hành

    Đời không phạm tội sát sinh

    Thái bình thế giới yên lành vui chung

    Một lòng giữ đạo hiếu trung

    Không gian không dối bao dung độ đời

    Trộm cắp ăn chặn của người

    Luật hình tội nặng muôn dời không tha

    Tà dâm mưu chước quỷ ma

    Một thời lầm lỗi đạo sa nghèo hèn

    Rượu vào tính quẩn bon chen

    Bê tha chè chén đỏ đen bạc tiền

    Phạm vào lắm nỗi oan khiên

    Đời không chân chính đảo điên nhiều bề

    Dưới Trần còn lắm đam mê

    Che khuất chẳng tỏ đường về Lạc Bang

    Gian nan là lửa thử vàng

    Loạn thời vì lũ quan tham nhũng nhiều

    Trần gian phản loạn đủ điều

    Kỷ cương phép nước tà yêu quấy rầy

    Nghiệp oan kiếp kiếp chất đầy

    Vì không trì giới hoạ này phải mang

    Long Hoa mở Hội lọc sàng

    Hai ngàn phép thử ôm vàng mà lo

    Mê thì phải chịu rủi ro

    Tu nhân tích đức chẳng lo phận nghèo

    Nhân lành tăng trưởng ươm gieo

    Xuân về hoa nở xuân gieo lộc chồi

    Thế gian sinh diệt luân hồi

    Long Hoa Tam Hội Đất Trời ban ân

    Phật Bà Bồ Tát Quan Âm

    Đại bi cứu khổ dưới Trần qua mau

    Bàn tay phổ độ nhiệm màu

    Cứu sinh nhân loại toàn cầu bình yên

    Độ đời bởi có nhân duyên

    Long Hoa tu Phật tu Tiên phúc dầy

    Đạo Mầu sáng tỏ từ nay

    Tâm linh ba cõi ra tay cứu nàn

    Duyên lành Phật độ bình an

    Con nguyền nhập cõi Niết Bàn tu tâm

    Đời xưa nay phạm lỗi lầm

    Giờ xin sám hối giữa Trần độ nhanh

    Năm câu niệm Phật hiệu danh

    Thuyền từ cứu độ nạn lành chúng sinh

    Hư không Địa Mẫu dưỡng sanh

    Phù linh diệu dược nước thành thuốc Tiên

    Bạch Y Tuyết Sơn ứng liền

    Di Lặc độ thế viên thiên đủ đầy

    Thiên Đình khởi lệnh cung mây

    Hội Hoa cứu thế đợi ngày xuất quân

    Toàn người hiền sĩ siêu nhân

    Đời không vướng bẩn bụi Trần thanh cao

    Thiên Đình Pháp Giới truyền trao

    Quan Âm Bồ Tát phép mầu tưới ban

    Độ người tâm đức giàu sang

    Tài cao đức rộng mở mang thế thời

    Long Hoa Đại Đạo hoàng khai

    Ta bà thế giới người người tỏ thông

    Dựng xây Thế Giới Đại Đồng

    Bỏ ác làm thiện đời không hận thù

    Minh tâm trì giới chuyên tu

    Tuệ năng tinh tiến hết ngu hết hèn

    Từ bi thắp sáng ngọn đèn

    Đặng chờ chín phẩm Đài Sen phúc nhà

    Vận này Hội hết tinh hoa

    Ba ngàn năm trước trải qua một thời

    Hư không Mẫu định tính rồi

    Di Lặc độ thế thay thời Thích Ca

    Chính Ngài Giáo chủ Long Hoa

    Cùng với Bồ Tát Phật Bà Quan Âm

    Khai hoa độ thế cứu dân

    Ta bà đứng chủ Long Vân bảo toàn

    Phật Trời giải thoát thế gian

    Thiên Đường cực lạc hân hoan đón người

    Tinh hoa là của Đất Trời

    Chăm hoa hoa nở ngàn đời ngát hương

    Chính Đạo chỉ một con đường

    Nguyện cầu Tam Bảo thập phương soi đường

    Sáu trần năm uẩn là không

    Chí Minh Ngọc Phật còn trông còn chờ

    Giáng Trần khuyên bảo con thơ

    Lên Thuyền Bát Nhã sang bờ tâm linh

    Tới nơi bờ giác hiển vinh

    Hành thâm Bát Nhã vô minh nhiệm mầu

    Phép Phật huyền diệu cao sâu

    Long Hoa Tam Hội bắc cầu cho sang

    Sửa sang cá tính lửa lòng

    Thật thà ngay thẳng không gian dối người

    Từ bi hỷ xả cho đời

    Thù xưa oán mới nguyện lời độ tha

    Nguyện từ khẩu ý chua ngoa

    Gắng công xây thiện giữ hoà đức nhân

    Sinh thành báo đáp phụ ân

    Hiếu trung gìn giữ cán cân công bằng

    Vợ chồng bách lão giai niên

    Thề không lỗi đạo ngừa ngăn phụ tình

    Anh em trong một gia đình

    Trên hoà dưới thuận kính nhường giúp nhau

    Bạn bè trọn nghĩa trước sau

    Thế thời mới được dài lâu vững bền

    Đạo thầy nghĩa tớ không quên

    Phép khuôn gìn giữ nếp nền sáng trong

    Ơn sâu tạc dạ ghi lòng

    Được ăn quả ngọt nhớ công gieo cày

    Đạo mầu góp sức dựng xây

    Hồng phúc Cha Mẹ trao tay con cầm

    Thời cơ Tạo Hoá xoay vần

    Tu hành nhập thiện có phần nào cho

    Long Hoa Tam Hội chuyến đò

    Đưa người lương thiện sang bờ phúc vinh

    Nhiệm mầu khoa học tâm linh

    Đèn Trời đuốc Phật Tâm Kinh dẫn đường

    Tâm sáng soi rọi mười phương

    Trừ đi cộng lại Âm Dương tổng hoà

    Đất Trời kết lại tinh hoa

    Thiên Đường rộng mở giáng Toà Bồng Lai

    Long Hoa quy tụ nhân tài

    Độ đời cứu thế trong ngoài ấm êm.

    *****

    Giờ mạt vận xoay vần đã đến

    Cõi Trần phàm pháp giới ta bà

    Lệnh truyền lập Đại Đạo Hoa

    Cứu sinh mạt kiếp ta bà khắp nơi

    Phép mầu nhiệm đã thời sáng tỏ

    Thuốc dược đông rạng rỡ núi hồng

    Thuỷ thanh cam lộ tương đồng

    Giáng về Trần thế cứu vòng hoạ tai

    Khai Bút Pháp tỏ bày sau trước

    Mệnh Thiên Cơ đã bước khởi đầu

    Canh ba gần cuối dãi dầu

    Thanh lọc Hoa Hội chứng vào cứu sinh

    Nay Phật Mẫu rõ tình ban xuống

    Lệnh ta bà tỏ tưởng Long Hoa

    Lệnh cho Tam Bảo Ba Toà

    Lọc xong hoàn sổ Long Hoa báo về

    Giờ Trái Đất bốn bề khói lửa

    Nước lũ dâng dàn dụa lệ sầu

    Chuyển rung sập lở rõ màu

    Hoạ tai xẩy đến Hoàn Cầu khắp nơi

    Bệnh dịch, hoạn nạn tơi bời

    Khổ đau Trần thế mệnh Trời chuyển xoay

    Trần phàm nào có ai hay

    Không tu có thoát nạn này được chăng?

    Mẫu về Mẫu đã khuyên răn

    Bao nhiêu năm đã tỏ phần cùng con

    Thế nhưng thấy ướp hằng còn

    Đồng tiền chức trọng mỏi mòn phàm nhân

    Mẫu về phán bảo ân cần

    Khuyên con Trần thế tu nhân tròn đầy

    Vậy mà nghịch cảnh đổi thay

    Đã không tu lại nhiếc rầy người tu

    Chỉ quen bịp bợm bòn xu

    Chỉ quen ăn uống lu bù rượu bia

    Chỉ quen ông nọ bà kia

    Chỉ quen ăn nói lè nhè nhuốc nhơ

    Mẫu đã phán thiên thu tai hoạ

    Mẫu đã truyền thiên hạ u sầu

    Mẫu truyền đại mạt tỏ màu

    Thiên Cơ vận chuyển vào đầu Thượng Nguyên

    Thương con Trần thế Mẫu truyền

    Để mà tu đức phước duyên đủ đầy

    Vậy nên mạt vận vần xoay

    Cũng đà khởi điểm tỏ bày Trần gian

    Nay Hoa Hội huy hoàng báo rõ

    Lập Đạo Mầu cứu độ muôn dân

    Mẫu sàng Mẫu sẩy Mẫu cân

    Ba Toà Tam Bảo lọc dần Thượng Nguyên

    Thiên Đình Pháp Giới lệnh truyền

    Tam Bảo giáng bút đồng phiên ta bà

    Giáng Thơ vận mệnh phán ra

    Để cho dân chúng biết mà tu thân

    Thế mới biết Trời cân Trời nhắc

    Thế mới tường loạn lạc Trần phàm

    Cho dù cốt cách khôn ngoan

    Đồng tiền chức trọng gian tham mạt về

    Cho dù biết vận chuyển bề

    Mà không tu được cũng về mạt kia

    Cho dù Vua Tướng đó thì

    Mà không tu được cũng về một nơi

    Cho dù tu Phật tu Trời

    Tâm xà khẩu Phật mạt thời không qua

    Cho dù làm thầy cúng ma

    Làm không đúng pháp cũng ra một gò

    Cho dù làm thầy tu chùa

    Tu không chính đạo, không chừa một ai

    Lệnh truyền Thiên Thượng tỏ bày

    Tu Trời tu Phật ai ai cũng đồng

    Mới thời qua được bên sông

    Bên bờ giáp ngạn Đại Đồng Thượng Nguyên

    Con Thuyền Bát Nhã ngày đêm

    Sàng đi lọc lại, người hiền chở qua

    Lệnh truyền Đại Đạo Long Hoa

    Pháp Giới thành lập học là Phép Thiên

    Cứu hết tất cả người hiền

    Trong thời mạt vận Thượng Nguyên đón về

    Nay Pháp Giới Thiên Đình báo rõ

    Mệnh Thiên Cơ đã tỏ mạt sang

    Giữa đông Kỷ Mão có hàng

    Đầu Xuân năm mới chứng sang Canh Thìn

    Long Hoa Tam Hội cứu nàn

    Long Hoa Tam Hội lọc sàng Thượng Nguyên

    Long Hoa Mẫu phán Lệnh truyền

    Long Hoa thực hiện chứng phiên Ý Trời.

    *****

    Long Hoa báo rõ mọi nhà

    Phải biết tu Phật mới thoát qua

    Kỳ thời mạt vận nơi Trần thế

    Đò chiều chuyến chót vượt Ngân Hà

    Thượng Nguyên tu Phật tại gia

    Ai ai cũng phải tu là mới yên

    Mệnh Thiên Cơ đã chuyển miền

    Con Thuyền Bát Nhã về bên vĩnh hằng

    Thượng Nguyên phải được sáng trong

    Sàng đi lọc lại ở dòng tu gia

    Thiên Đình Pháp Giới ta bà

    Báo cho tất cả tu gia Lệnh này

    Thương cho dân chúng ngu nguây

    Thế thời chuyển vận tỉnh say biết gì

    Trên Trời đã thấy rõ thì

    Chòm Sao Bắc Đẩu nghiêng về phương Nam

    Thiên Đình hạ thế Trần gian

    Cứu đời mạt vận, vớt sang thái bình

    Luật Trời như ánh bình minh

    Từ đất Nam Việt giáng linh báo cùng

    Báo khắp thế giới muôn vùng

    Hoạ tai mạt kiếp tỏ tường Trần gian

    Nay Ta báo tin rõ ràng

    Thượng Nguyên tất cả chuyển sang tu nhà

    Thượng Nguyên cứu vớt cơn qua

    Thượng Nguyên cứu thế gian qua mạt này

    Thượng Nguyên đến được mới tài

    Thượng Nguyên được hưởng đủ đầy sướng vui

    Thượng Nguyên chia ngọt sẻ bùi

    Thượng Nguyên thế giới loài người bình sinh

    Thượng Nguyên thế kỷ tâm linh

    Thượng Nguyên mới có thái bình Trần gian

    Thượng Nguyên đời rộng thênh thang

    Thượng Nguyên sáu vạn niên tràng sướng vui

    Thượng Nguyên khoa học đổi đời

    Thượng Nguyên khoa học mới thời cao siêu

    Thượng Nguyên Ta báo đã nhiều

    Thượng Nguyên Vũ Trụ như diều bay cao

    Loài người đến các vì sao

    Thượng Nguyên tất cả đi vào tâm linh

    Ta, Đệ Tử Thiên Đình báo rõ

    Đời Thượng Nguyên chan chứa tình người

    Phải qua mạt vận thế thời

    Di Lặc mới vớt về đời Thượng Nguyên.

    (LC Việt Nam, 12-1999)

    (Từ kynguyentamlinh.com,thơ văn linh cảm)

  8. thái dương thanh says:

    Chuyễn thế xây đời buổi Hạ Ngươn.
    Dầu cho gian khổ dạ không sờn.
    Rãi gieo chơn lý dìu sanh chúng.
    Thức tĩnh tu hành đúng lẽ chơn.
    Nhẫn nhịn thương yêu hòa thuận mãi.
    Cho tròn bổn phận chớ tranh hơn.
    Thượng Ngươn Thánh Đức đang chờ đón.
    Tài Đức vẹn toàn trọn nghĩa nhơn.

Leave a Reply