ÁNH SÁNG CAO ĐÀI và SỨ MẠNG CỦA NGƯỜI DẪN ĐƯỜNG

Dec 14, 10 | Tâm Duyên | 2,582 views | 3 Comments



Share |






8

Dạy trẻ con toan trước dạy mình
Cái ơn giáo hóa cũng đồng sinh



Đó là lời truyền ngôn của Đức Chí Tôn năm xưa. Nó có giá trị như một sự phản tỉnh, hồi tâm xét mình của người tín hữu. Đời có bản chất của nó là sự đảo điên, hư vọng. Bản chất của đời – hay đúng hơn của con người sống trong cõi đời này – là nhìn và nhận định về sự vật, hiện tượng một cách sai lệch, không đúng với thật tướng. Đây là sự khác biệt cơ bản, có thể coi là duy nhất giữa đời và đạo, giữa người có niềm tin, lý tưởng về tôn giáo với người không có niềm tin. Sự sai biệt này khiến cho chúng ta xác định được giá trị đích thực của sự hiện hữu tôn giáo trong cuộc sống xã hội và con người.

Ánh sáng sẽ làm cho con người bừng sáng, nhìn rõ chân tướng sự vật: đúng nói đúng, sai bảo sai, đâu là hạnh phúc và đâu là gốc, là nguyên nhân của những khổ đau mà con người trần thế này luôn sợ sệt, nhưng lại không tránh khỏi.

Cho nên, Đạo luôn được ví như Ánh Sáng và người đạo được ví như kẻ cầm đuốc soi đường. Ngọn đuốc và người cầm đuốc tuy là hai thực thể, ở hai vị trí, hoàn cảnh khác nhau, nhưng thực ra mà nói, cả hai đều cực kỳ quan trọng, không thể tách rời, phủ nhận nhau được. Thử nghĩ, có đuốc, nhưng lửa đâu? Ai châm lửa khơi nguồn cho ánh sáng phát ra và rồi cầm đuốc để chỉ nẻo dẫn đường soi tỏ bước đời tăm tối của chúng nhân? Còn nếu, có người sẵn sàng tình nguyện, xung phong cầm đuốc nhưng họ lại không biết mồi lửa, không biết duy trì, làm thế nào cho lửa khỏi tắt giữa đêm giông, và kể cả việc cầm đuốc đi theo nẻo đường nào cho chóng tới, hay liệu khi cầm đuốc rồi có chịu làm người chỉ nẻo dẫn đường không, hay lại loanh quanh làm người dạo rong vô ích?

Đuốc là Đạo, là chơn lý tối thượng, là ánh sáng nhiệm mầu của tuệ giác. Mà Đạo là sự thanh tịnh của những lòng dục đảo điên đã lắng đọng, chỉ còn ngời sáng một bản thể vi diệu tinh tuyền. Đạo là lửa phát ra nguồn nhiệt vĩ đại có công năng tiêu diệt, soi thủng màn vô minh và sự u tối dày đặc từng bao phủ trong chơn thần trí não của con người. Đạo là lửa được khơi lên, được chuyền mồi, có sức lan tỏa, sưởi ấm cho những tâm hồn cô đơn lạnh lẻo của con người trần thế. Cho nên, đuốc và lửa, nếu được thắp lên sẽ phát sáng – ánh sáng thiêng liêng không ngằn mé – thì ánh sáng ấy chính là lực, là ơn cứu rỗi của nền Chơn Giáo Cao Đài do chính Đức Chí Tôn truyền thế.

Giờ chỉ cần người dẫn đường, người cầm đuốc – người ấy có trách vụ vô cùng quan trọng, vô cùng mật thiết, cũng như sự cần thiết và quan trọng của lửa vậy. Sẽ không cần phải nói gì thêm nữa nếu như những người cầm đuốc, làm sứ mạng chỉ nẻo soi đường, hội tụ được các kỹ năng của người tiên phong: biết phương pháp, xông xáo đi đầu, dám hy sinh, chẳng sợ chướng ngại và tất cả là chỉ vì lợi ích của cộng đồng, của tập thể mà thôi. Thế nhưng, thực tế cho thấy, đuốc lửa sẵn, nhưng người cầm đuốc thiếu những kỹ năng, điều kiện và yếu tố cần thiết của người tiên phong dẫn đường. Vì thế cho nên, rốt cuộc xảy ra lắm chuyện đáng tiếc. Đã cầm đèn, cầm đuốc, lại để đuốc tắt đèn mờ, không biết phục hồi lửa, và tệ nhất là, lại lấy ánh sáng ấy chong lên trong khoảng không vô lối, chẳng biết nẻo đi về, mơ hồ trong trách vụ… Sự tệ hại này đưa đến một tình trạng dỡ khóc dỡ cười trong hiện tình của tôn giáo ngày nay.

Đuốc là ánh sáng Đạo pháp. Người cầm đuốc là người tín đồ của tôn giáo, lấy giáo pháp dồi mài bản thân cho đủ sự quang minh chính đại, đủ năng lực tài tình, đủ sáng suốt hanh thông, đủ đạo đức tinh thần, đủ niềm tin vững chãi để thực thi sứ mạng thiêng liêng là giáo hóa, hướng thiện người đời.

Đời đã u trệ, lầm lạc, tội lỗi, thì Đạo phải đảm đương vai trò dìu đời, hướng dẫn, hòa giải đời, canh tân xã hội theo đường đạo đức cho trở nên an lạc thái bình. Người đời lãng quên đạo lý, thích vật chất phù ba, thích danh quyền địa vị, chuộng hưởng thụ, ghét sự mất mát khổ đau… Những thói tệ đó rốt cùng chẳng những không giải quyết được gốc rễ của vấn đề lại còn vùi lấp con người trong vòng xuống lên lẩn quẩn.

Người đạo xuất hiện như một nhân chứng thực sự cho những giá trị cứu rỗi, dụng đạo đức làm phương châm hành động, luôn hướng tới tha nhân, để tâm ưu ái, lân mẫn mà tìm phương hay chước khéo đem đại ích đến cho con người. Người đạo, nếu thực hành đúng vai trò, thì người ấy được ví như người ơn, và người ấy được sánh như là gương trong, đuốc sáng. Đuốc và người hiệp thể làm một, đồng hóa, nhập vai làm một. Nhìn đuốc nói người, trông người đoán đuốc. Cho nên, người tôn giáo phải luôn ý thức sâu sắc về điểm này, xem vai tuồng của mình, của danh dự đoàn thể tôn giáo mình là trọng hệ. Đức Chí Tôn từng truyền dạy trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển rằng: “Các con phải truyền đạo ra cho chóng. Các con thế nào thì Thầy thế ấy, khi thị các con tức khi Thầy…”.

Khi dễ, búng rẻ, bài xích, chê bai Đức Chí Tôn và nền Chơn Giáo của Ngài – Ngài nói: “Không phải dễ!” – thật là tội lỗi. Nhưng tội lỗi của sự phạm thượng ấy, ngoài sự vô minh của người khác, lại còn có phần lỗi của chúng ta, người tôn giáo. Vì người tôn giáo không làm gương, không làm đèn, không làm biểu mẫu đạo đức cho đời và cho người. Lý do này rất chímh đáng, bởi khi xưa Đức Chí Tôn từng dạy: “Các con là đèn và gương soi cho cả nhân loại… Các con phải khiêm nhượng sao cho bằng Thầy thì mới mong độ rỗi thiên hạ đặng…”.

Anh nói đạo đức, luân lý là: tình yêu, phụng sự, tha thứ, nhẫn nại, hy sinh, quên mình mà làm nên cho người, giúp người nên đạo… những tiêu đề, biểu ngữ ấy thật là hay, thật là tuyệt, đáng hoan nghênh và cần truyền thế để cho những người tầm thường của chúng tôi noi theo, hành xử theo. Đáng tiếc thay, những định đề, biểu ngữ ấy chỉ phát hào quang trên giấy trắng, trên lý thuyết, sự thật hành chẳng có, hay quá ít, không đủ sức lan tỏa để thức tỉnh thiên hạ. Cái triết lý đạo đức nhân nghĩa của Cao Đài phải là một triết lý sống, linh động, nhập thế tích cực, dấn thân toàn diện vào đời để dìu đời, nâng đở cuộc đời, tha thứ khoan dung cho những tội lỗi hư hèn của đời, thậm chí, phải nhận lãnh những khổ đau, những oan ức của đời, làm cho đời trở nên thanh bai, phúc lạc; làm cho người cảm nếm được hạnh phúc thiêng liêng, ơn cứu rỗi mầu nhiệm mà Đại Đạo đem lại.

Lần thứ Ba, cũng là lần cứu rỗi sau cùng trước khi Thiên cơ chuyển thế. Đức Chí Tôn phải lâm phàm, sửa đổi Thiên Thơ mà khai lập một nền Chơn Giáo làm cơ quan cứu khổ Vạn linh. Cơ quan cứu khổ, Thầy giao cho chúng ta, những môn đệ của Thầy, thay mặt Thầy mà thực hiện cho rốt ráo. Cơ quan cứu khổ của Đức Chí Tôn phải được minh xác và thực thi trong toàn khắp nhơn loại. Trách nhiệm quá lớn lao ấy, Thầy giao cho chúng ta. Thầy nói: Thầy dụng Lương Sanh để độ Quần Sanh. Lương Sanh – theo như thường nghĩ – là Hội Thánh, là Chức sắc gương mẫu đạo đức, lấy tinh thần phụng sự chúng sinh làm trọng. Nhưng nói theo cách rộng hơn, phổ quát hơn, Lương Sanh là toàn thể tín đồ biểu mẫu, là toàn thể đệ tử của Đấng Cao Đài, phải đồng có trách nhiệm giác tỉnh nhân quần thế sự. Không ai khác, chính chúng ta, những người Cao-Đài-Hữu phải tiên phong giương cao ngọn cờ cứu khổ, phải thực sự có những hành động dấn thân, hội nhập vào cuộc đời để sẻ chia, gánh vác cho những bất hạnh của đời sống con người và xã hội.

Có một điều hệ trọng nhất này: dù mình là người cầm đuốc dẫn đường nhưng Ánh Sáng không chỉ soi tỏ bước đường tăm tối cho tha nhân mà trong cảnh nhá nhem hắc ám, nó cũng giúp cho mình không lạc bước vào cạm bẫy của quái tà. Một thông điệp của ai đó đã nói: “Trần tận quang sanh”. Bụi đã lau quét sạch rồi thì gương sáng hiện ra chói chóa. Thánh Nho có dạy: “Nhơn dục tịnh tận, Thiên Lý lưu hành”. Hễ lòng dục của con người lắng xuống thì cái Lý của Trời lưu hành trong ta. Do vậy, nếu chúng ta hành pháp đúng đắn, chẳng những ánh sáng bên ngoài chiếu rọi mà ngay đến nguồn sáng bên trong tâm thức cũng ngời ngời.

Người Cao Đài phải coi sứ mạng mà Thầy giao phó như là một trọng trách thiêng liêng và duy nhất trên đời. Hành trang cho mình trong suốt quãng hành trình là Ánh Sáng Cao Đài, ý chí phụng sự và sự tu dưỡng tâm linh. Triết lý, giáo lý, học lý có dẫy đầy trên thế gian, tôn giáo thị hiện từ lâu rồi trong đời sống của nhân loại từ ngày khai Thiên lập Địa, nhưng cho đến hôm nay, sự Ác vẫn tồn tại, chiến tranh vẫn triền miên, con người vẫn sa đọa, đạo đức bị lu mờ… là bởi tại giáo lý, triết lý chỉ là một cái gì đó để con người dùng làm vật trang điểm, là cái gì đó có tính cách hình thức bề ngoài hơn là triết lý sống sinh động. Người Cao Đài phải chứng tỏ năng lực cứu độ của Chánh Pháp do Đức Chí Tôn ban truyền. Người Cao Đài phải là một nhân chứng đích thực cho lẽ sống Đại Đồng đầy tính vị tha và yêu thương. Gạt bỏ những hiềm khích, thu dọn những nhỏ nhen, loại trừ những xấu ác và tiêu diệt cho tận cùng cái Ngã ti tiện vốn hay tự hào, thích danh quyền, địa vị – vốn là điều mà trong giáo lý Đạo Trời luôn luôn kêu gọi phải từ bỏ.

Thuyết Chính Danh Định Phận của Đức khổng Phu Tử là cần nhất để chúng ta ứng dụng trong đời tu của mình. Chính Danh là gì? Là danh phận được định đặt trong sự ngay chính, là chính nó đã được công nhận bằng những thiết chế xã hội hay bằng những qui tắc ứng xử luân lý. Cái bàn là cái bàn, cái bàn không thể trở thành chiếc gương được. Người đạo đức thì phải là đạo đức gương mẫu, không thể dễ dàng trở thành người xảo trá được hay bất tịnh được, cho dù bởi bất cứ lý do gì. Trong danh phận của người Chức sắc, Chức việc ta cũng vậy, vai tuồng mà Hội Thánh định đặt, phân công như thế nào, ta thực hành nghiêm mật như thế ấy, lời dặn của Thầy ra sao, ta cũng thực hành như thế ấy – phải thành khần với danh vị và bổn phận – thì thiết nghĩ, danh Đạo sẽ rạng, cội Đạo sẽ vững, người Đạo sẽ nhờ nương nơi ân đức ấy mà hưởng được phước báu của Trời. Thuận ngôn là kết quả của Chính Danh, và một khi danh đã chính thì ngôn mới thuận. Nếu danh phận không chính đính thì lời nói không thuận hợp, mà lời nói đã không thuận hợp thì công việc không hoàn thành được. Khổng Tử nói: “Danh bất chính tắc ngôn bất thuận, ngôn bất thuận tắc sự bất thành” (Luận Ngữ). Chỗ khác, Ngài căn dặn môn đệ: “Xảo ngôn loạn đức, tiểu bất nhẫn tắc loạn đại mưu” (những lời xảo quyệt hay làm loạn đức, việc nhỏ mà không biết nhịn thì có hại lớn cho đại cuộc).

Như một người cha dạy đứa con nhỏ, nếu lấy thí dụ này, chúng ta sẽ thấy rằng một gia đình mà có gia pháp nghiêm ngặt thì ắt những đứa con trong gia đình ấy sẽ nên người, tránh được hiểm họa và lèo láy con mình không cho đi vào con đường hư tệ, đổ đốn. Nhưng vấn đề là, bậc làm cha mẹ trong gia đình ấy phải lấy mình làm gương mẫu bằng chính tính cách cư xử, thái độ, hành động của bản thân. Một ông cha rượu chè be bét, một bà mẹ hay lê la bốc phét thì cái gương xấu kia chắc chắn sẽ tác động trực tiếp và mạnh mẽ vào tâm trí của con mình, dần dần những hình ảnh này sẽ kích ứng nó và hình thành trong nó những suy nghĩ tương tư. Từ suy nghĩ đến hành động là một khoảng cách ngắn ngủi, đứa con sẽ bắt chước cha mẹ bởi nó nghĩ đơn giản rằng: cha mẹ là người lớn, làm được như vậy thì điều này không phải là điều xấu. Nếu giả sử có xấu chăng nữa chắc cũng dễ chấp nhận được, không đến nỗi nghiêm trọng. Nó sẽ hành động thường xuyên và liên tục, rồi dần dần thành thói quen và trở thành nhân cách của nó.

Bậc làm cha làm mẹ nào cũng vậy, ý thức vai trò của mình là mình phải làm gương nhiên hậu mới sai khiến, dạy dỗ con mình một cáhc chu đáo và có kết quả. Đã uống rượu mà răn đe con không cho nó uống rượu với những lý luận: con không được uống rượu, vì rượu rất độc, lâu ngày sẽ ung thư gan… Liệu những lời nói đó – dù rằng là sự thật, dù bằng sự chân tình mà dạy dỗ – con cái có nghe cùng chăng? Đức Chí Tôn dạy: “Dạy trẻ con toan trước dạy mình” là Thầy nhắc nhỡ chúng ta luôn luôn phản tỉnh về điều này. Phải tỉnh thức, phải giác ngộ để sống gương mẫu đạo đức vì mình là người chứng cho những giá trị tiêu biểu của luân lý đạo đức, mình phải sống đạo đức.

Chắc chắn Đức Chí Tôn muốn chúng ta thật sự sống Đạo nhiều hơn là quảng bá Đạo. Cả hai đều phải làm, nhưng sống Đạo quan trọng hơn, và phải được ưu tiên hơn. Nhưng chúng ta thường làm ngược lại cách thức mà Đức Chí Tôn dạy. Ngài “làm trước, dạy sau” (Facere et docere), còn chúng ta thì dạy trước, làm sau, thậm chí không làm, chỉ dạy thôi! Trong Kinh Thánh, Đức Jésus Kitô có dạy: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ Thầy, là anh em yêu thương nhau”. Nhưng rồi yêu thương có thực sự hiện diện nơi chúng ta chăng? Chúng ta có tỏ lòng yêu thương với tha nhân chăng? Nói chi cho xa xôi, chúng ta có yêu thương người đồng đạo, người đạo hữu đã cùng chí hướng, cùng lý tưởng với chúng ta chăng, đừng nói chi người ngoại đạo. Tự hỏi lòng để thấy cái lệch lạc không đáng có của chúng ta trong sứ mạng Thế Thiên Hành Hóa. Lịch sử Việt Nam có ghi chép về một ông vua Thiền Sư như Trần Nhân Tông thì có mấy ông vua sánh được. Một ông vua sau khi đánh tan giặc ngoại xâm, đem lại yên bình cho đất nước, liền cởi áo cẩm bào để thanh thản mặc lấy cà sa đi tu. Ngài chưa giáo lời nào, hay đúng hơn là Ngài “giáo” bằng chính cách sống, bằng chính cuộc đời từ bỏ ngai vàng, không tham danh lợi của Ngài. Ngài tu theo giáo lý Phật, thấy cuộc đời là hư ảo phù vân, tiền bạc danh vị chỉ là những thứ giả mượn ở trần gian nhưng nó có thể làm lụy đến nhân cách và ngăn chặn con đường tiến hóa tâm linh của con người. Cho nên Ngài quyết tâm từ bỏ, vứt chúng như cởi một chiếc áo nhẹ nhàng, chẳng luống tiếc, chẳng bận tâm.

Từ địa vị của một ông vua quyền cao lộc cả, sung sướng vinh sang, Ngài vào tận chốn non thiêng Yên Tử, đói ăn rau cỏ, khát uống suối trong, ngày ngày tịnh luyện khổ hạnh công phu, lấy trăng làm đèn, gió rừng làm quạt, để rồi từ đó khai sáng ra một dòng thiền đặc sắc ở Việt Nam, lưu truyền cho hậu thế. Đó là một trường hợp hiếm có trong lịch sử dân tộc cũng như của cả thế giới, khi mà Đạo dấn sâu và Đời, không phải để thống trị, mà là để làm cho đời nở hoa, tựa bông sen vươn lên chính giữa bùn lầy nước đọng. Đó cũng chính là thông điệp sáng ngời của một Ngôn Sứ, rằng: giáo lý có sức mạnh huyền bí, hóa giải những khổ đau và đưa con người sang bờ bên kia của giải thoát. Đó cũng là tấm gương cho hậu thế soi chung, rằng: giáo lý là phải sống, phải thực hành, dồi luyện, khổ hạnh cho đến ngày đạt thành kết quả. Tấm gương sáng chói của vua Trần Nhân Tông – Sơ Tổ Dòng Thiền của phái Trúc Lâm Yên Tử tại Việt Nam – làm chứng cho tất cả chúng ta, những người đang bôn ba rao giảng về Ơn Cứu Độ Lần Ba của Đức Chí Tôn.

Một căn bệnh trầm kha của chúng ta hiện nay là rao giảng và quyết tâm bảo vệ những chân lý mà chính mình chưa sống hay không chịu sống, chúng ta rao giảng yêu thương, đoàn kết, cộng tác, quên mình, thậm chí yêu thương cả kẻ thù. Nhưng thử hỏi: chúng ta đã thực hiện được điều đó đối với những người anh em của chúng ta chưa, với những người khác ngoại đạo chưa? Hay chúng ta vẫn còn đầu óc nghi kỵ, bảo vệ những thành kiến tuy có đúng với thực tế trước đây, nhưng có thể không còn đúng lắm trong hiện tại? Chúng ta đã sống tinh thần tự hủy, quên mình, không ích kỷ, không quy kỷ (Écentriquego) chưa?

Nếu thật sự là người ta gặp được Đức Chí Tôn, hiểu biết và tin nhận lời truyền ngôn của Đức Chí Tôn, thì tất yếu đời sống chúng ta phải thay đổi, phải sống chan hòa yêu thương hơn. Như vậy, nếu đời sống chúng ta không thay đổi, nếu theo đạo nhiều năm, đi lễ hàng ngày hay hàng tháng, ăn chay trường hay chay kỳ, làm công quả cúng hiến tiền của cho Đạo, mà đời sống chẳng thấy gì tốt đẹp hơn, thì rõ ràng là chúng ta đã không gặp được Đức Chí Tôn qua các thực hành trên kia. Mà không gặp được Đức Chí Tôn – là mục đích – thì lãnh nhận Sớ Cầu Đạo, ăn chay, làm công quả– vốn chỉ là phương tiện – có ích lợi gì? Đi xe mà không tới được đích, thì có gì hay hơn người đi bộ? Lúc đó, những việc đạo đức không đạt đích ấy chỉ làm cớ để cho chúng ta lên mặt với người khác, vì chúng ta tưởng rằng siêng năng làm những việc ấy thì đã là đạo đức hơn người rồi! Giữ đạo kiểu hình thức bề ngoài như thế thì đạo làm sao tồn tại hay phát triển được? Đạo là sao là làm chứng để kêu gọi, cứu khổ cho chúng sinh được? Và làm sao để chúng ta có thể thực hiện viên mãn 2 câu nguyện đầu trong Ngũ Nguyện được?

10Thầy dạy chúng ta một cách tha thiết như sau:

Bạch Ngọc Từ xưa Lão ngự rồi
Chẳng cần hạ giới vọng cao ngôi
Sang hèn trối mặc Tâm là quý
Tâm ấy tòa sen của Lão ngồi

Nhớ lại, Đức Chúa Jésus đã đưa ra dụ ngôn về hai người lên đền thờ cầu nguyện, một người tự mãn kể với Chúa những về những việc tốt đẹp mình làm – chắc hẳn là có thực – và lên tiếng chê bai người khác, người này bị Đức Jésus kết luận là không công chính. Còn người kia là người tội lỗi, nhưng thành thật nhìn nhận tội lỗi của mình, nhận ra mình bất xứng trước Thiên Chúa và tha nhân, đồng thời xin Chúa tha thứ. Người sau này sau khi cầu nguyện như thế được Đức Jésus coi là người công chính. Như vậy, tội phước, quả nhân, tâm đạo hay thất đạo, trước nhất là bắt đầu từ tâm linh con người. Mọi sự tôn sung, kính mến Đức Chí Tôn đều tốt, nhưng nó phải xuất phát từ lòng kính yêu chân thật nơi tâm hồn, nó phải trong sạch và sốt mến.

Trong chúng ta, thế tình hiện nay của cộng đồng đạo hữu, chúng ta thấy gì? Từ Chức sắc cho đến tín đồ, phần lớn đều tập trung quan tâm đến việc phụng thờ Đức Chí Tôn bằng hình thức, bằng ngẫu tượng. Người ta sẵn sang bỏ ra hàng trăm triệu đồng để xây cất đền thờ, trang hoàng lộng lẫy, bong trái tốt tươi đồng dâng lên cho Thầy. Sự kính trọng, ngoan đạo ấy thật sự là tốt nếu như tất cả chúng ta đừng thờ ơ với trách nhiệm xã hội, với những mảnh đời cơ cực, đói rét bên ngoài, nếu chúng ta biết lắng nghe, chia sẻ, an ủi những cuộc đời bần cùng đang cố bám vào một chút gì đó để sống, để tồn tại trong xã hội này.

Đồng đạo chúng ta hiện nay vẫn còn quá quan tâm tới bề ngoài hơn bề trong, tới hình thức hơn là nội dung. Sự quan tâm của khá nhiều Chức sắc là xây dựng những ngôi Thánh Thất nguy nga tráng lệ bằng đá, bằng gạch nhiều hơn là những ngôi Thánh Thất bằng tinh thần ở trong tâm hồn của chính mình và của mỗi người. Nhiều vị Chức sắc rất hài lòng khi thấy có đông đạo hữu đến Thánh Thất tham dự các lễ nghi, các buổi tụng kinh, cầu siêu mà không hề thấy thắc mắc là họ có thật sự được gặp Thầy hay không. Rõ ràng như 2 với 2 là 4 rằng đi cúng, cầu nguyện là một chuyện, mà có gặp gỡ Đức Chí Tôn không lại là chuyện khác: Biết bao người rước Thầy vào lòng mà có gặp được Thầy đâu!

Vì thế, chúng ta nên suy nghĩ về vấn đề này, nhất là những vị “cầm đuốc soi đường”, khi hành đạo, khi giữ đạo thì phải quan tâm tới bề trong hơn bề ngoài, nội dung hơn hình thức, mục đích hơn phương tiện, và coi chính tâm hồn hay bản thân mình là nơi gặp Đức Chí Tôn thuận lợi nhất, hơn là gặp Thầy ở những nơi chốn bên ngoài. Đức Chí Tôn có dạy rằng: “Lương tâm của các con là một khiếu thiêng liêng của Thầy ban để sửa trị riêng các con trong vòng tội lỗi và ban thưởng trong việc nhơn đức. Làm một việc phải tức là do nơi ý TRỜI, phạm một nét vạy tà là cãi nơi Thiên luật”.

Sự lầm lạc của con người xuất nguyên do đâu? Phải từ tâm chăng? Thiếu hiểu biết về đạo lý dẫn đến suy nghĩ và hành động gây hại cho bản thân và tha nhân mà gốc rễ của nó chính là sự vô minh từ trong tâm thức. Tâm không quang minh chính đại, tâm còn cong rối vạy tà, tâm còn đảo điên tham đắm, còm muốn quyền chức cao trọng, còn thù ghét hại người… thì những nọc độc đó tàn hại bản than trước nhất. Thử hỏi, tệ nạn và tội ác xã hội từ đâu, phải từ trên trời rơi xuống bất thình lình chăng. Nhân đã xấu độc thì sanh quả gai góc thôi. Người Chức sắc cầm đuốc đem ánh sang Chơn Pháp của Đấng Chí Tôn phải chú tâm soi rọi vào đây, làm cho bản tâm của mình và của nhơn sanh được thông sáng, được tỏ ngộ. Đức Thanh Tâm Tài Nữ có giáng dạy trong đàn cơ ngày 04/03/1928 (Mậu Thìn) như sau: “Ruộng đây là tỉ với Tâm, Tâm không ai giồi trau. Đạo nơi Tâm, thì Tâm ví như Điền, có Điền mà chẳng cày bừa đặng đem hột lúa gieo vào cho đặng trổ bông đơm hột thì ruộng tất phải bỏ hoang, bỏ hoang thì sâu bọ rắn rít xen vào ẩn trú. Người mà có Tâm như vậy ra thế nào? Ruộng sẵn, giống sẵn, cày bừa sẵn, duy có ra công làm cho đất phì nhiêu đặng cho buổi gặt hưởng nhờ mà không chịu làm, thế thì phải diệt tận chơn linh.

Chức sắc muốn là Chức sắc đích thực, muốn đúng bậc Thế Thiên Hành Hóa, trung thành với đường lối của ĐứcChí Tôn, Thầy mình, thì phải bắt chước Thầy mình trước tiên trong hành động, nghĩa là phải trở thành một Chứ sắc dấn thấn thật sự vào những lãnh vực trần thế, cùng với tất cả mọi người, Chức việc và toàn Đạo. Khi dấn thân thật sự, tư tưởng của chúng ta sẽ trở thành thực tế. Nếu không dấn thân, tư tưởng của ta dễ trở thành không tưởng, không bám rễ vào thực tại. Chính khi chúng ta chỉ biết yêu thương, dấn thân, cộng tác, cởi mở, chân tình, quên mình, không nhằm rao giảng, truyền giáo, thì lúc đó chúng ta mới rao giảng và truyền giáo một cách hữu hiệu, đúng nghĩa nhất, có kết quả nhất. Đó chính là rao giảng bằng đời sống, chứ không phải bằng lời nói. Đó chính là thực hiện theo đường lối, “Bất ngôn chi giáo” của Đức Lạo Tử đã dạy trong Đạo Đức Kinh. Lúc đó, tuy không nói về Đức Chí Tôn, nhưng chung quanh chúng ta ai cũng cảm nghiệm được Đức Chí Tôn, cảm nghiệm được sự gần gủi, ban ơn, cứu độ của Đức Chí Tôn một cách hiện thực, cụ thể nơi chính bản thân ta, trong đời sống và cách hành xử của ta “Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ Thầy, là anh em sống yêu thương”(Ga 13,35 – Lời của Đức Kitô trong Thánh Kinh). Còn nếu chỉ rao giảng về Đức Chí Tôn, rao giảng về con đường cứu rỗi của Đại Đạo, về những học thuyết cao kỳ, siêu tột của Trời bằng lời nói, thì một cách vô tình, ta đã làm cho người ta có cảm tưởng Thượng Đế chỉ là một thứ bánh vẽ, một loại thuốc phiện, một cái gì đó không tưởng. và có lẽ chính chúng ta đã biến Đức Từ Phụ thành như thế nơi chính bản thân ta rồi.

Đức Nhàn Âm Đạo Trường giáng cơ năm 1928 có dạy như sau: “Ấy vậy, nên biết mà răn mình. Cái Tâm là vật người không thấy được, khá giồi trau nó trước. Nếu bỏ Tâm kia ra ngoài mà rèn hình thể thì chẳng khác chi quì đọc kinh, đèn đốt đỏ hừng, mà thiếu bức Thiên Nhãn trên Điện vậy. Hồn ma bóng quế cũng lên ngồi, mà ngạ quỉ vô thường cũng xẩn bẩn, đó là phương đem đường cho Quỉ vương, chẳng một ai tránh được, nghe! Nên hiểu kỹ lời, bằng chẳng thấu thì tu có ích chi!

Ánh sang chỉ phát huy khả năng vốn có của nó khi và chỉ khi nó hiện diện ở nơi nào u tối. Đại Đạo hoằng khai lần 3, cũng là cơ Tận Độ cuối cùng là vì tội lỗi và sự ác trược của nhơn sanh. Thầy từng nói: “Nếu đời không tội lội thì đâu đến nhọc công Thầy”. Luận chứng này rất quan trọng đối với hành Thiên phong Chức sắc vì chính nó sẽ khắc họa được vai trò hết sức tôn quý của họ, nhắc nhở vị Chức sắc đang cầm quyền Đạo luôn ý thức đến sứ mạng “Giáo dân vi thiện” của mình.

Đây là tư tưởng của Meaterlink (1862 – 1949), một văn sĩ người Bỉ, ông nói: “Tôi tin vào vị Thiên Chúa đã tạo dựng nên con người theo hình ảnh của mình, nhưng tôi không thể tin vào vị Thiên Chúa do con người tạo dựng nên theo hình ảnh của họ”. Thật quá rõ ràng! Ông cay đắng phủ nhận những gì mà người tôn giáo nói về Chúa của họ. Thượng Đế, qua nét vẽ phàm tục, đầy ý riêng tư và dục tính của con người đã thoạt trở nên méo mó, biến dạng – không còn là một Thượng Đế Vô Ngã – nữa. “Các con như thế nào thì Thầy như thế đó” – Đức Chí Tôn phán như vậy. Chức sắc, Chức việc và người tín đồ Cao Đài hiệp lại tạo thành “Thánh Thể của Đức Chí Tôn” tại thế gian này. Người ngoại đạo, kẻ không tu, cứ ngó mình nói Đạo, nhìn Đạo biết mình. Cái danh thể của Thầy, của Đại Đạo có được nhân thế tiêp nhận, hoan nghênh, cung kính hay không, phần lớn tùy thuộc vào chúng ta, những người Cao Đài vậy.

Sống phải đạo đức, từ tâm, phải luôn là gương mẫu. Một người thích vui sướng hẳn là kẻ nghịch của xác mình và chầy kíp cũng sẽ là kẻ nghịch của hồn nữa. Chính tự hãm cầm ngũ quan xác thịt rất ích lợi cho tư tưởng và chỉ có sự hãm mình mới đưa chúng ta đến cái “tâm trạng thông suốt”. Bạn cứ vâng chìu xác thịt đi, thì rồi bạn sẽ trở nên xác thịt đang khi bạn phải trở nên tinh thần. Mục đích sau cùng của chúng ta là gì? Phải làm thế nào để đưa đến đời sống giác ngộ cho mình và cho tha nhân. Mình cầm đuốc, cũng chẳng qua là người tiếp nối, thông công, làm công cụ cho Đức Chí Tôn thiệt hiện cơ quan tận độ của Ngài trong kỳ Ân Xá này đấy thôi, chứ không phải mình làm quan làm tướng hay là Phật là Tiên gì.

Những Thiên phẩm mà Đức Chí Tôn lập thành trong Hội Thánh Nho Tông của Ngài là cái thể pháp tạm dụng cho con cái của Ngài đoạt vị bằng cách thực thi công quả âm chất. Thí dụ như người Chức việc, ta biết Thầy cho được đối phẩm với Thiêng liêng là Nhơn Thần. Nhưng thử hỏi, nếu trong kiếp sanh của họ, từ khi thọ phẩm tước đến lúc chung qui, họ chẳng thực thi âm chất, không làm công quả, kinh chẳng thuộc, đạo lý không thông, hành tàng mất tình nhân ái, cử chỉ chẳng trọn yêu thương, trên không kỉnh người, dưới thường khi chúng, tư cách phẩm hạnh chẳng ra gì… thì lúc hồn lìa khỏi xác, liệu họ có được “rước” trở về thiêng liêng vị mà lên ngôi “Thần” chăng? Những túc trái trần duyên mà họ gieo trong suốt kiếp sanh còn chưa thế gì trả dứt, phải chịu theo luật nhân quả mà luân hồi, thì làm gì đắc Thần cho được?

Tại Đền Thánh lúc 12 giờ khuya ngày 09/05/Mậu Tý (1948), Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc có lời thuyết Đạo như sau: “Muốn chuyển theo chánh sách của Đức Chí Tôn thì duy có lấy nhân đức đối với hung bạo, lấy hiền đối với dữ, lấy tâm quảng đại bao la, khoan dung tha thứ của Trời Đất đối với tánh đức hẹp hòi của loài người, lấy tâm bác ái trãi ra toàn tâm lý loài người đặng trừ cái tánh gian xảo, hung tàn, quỉ quyệt của họ. Nếu chúng ta đi theo được đúng như vậy mới có thể xứng đáng là kẻ thay mặt cho Đức Chí Tôn cầm cơ chuyển thế tại thế gian này”. Tất cả chân lý là để thực hành, cái trừu tượng hơn cả, cao siêu hơn cả cũng là để thực hành. Tất cả sự thật là nguồn sống, là phương hướng, là đường đi đưa về cứu cánh loài người. Vì thế, Đạo chính là con đường, là sự thật, là sự sống. Người cầm quyền Đạo là người Dẫn Đường, là người làm và nói lên Sự Thật, là người hướng dẫn, chỉ bày cho chúng nhân Cách Sống ngay tốt. Chân lý tràn xuống trong những ai mến mộ nó, trên những ai nhượng bộ với nó, mà sự mộ mến này đi đôi với nhân đức.

Ngày nay, thế giới và mọi xã hội trong đó đang được hoặc bị khoa học hóa, kỹ nghệ hóa, công nghiệp hóa, toàn cầu hóa, đô thị hóa, tục hóa, … Vì thế, thế hệ trẻ ngày nay mang nặng đầu óc khoa học thực nghiệm, không dễ dàng chấp nhận tính cách giáo điều, hay những điều được phát biểu một cách như là nói Sấm, không chứng minh, như các thế hệ trước. Họ rất nhạy bén nhận ra những gì không hợp lý, không có cơ sở thực tế. Họ cũng thích tự do, khó lòng chấp nhận những gì mang tính áp đặt, những định chế, quyền bính. Thêm vào đó, hoàn cảnh kinh tế xã hội khiến họ không còn nhiều thì giờ để nghĩ đến những vấn đề tâm linh, để cầu nguyện, để đến Thánh Thất dự những nghi thức cúng kính, cầu siêu dài hàng giờ. Đời sống là một cuộc chạy đua với chiếc đồng hồ. Trước sự thay đổi về mặt tinh thần hay tâm linh ấy, Hội Thánh đã thay đổi như thế nào để thích ứng với con người thời đại? Và người Chức sắc với trách vụ giáo hóa, độ đời phải tiếp thu, cải cách, tu bổ như thế nào để dễ dàng thích nghi với mọi tầng lớp nhân sinh, đồng cảm, đồng thân phận với họ mà kêu họ trở về?

Phải có những cuộc thay đổi lớn, từ trong tư duy lẫn ngoài hình thức, dĩ nhiên, không thể đánh mất được cái bản chất, cái Chơn truyền cứu độ của Đạo giáo. Sơ hãi, e ngại những sự thay đổi là một cách bóp chết tổ chức mình, tôn giáo mình, hình ảnh mà mình tôn thờ từ bấy lâu. Cũng như ta có cục vàng, xưa là một cục vàng khối, nay để cho đẹp hơn, ứng dụng vào đời sống, làm cho đời sống them xinh lịch, ta đem vàng nắn, đúc, mài, dũa chúng trở thành vật trang sức như vòng, bong tai… Nhưng vàng vẫn cứ là vàng. Nước biển, dù bạn có đem vào hồ chứ, đổ vào chai lọ hay cất trong tủ lạnh, thì nước biển vẫn cứ là nước biển với vị mặn muôn thuở của nó.

Trong “Cổ Học Tinh Hoa” có câu chuyện đáng suy gẫm như sau: một người thấy trời hay mưa, nên học làm dù hết 3 năm. Khi thành nghề thì trời lại đại hạn, dù không bán được nữa, nên anh quay sang học nghề làm gầu tát nước. Khi thành nghề làm gầu thì trời lại hay mưa, anh quay ra làm dù. Được mấy năm thì chiến tranh, dù không bán được, anh xoay sang làm nghề đúc binh khí thì đã già quách rồi… Do đó, người biết nghĩ trước, nhìn thấy trước, thì “trời đại hạn đã nghĩ đến việc sắm thuyền, trời nóng nực đã nghĩ đến việc sắm áo bông” (Xem Cổ Học Tinh hoa, quyển I, truyện 34). Công tác truyền giáo vừa là một đời sống khử tục đích thực của chính người Chức sắc, mà cũng là một nghệ thuật cần phải linh hoạt ứng dụng. Bởi thiếu nó, khó mà thành công trong vai trò sứ vụ của mình. Đừng sợ, cũng đừng quá lo lắng, vì sợ hay lo lắng thái quá làm chúng ta dậm chân tại chỗ. Không có thất bại sao hưởng được sự thành công.

Phương pháp “Thử và sai” của người Mỹ đáng cho chúng ta suy nghĩ. Theo tinh thần phương pháp này, thì người ta sẽ dễ dàng tìm ra được cái đúng sau khi đã thử nghiệm và đã bị sai nhiều lần. Trong một mê cung (labyrinth), con chuột chạy vào đường này và thấy không có lối ra, nó lại chạy vào đường khác. Mỗi lần không có lối ra là một lần nó biết rằng con đường nó đã đi vào là sai, để rồi nó sẽ không đi vào những lối đó nữa. Sau khi sai rất nhiều lần thì cuối cùng nó cũng tìm được lối thoát, và chỉ lúc đó nó mới biết rằng con đường nó vừa đi là lối đi đúng.

Tóm lại, trong Luật Đạo có qui định như vầy: mỗi môn đệ phải độ ít nhất 12 người. Theo lẽ thường là dẫn dắt cho được 12 người nhập môn cầu Đạo. Nhưng đấy là con số, và số lượng trong vấn đề thức tỉnh tâm linh sẽ hoàn toàn vô nghĩa. Cốt lõi là làm sao cho 12 vị ấy thức tỉnh. Chỉ có thức tỉnh và thức tỉnh. Đem ánh sáng thiêng liêng của đạo giáo chiếu dọi vào tận sâu thẳm tâm hồn họ, từng ngóc ngách, từng ngõ cùng, để chính họ – phải, chỉ chính họ – bừng tỉnh mà qui tùng trở về với cái đạo lý Chân Thiên của Đấng Chí Linh. Buổi đầu rất khó khăn, là vì họ không tin, căn nghiệp họ sâu dày, bản tính họ chưa ngay chính, thói quen của họ mà từ xưa đến nay họ kết tập một cách sâu dày, nhất là họ còn nghi ngờ những gì mà chúng ta đang nói với họ. Sự ngờ vực này là chính đáng, bởi ai cũng vậy, ngay cả chúng ta. Cho nên người Chức sắc làm sứ mạng cầm đuốc dẫn đường cần phải biến trở thành một đài gương sang, thành một ngọn đuốc. Mình có sống đạo rồi, chứng nghiệm, nếm trãi rồi, mình mới đủ tư cách “giáo dân”.
9
Dưỡng nhi bất giáo: Nuôi mà chẳng dạy
Nãi phụ chi quá: Là lỗi của Cha
Giáo nhi bất nghiêm: Dạy mà không nghiêm
Nãi sư chi đọa: Là lỗi của Thầy
Học vấn bất cần: Học hỏi chẳng cần
Nãi tử chi ác: Là tội của con

Tại Đền Thánh ngày 15/01/Mậu Tý (1948) Đức Hộ Pháp có lời thuyết đạo như sau: “Hạng Thiên mạng là hạng người không biết tầm lấy cho mình, chỉ lấy của mình lo cho thiên hạ; không biết tôn trọng hình hài mình, chỉ tôn trọng thiên hạ, bởi vì hạng Thiên mạng cốt yếu tìm cả năng lực chỉ đạo cho thiên hạ làm môi giới tinh thần, ấy là một phương pháp giải cứu cho đời và bảo trọng nuôi nấng thiên hạ đó”.

Cơ quan cứu khổ lần Ba có thị hiện được hay không? Đại Đạo có thực sự là niềm tin thành khiết và cần yếu cho con người trong thời đại mới đầy nhiễu nhương loạn động này được hay không? Người tín hữu Cao Đài có thực hiện Năm Lời Đại Nguyện của mình được hay không? Hoàn toàn tùy thuộc vào thái độ sống và những hành tàng trong kiếp sống của chúng ta – người tín hữu Cao Đài. Cái thế của người cầm đuốc là cái thế của người đi đầu, người chịu nhọc, hy sinh, dũng mãnh, đại chí, đại nhân mới thi hành hoàn toàn sứ mạng đặng.

Lấy lời thuyết đạo của Đức Hộ Pháp tại Đền Thánh vào lúc 12 giờ khuya ngày 28/06/Mậu Tý (1948) để tạm kết cho những suy tư này: “Nếu Thánh thể của Đức Chí Tôn tại thế này mà dạy dỗ, cứu vớt con cái của Ngài được toàn vẹn y như ý định của Ngài thì thiết tưởng không có gì làm cho Ngài vui sướng bằng! Ấy vậy, Hội Thánh dầu nam dầu nữ tức là hình ảnh của Chí Tôn, Chí Tôn giao đảm nhiệm làm cha, làm thầy. Hễ thay thế Chí Tôn làm cha làm thầy tức nhiên mình là cha là thầy, nếu làm cha cho xứng đáng cha, làm thầy xứng đáng thầy, thì chúng sanh làm thế nào mà không tôn trọng như Cha như Thầy được”.

Xin ánh sáng và người ngôn sứ luôn làm sáng lên cõi đời này bằng những nguồn sáng đạo đức vô biên.

Huyền Không Quách Minh Khôi


Comments (3)

 

  1. Tam Duyen says:

    Đức Giáo Tông Đại Đạo dạy:

    Khi dấn thân cầm giềng mối Đạo,
    Tức là đang gỡ tháo tiền khiên,
    Tức là tạo bát nhã thuyền,
    Rước đưa khách tục vượt miền vô minh.

    Thì trước phải dọn mình chơn chánh,
    Quyết một lòng tâm hạnh nêu gương,
    Ngôn từ hòa ái dễ thương,
    Đại nhân đại lượng dẫn đường tha nhân.

    . . .

    Thảo mộc tốt rầy sâu quy tụ,
    Ruộng lúa lành quyến rũ chim trời,
    Đất lành hoa quả tốt tươi,
    Chùa linh Đạo sáng mọi người tin theo.

    Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, 19-02 Bính Dần (28-3-1986).

  2. Đặng Trường Sanh says:

    VIỆC GÌ ĐẾN SẼ ĐẾN
    THI
    Đã thấy ven mây ló mặt dương.
    Cùng nhau xúm xít dắt lên đường.
    Đạo cao phó có tay cao độ.
    Gần gũi sao ra van dậm trường.
    Thầy đã khai mỡ Đạo Cao Đài để độ chúng sanh thoát khỏi nạn tai trong kỳ ba mạt kiếp nầy.Hầu đưa nhân loại lên đời Thượng Ngươn Thánh Đức.Muốn thoát khỏi nạn tai,chúng ta phải biết sống thế nào?Thuận Thiên giả tồn,nghịch Thiên giả vong.Việc tu hành cũng giống như đứa trẻ cắp sách đến trường.Mới vào lớp một thì có thầy lớp một.Học lên cao thì có thầy cao hơn.Cho nên muốn tiến bộ chúng ta phải biết tìm học điều mới mẽ.Khi trình độ lên cao thì sẽ có thầy cao hơn hướng dẫn cho ta.Đa số người tu dậm chân tại chỗ vì không chịu tìm tòi học hỏi.Vì không tìm tòi học hỏi cho nên không thông lý Đạo,không rõ đâu là chánh tà,đâu là thật giả.Đa số lấy gả làm thật,xem cõi trần là thật,mãi mê lo cho vật chất,mà không chú trọng phần hồn.Hiện tại nền văn minh vật chất làm cho con người mê mẫn mà đua nhau tranh giành phúc lộc,chẵng hiểu đó là giả tạm.
    Trường đồ tri mã lực.Đường xa mới biết ai bền sức.Đạo mở không thể thời gian ngắn mà xong được.phải có thời gian dài để thực hành,để lâp công bồi đức mà đạt thành quả vị.Cho nên người tu phải học tập rèn luyện đẻ trở thành ngọn đuốc sáng cho mọi người noi theo.
    Vương hầu lê thứ ai là chí.
    Chí quyết làm cho thế khác thường.

  3. Đặng Trường Sanh says:

    PHẢI BIẾT KIỂM ĐIỂM ĐỂ SỬA MÌNH
    Hằng ngày chúng ta phải kiểm điểm việc ta làm phục vụ cho vô hình hay hữu hình.Phục vụ hữu hình là sai.Bất cứ việc làm gì cũng đều phục vụ cho vô hình.Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng.Phải quan tâm vào công quả ta đạt được hơn là cũng cố Địa vị,quyền lợi để đươc mọi người tôn trọng,kính nể.Phải kiểm điểmTâm ta có yêu mến tất cả mọi người chưa?Nếu chưa phải tìm hiểu học hỏi làm sao để yêu thương tất cả mọi người.Còn giận ghét một người là chưa làm đẹp lòng Thầy.Dạy lẫn cho nhau đặng chữ hòa.Ta dạy ta chưa được,làm sao dạy kẻ khác.Phải làm như dốt nát dạy khờ.Đừng cho kẻ thế rằng ngờ mình TU.

Leave a Reply