GIẢI NGHĨA BÀI “NIỆM HƯƠNG”

Nov 26, 10 | Tâm Duyên | 4,367 views | No Comments



Share |




Tìm hiểu thêm: CHÚ GIẢI KINH CÚNG TỨ THỜI – THIÊN VÂN (HIỀN TÀI QUÁCH VĂN HÒA)



Bài kinh “Niệm Hương” do Đức Nam Cực Chưởng Giáo giáng cơ ban cho tại Minh Lý Thánh Hội (Tam Tông Miếu)

A. TOÀN THỂ BÀI KINH

hoasen

Đạo gốc bởi: lòng, thành, tín, hiệp
Lòng nương nhang khói tiếp truyền ra,
Mùi hương lư ngọc bay xa;
Kính thành cầu nguyện Tiên Gia chứng lòng.
Xin Thần Thánh ruổi giong cỡi hạc,
Xuống phàm trần vội gác xe Tiên,
Ngày nay đệ tử khẩn nguyền;
Chín từng Trời Đất thông truyền chiếu tri.
Lòng sở vọng gắn ghi đảo cáo,
Nhờ Ơn Trên bổ báo phước lành.



Bài kinh này được chuyển từ bài kinh chữ Hán sau đây:

Đạo do “Tâm” hiệp,
Tâm giả hương truyền,
Hương phần ngọc lư,
Tâm chú tiên nguyện,
Chơn linh hạ giáng,
Tiên bộ lâm hiên,
Kim thần quan cáo,
Kỉnh đạt cửu thiên,
Sở khải sở nguyện;
Hàm tứ như nhiên.



B. GIẢI NGHĨA LỜI KINH


1. Ý nghĩa câu: Đạo gốc bởi Lòng, Thành, Tín, Hiệp


Mở đầu bài “Niệm Hương“, câu này là quan trọng nhứt. Nghĩa tổng quát là:

- Đạo gốc ở nơi “Lòng” (hay là Tâm), mà muốn cầu Đạo, muốn hành Đạo và đắc Đạo thì lòng phải hiệp đủ hai đức tính “Thành và Tín“.

Nói rõ hơn, muốn tầm Đạo thì phải trở lại cái “Tâm” (qui Tâm), bởi nơi đó mà ngộ Đạo, cũng nhờ đó mà đắc Đạo. Nhưng cái “Tâm” phải có thành và tín.

Trong câu này, chữ cần lưu ý nhứt là chữ “Lòng“. Tiếng thường dùng thì gọi là “Tấm lòng”. Tiếng thông dụng trong Đạo thì gọi là “Tâm”.


Tâm là gì?

Trời Đất có cái “Trung Tâm Điểm” của Trời Đất gọi là “Thiên Địa chi Tâm“.

Con người có cái trung tâm điểm của con người gọi là “Nhơn Tâm“.

Cái Tâm của Trời Đất và cái Tâm của con người vốn là Một. Cái Tâm con người nếu trọn lành trọn giác, thông công liên kết và hiệp một với cái Tâm của Trời Đất thì việc gì của con người làm là Đạo Lý là Thiên Lý.

Giải thích về sự liên hệ giữa cái Tâm của Trời Đất và cái Tâm của con người, Thiệu Khang Tiết Tiên Sinh nói rằng:

Thiên thính tuyệt vô âm: Trời tuyệt không có tiếng.
Thương thương hà xứ tầm: Xanh xanh kia biết tìm nơi đâu mà thấy Trời.
Phi cao diệc phi viễn: Chẳng phải cao, cũng chẳng phải xa.
Đô chỉ tại “Nhơn Tâm”: Điều chỉnh ở tại “Lòng Người” đó.
Nhơn Tâm sanh nhứt niệm: Lòng người sanh ra một niệm (một ý nghĩ).
Thiên Địa tất giai tri: Trời Đất đều biết hết.
Thiện ác nhược vô báo: Nếu thiện ác không có báo ứng.
Càn Khôn tất hữu tị: Thì Trời Đất ắt có lòng riêng hay sao ?

Cái khởi thủy tinh túy nhứt, huyền diệu nhứt của Trời Đất là “Thiên Địa chi Tâm” hay là “Đại Linh Quang” hay là “Thái Cực“. Trong con người cũng có cái điểm tinh túy nhứt của con người gọi là “Thiên Tánh hay Phật Tánh” hay còn gọi là “Tiểu Linh Quang“. Đại Linh Quang và Tiểu Linh Quang vốn là Một.

Sở dĩ cái Tâm của con người chưa hiệp được với cái Tâm của Trời Đất, là vì cái Tâm của con người chưa tột thanh tột tịnh như cái Tâm của Trời Đất.

Người tu Thiên Đạo biết phép “Qui Tâm” triệt để thì sẽ hiệp một với cái Tâm của Trời Đất mà đắc thành chánh quả.

Lòng” là cái trung tâm điểm của con người, nơi đó phát lộ ra tánh nết tình cảm. Sách Dưỡng Chơn Tập định nghĩa chữ Tâm như sau:

- Con người có một cái Tâm, ra ngoài là “Tình“, vào trong là “Tánh“, đi xuôi là “Thức“, đi ngược là “Trí.

Nói như thế có nghĩa rằng: Con người chỉ có một cái “Tâm”. Nếu nó biến động ra ngoài (ngoại cảnh) thì nó sanh “Tình”. Tình là Thất Tình lục dục. Nếu biết đem nó trở ngược vào trong (phản quán nội tâm) thì nó trở thành cái “Tánh”. Tánh là Thiên Tánh, Phật Tánh. Nếu để nó đi xuôi theo trần cảnh thì nó sanh ra cái “Thức”. Thức là trí thức, là cái biết của phàm trí, cái biết chưa chính xác, chưa tột lý. Nếu biết đem nó trở ngược lại nguồn gốc thanh tịnh nguyên sơ của nó thì nó sanh ra “Trí Tuệ”. Trí Tuệ là cái Thánh Trí, cái Trí Bác Nhã, cái biết đúng đắn hoàn toàn, cái chơn tri, cái biết tận cùng.

Người tu đắc Đạo là liễu đạt cái “Chơn Tâm” qui về nguồn gốc “Thiên Địa chi Tâm” tiêu diêu tự tại.

Cũng chỉ có một cái “Tâm” mà nhà Phật phân ra làm 4 loại tâm tốt gọi là “Tứ vô lượng tâm“.

Bốn thứ tâm tốt ấy là: Từ, Bi, Hỉ, Xả.

1. Tâm Từ: là tình thương êm dịu rộng lớn, xuất phát từ tấm lòng chân thành muốn cứu giúp, muốn chia sớt nỗi thống khổ của tha nhơn, muốn ban vui cứu khổ cho nhơn loại.

2. Tâm Bi: là động lực của chơn tâm rung động trước sự bất hạnh của kẻ khác, muốn xoa dịu nỗi thống khổ của người đời. Đặc tính của tâm bi là thiện ý muốn giúp người khác thoát ra một cảnh khổ nạn.

3. Tâm Hỉ: là lòng hân hoan vui mừng khi thấy người khác được thành công, được hạnh phúc. Đặc tánh của tâm hỉ là sự cảm thông với niềm vui của kẻ khác làm tiêu tan sự ganh ghét tị hiềm. Cái tâm hòa vui với người như hòa vui với chính mình, tâm người và tâm ta không khác.

4. Tâm Xả: là cái tâm an nhiên tự tại trước mọi trạng huống, dầu vui hay buồn, dầu sướng hay khổ vẫn bình đẳng viên dung. Người có tâm xả không thích thú trong vui sướng, không bực tức trong phiền não, lúc nào sắc thái cũng ôn hòa, không thiên bên thiệt hay bên ác, không nghiêng bên phải hay bên quấy. Tâm trạng lúc nào cũng ở mực trung dung, chính giữa cái thiện và cái ác, cái phải và cái quấy.

Nói tóm lại:

- Tâm Từ: bao trùm mọi chúng sanh
- Tâm Bi: thương xót chúng sanh đau khổ
- Tâm Hỉ: hòa vui với chúng sanh hạnh phúc
- Tâm Xả: bao trùm cả thiện và ác, tốt và xấu, luôn luôn bất động, viên dung bình đẳng trước mọi tình huống không vướng mắc vào đâu cả.

Nhà Nho cũng phân ra 4 cái tâm tốt như sau:

- Hảo Tâm: lòng tốt đối với mọi người
- Hiếu Tâm: lòng hiếu thảo đối với các đấng sinh thành
- Thiện Tâm: lòng lành thương giúp tha nhơn
- Đạo Tâm: lòng đạo đức, hạnh Tiên nết Phật đối xử với mọi người.

Sách Trung Hiếu (Minh Tâm) nói rằng:

- Hoàng Thiên bất phụ đạo tâm nhơn: Trời cao không phụ người có lòng đạo
- Hoàng Thiên bất phụ hiếu tâm nhơn: Trời cao không phụ người có hiếu đạo
- Hoàng Thiên bất phụ hảo tâm nhơn: Trời cao không phụ người có lòng tốt
- Hoàng Thiên bất phụ thiện tâm nhân: Trời cao không phụ người có lòng lành

Xem thế thì đủ biết cái chơn tâm của con người làm cảm động lòng Trời


Thành Tín là gì?

- Thành: là lòng thật, không giả dối, không tà vạy, lòng chắc thật, chơn thật, không hề gian tà bất chánh.

- Tín: là tin tưởng, đức tin vững chắc, không thay dạ đổi lòng, không nghi nan ngờ vực.

Phải làm sao mới gọi là thành?

- Thông thường người ta nói, thành thì phải kính. Kỉnh như tại Thánh Thần như tại. Lòng đạo thành khẩn lúc nào cũng kỉnh tin như có Thần minh trước mặt. Thành thì phải thật. Thành thật kỉnh tin Trời Phật như thành thật kỉnh tin lương tâm mình.

Phải làm sao mới gọi là Tín?

- Phải luôn biểu lộ đức tin bằng thái độ, bằng hành động, kiên trung giữ Đạo, tích cực hành Đạo, trước là để sửa mình chơn chánh, sau là độ người vào đường Chánh Đạo.

Tín: còn là một trong năm đức tánh cao quí của con người, gọi là Ngũ Đức (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín).

Con người có lòng chơn chất thật thà, ngay thẳng, trung tín, làm cho người khác hoàn toàn tin cậy, tín nhiệm, cũng gọi là người có chữ “Tín”.

Người tín đồ có đức tin vững chắc cô động nơi tấm lòng cũng tạo được một sức mạnh, một thần lực làm cho tâm linh tiến hóa, và giúp ích rất nhiều cho cơ phổ độ chúng sanh.

Người tu theo tiểu thừa thì kiên cố giữ lòng “Thành Tín” mà cầu Đạo, giữ Đạo và hành Đạo. Còn người tu thượng thừa thì thể hiện “Thành Tín” bằng công phu nội của chính mình, tích cực “tụ khí ngưng thần” lần hồi thần lực cô động, liên kết với điển giới vô vi, thì Đạo không rời thân, thân luôn hiệp Đạo. Thành Tín qui Tâm tức là Thần Khí qui căn.

Trong kỳ đàn tuất thời ngày 18 tháng 8 năm Bính Ngọ (02-10-1966) tại Cao Thượng Bửu Tòa (Bạc Liêu) Đông Thắng Chơn Như đạo danh Chơn Sắc có giải thích câu kinh “Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp” như sau:

- Đạo là danh từ, lòng thành tín hiệp là hành động, mỗi mỗi việc làm đều phải có lý của nó.

Thí dụ như người bịnh cần thuốc. Bịnh là điểm tựa, là sự vật. Thuốc là cứu cánh. Nếu thuốc không trị được bịnh thì thuốc không có ý nghĩa gì nữa. Như đói lòng nhờ cơm. Nếu cơm thiu, cơm hẫm, không giúp được người đói thì cơm không còn ý nghĩa gì nữa.

Còn Đạo, nếu thiếu lòng thành, thiếu tín nhiệm, thiếu đức tin, thiếu hiệp hòa, thì đừng nói tới đạo đức gì nữa.

Hỏi vậy Đạo là gì?

- Đạo là bản thể vũ trụ, tối cao tối thượng, mà Đạo cũng là nguồn sống của vạn vật chi linh. Do đó những bực Thánh Triết, Hiền Nhơn quân tử mới dám xả thân cầu Đạo, đem sự tín ngưỡng, đem hành động nghĩa nhân đạo đức gây được uy tín trong nhân gian để đem họ hiệp về con đường Đạo là nguồn sống. “Thị Đạo đắc tấn, hành Đạo giả thuận Thiên, thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong.

Ngược lại, nếu không lòng thành, không hành Đạo, làm sao có uy tín với nhân gian. Mà khi mất uy tín với nhân gian thì làm sao ai dám đến hiệp với mình, làm sao kêu họ về với Đạo để trở lại bổn nguyên. Do đó, hàng hướng đạo phải tâm niệm câu nhựt tụng đó để làm kim chỉ nam cho việc hành Đạo, lãnh đạo nhơn sanh.

DamSen



2. Ý nghĩa câu: Lòng nương nhang khói tiếp truyền ra


Câu nầy có thể hiểu hai cách với hai trình độ cao thấp khác nhau:

a) Trình độ tiểu thừa:

Người đạo thường dùng hương liệu vật chất đốt lên để Niệm Hương, và khấn vái Trời Phật. Lúc Niệm Hương thì trong tâm đã có sẳn mục đích cầu khẩn việc gì? Cầu khẩn việc gì thì tập trung tư tưởng đưa theo nhang khói và ý nghĩ tưởng rằng mình đang dâng lên Trời Phật điều khẩn nguyền đó. Tư tưởng đưa theo nhang khói lan truyền ra bay lên tận cõi Tiên nhà Phật.


b) Trình độ đại thừa:

Người đạo lúc công phu tu luyện, làm phép “tụ khí ngưng thần” lâu ngày thần ngưng khí kết phát ra lửa hào quang nơi thiên đình, ngay giữa hai chơn mày. Lửa đó thông công cùng điển giới vô vi tiếp dẫn người tu càng ngày càng tiến hóa lên cao, đạt trình độ xuất thần.

Lửa hào quang đó còn gọi là “Nguơn Thần“. Đạt tới trình độ đó người tu mới bước vào cửa Đạo, Kinh Vô Vi Pháp có nói:

hoasen2

Một vầng trước mặt rạng ngời ngời,
Kỳ thiệt “Nguơn Thần” hiện đến nơi.
Giáng giữa thượng huyền, khai cửa Đạo,
Chiếu vào tâm địa mở hang Trời.
Mắt nghiềm chỉ thị lo kềm tánh,
Tai lóng im lìm giữ chặt hơi.
Mỗi bửa mẹo thoàn xin mỗi rọi;
Được mà bồi đấp chỗ lưng vơi.




Trong kinh Phật có bài “Cử Hương Tán” ý cũng nói về phép dâng hương cũng như phép tụ khí ngưng thần vậy:

Lư hương sạ nhiệt,
pháp giới mông huân,
chư Phật hải hội tất diêu văn,
tùy xứ kiết tường vân,
thành ý phương ân,
chư Phật hiện toàn thân.

Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát.

Bài này xưa nay người ta tưởng là kinh để tụng đọc, nào dè là phép dạy tu luyện.

Lư hương sạ nhiệt: lư hương phát ra hơi nóng.

Ý nói rằng lúc ngồi công phu luyện Đạo, nơi lư hương Thiên tạo trong bản thân mình (lư ngọc) phát ra hơi nóng. Đó chính là lúc tụ khí ngưng thần, thần ngưng khí kết.

Pháp Giới mông huân: Pháp Giới là điển giới. Mông huân là mông lung huân chưng. Trạng thái lúc ngồi công phu luyện Đạo cảm thấy như ở trong cảnh mông lung (như lúc mặt trời sấp mọc, hay sấp lặn nghĩa là mờ mờ, tối tối, sáng sáng vậy).

Chư Phật hải hội tất diêu văn: điển giới chư Phật hội lại nghe rõ.

Tùy xứ kiết tường vân: Nơi chỗ người tu công phu luyện Đạo kết mây lành bao phủ. Ý nói rằng lúc hành giả làm phép tụ khí ngưng thần thì luồng điễn xông lên tạo thành hào quang như mây lành che phủ vậy.

Thành ý phương ân: lúc đạt tới trạng thái đó, hành giả thành tâm thật ý cảm nhận ơn lành của Trời Phật.

Chư Phật hiện toàn thân: Hành giả xuất thần vào điễn giới mới tiếp xúc được với các Đấng Thiêng Liêng một cách rõ ràng. Đoạn công phu này Kinh Vô Vi Pháp cũng có nói:

Vẹt khỏi mây rồi tới Đại La,
Không trung yết kiến Phật Di Đà,
Tâm an, chơn thể, thần thanh tịnh,
Khí dưỡng hạo nhiên, tánh sáng lòa.
Ngước mặt nhìn xem muôn ức Phật,
Trở mày hết sợ thập tam ma.
Huệ không kêu đến từ nhiên đến;
Thong thả vui say nhỏ tới già.

Nói tóm lại, trong kinh sách có nhiều bí ẩn, tùy trình độ tiến hóa tâm linh mà người tu lãnh hội cao hay thấp đó thôi.

DamSen



3. Ý nghĩa câu: Mùi hương lư ngọc bay xa


a) Theo trình độ tiểu thừa: Người ta tưởng rằng mùi hương xuất phát từ cái lư cấm nhang bay ra khắp mọi nơi, lan tỏa ra đến cõi Tiên nhà Phật.

Điều đó không phải là vô lý, bởi vì lúc dâng hương tưởng niệm thì người đạo đã phóng luồng tư tưởng lên cõi Hư Vô. Các Đấng Thiêng Liêng trong điễn giới liền tiếp nhận ngay điều khẩn nguyện đó, ví chẳng khác nào ở cõi trần con người dùng điện thoại hay vô tuyến điện để liên lac. với nhau vậy.

Có điều chúng ta nên lưu ý, trong câu kinh này Ơn Trên dùng hai chữ Lư Ngọc nghĩa là cái lư quí báu, không phải cái lư tầm thường bằng đất, bằng sành, hay bằng đồng mà người đời thường dùng để cấm hương trên bàn thờ.


b) Theo trình độ đại thừa: Người đạo cho rằng “Lư Ngọc” chính là cái lư thiên tạo của Trời ban cho ở trong bản thân mình. Cái lư đó tự nhiên có không cần đến bàn tay phàm nắn đúc sáng tạo ra nó. Chính nơi lư ngọc này xuất phát ra “Ngọc Người” mà người đạo thường gọi là Linh Quang hay Xá Lợi.

Người tu theo Thiên Đạo, lúc ngồi công phu tu luyện, chính là lúc tụ khí ngưng thần, đốt nén “Tâm Hương” và dâng hương linh hồn mình lên Trời Phật.

Đoạn này kinh Vô Vi Pháp nói:

Chắc đường tu luyện mới mừng lòng,
Rán lọc linh hồn tột bực trong.
Một khối tròn vo xây lia lịa,
Bảy màu sáng rỡ chạy vòng vòng.
Ngoài tua hoa cãi chia từng lớp,
Trong nhóm hường tim giụm một tròng.
Chính thị “Ngọc Người” tên “Xá Lợi”
Linh Quang Nhứt Điểm nhiệm vô song.

Hành giả tu theo Thiên Đạo, khi đạt ấn chứng công phu tu luyện, tỷ khiếu khai mở mới cảm nhận mùi hương thơm dịu xuất phát từ “Lư Ngọc” bay ra, như thế mới thật là “mùi hương lư ngọc bay ra”, bay thật xa liên kết với điễn giới cõi Tiên nhà Phật.

DamSen



4. Ý nghĩa câu: Kính thành cầu nguyện Tiên Gia chứng lòng


a) Theo trình độ tiểu thừa: Mỗi khi đốt nén hương để khẩn cầu tức là lúc người tu thể hiện lòng thành kính tin tưởng Trời Phật với mục đích xin chứng chiếu cho việc tu hành của mình.

Thành kính xin Tiên gia chứng lòng, tức là chứng cái “Tâm” thành tín cầu đão của mình. Muốn cầu nguyện cho được linh ứng thì phải có sự kính thành, cũng như muốn được chứng lòng thì phải thành kính cầu nguyện, tức là phải có đức tin và lễ nghĩa.


b) Theo trình độ đại thừa: Khi cầu nguyện, hành giả tịnh tâm, thành ý, tập trung thần lực vào chơn tâm thanh tịnh, chính là lúc tâm của hành giả hiệp nhứt với Tâm của Càn Khôn Vũ Trụ, gọi là “Thiên Nhơn Hiệp Nhứt“.

Trong lúc hành lễ cầu nguyện dâng hương, tâm con người hiệp với Tâm Trời Đất, như vậy mới trọn sự kính thành.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thượng Đế có dạy rằng: “THẦY là các con, các con là THẦY“. Đó là Thượng Đế muốn dạy cho môn đồ biết rằng Đại Linh Quang của Thầy và Tiểu Linh Quang của con người vốn là Một.

Lúc công phu qui tâm thanh tịnh, đem hết lòng mà tưởng Thầy, đó chính là lúc người tu ngưỡng vọng thông công với Thầy bằng Đạo Tâm vậy.

Trong kinh Vô Vi Pháp có nói:

Muôn phép về chung nội tý thoàn,
Thời này chính thức hiệp Linh Quang
, …

Hiệp Linh Quang là phép qui tâm thanh tịnh cho thần ngưng khí kết mà hiệp nhứt với Đại Linh Quang.

Trong câu kinh: “Kính thành cầu nguyện Tiên gia chứng lòng” có người chưa hiểu rõ ý nghĩa hai chữ “Tiên gia” vội cho rằng Đạo Cao Đài là Đạo Tiên chớ không phải Đạo Phật. Có người còn cho rằng Đạo Phật cao hơn Đạo Tiên, hiểu như vậy chưa đúng.

Chữ “Tiên” trong câu kinh nói trên không có nghĩa là Đạo Tiên, mà có nghĩa là “Tiên Thiên“.

Tiên Thiên: chính là “Tiên Thiên Hư Vô Hạo Nhiên chi Khí” là nguồn gốc sanh ra Càn Khôn Vũ Trụ vạn vật muôn loài. Cái đó Đức Lão Tử không biết kêu là gì nên tạm gọi là “Đại Đạo“.

Tiên Thiên: là Tiên Thiên Chánh Đạo là nguồn gốc sanh ra 3 Đạo: Phật – Thánh – Tiên theo nguyên lý “Nhứt Khí hóa Tam Thanh“.

Ngày nay, trong thời kỳ Phổ Độ lần thứ Ba này, Thượng Đế đứng ra lập Đạo tại Việt Nam, tá danh là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát, chính Ngài đã chỉ rõ chữ Cao Đài bao gồm cả ba mối Đạo. Vậy nói Cao Đài thì không còn phân ra ba mối mà gồm lại một mối duy nhứt là Đại Đạo mà thôi.

Chữ Tiên gia nên hiểu là nhà Tiên Thiên hay là nhà Đại Đạo mới đúng.

Bài Kinh “Phật Giáo Bửu Cáo” xưng tụng Đức Nhiên Đăng Cổ Phật là Ông Tổ Đạo Phật, nhưng kỳ thật danh hiệu của Ngài là “Tiên Thiên Chánh Đạo Nhiên Đăng Cổ Phật Vô Vi Xiển Giáo Thiên Tôn“.

Bài Kinh “Tiên Giáo Bửu Cáo” xưng tụng Đức Thái Thượng Đạo Quân là Ông Tổ Đạo Tiên, nhưng kỳ thật danh hiệu của Ngài là “Tiên Thiên Chánh Nhứt Thái Thượng Đạo Quân Chưởng Giáo Thiên Tôn.”

Nói tóm lại, Đạo Cao Đài chính là Đại Đạo gồm cả 3 mối Phật – Thánh – Tiên, và chữ “Tiên gia” là danh từ dùng chung cho cả 3 Đạo vậy.

DamSen



5. Ý nghĩa câu: Xin Thần Thánh ruổi giong cỡi hạc


a) Theo trình độ tiểu thừa: Người đạo cho rằng, mỗi khi dâng hương cầu nguyện thì được Thần Linh tiếp nhận, trong lúc thừa nhàn cỡi hạc vân du, ghé lại tịnh đàn để chứng minh cho sở cầu của người trần thế. Trình độ hiểu biết như vậy cũng có phần hữu lý, bởi vì tâm thành tắt hữu thần hay là hữu cầu tắt ứng.


b) Theo trình độ đại thừa: Người tu đến trình độ cao, nhâm đốc tương thông âm dương tương hội, mở khiếu Huyền Quan xuất thần đi vào điễn giới tiếp xúc hoặc hội ngộ với Thần Thánh dễ dàng.

Ngoài ra, lúc công phu tu luyện, thần lực cô động, có thể phóng lên tiếp xúc với các Đấng Thiêng Liêng theo ý nguyện khỏi phải cầu xin các ngài ruổi giong cỡi hạc xuống trần gian mà chứng kiến nữa.

DamSen



6. Ý nghĩa câu: Xuống phàm trần vội gác xe Tiên


a) Theo trình độ tiểu thừa: mà cũng là sự tin tưởng phổ thông của đa số quần chúng, thì chư Thần Thánh Tiên Phật là những đấng Thiêng Liêng trên cõi vô hình, rất thương xót kẻ phàm trần tội lỗi. Mỗi khi nghe tiếng khẩn cầu thì các ngài cỡi xe Tiên xuống hồng trần mà cứu giúp hay hộ độ. Họ tưởng tượng như các Đấng Thiêng Liêng cũng có phương tiện di chuyển như người trần thế, mỗi khi muốn đi mau thì phải dùng xe Tiên, chẳng khác nào người phàm muốn di chuyển mau lẹ thì phải dùng xe hơi, tàu hỏa hay phi cơ chẳng hạn.

Trong kinh “Thiên Đàng Du Ký” có nói, Đức Phật Tế Công hướng dẫn linh hồn Thánh Bút Dương Thiện Sinh đi du ngoạn các cõi trời để phỏng vấn viết sách khuyến tu thì phải dùng “Đài Hoa Sen” để bay giữa không trung nhanh như hỏa tiển.


b) Theo trình độ đại thừa: người tu hành hiểu khác hơn. Lúc công phu gom thần nhập định thì có thể thông công với Tiên Phật bằng luồn thanh quang điễn lành có sẳn trong mình. Như Kinh Vô Vi Pháp đã nói:

Kiếm Bắc tìm Nam luống động hoài,
Phật Trời ngay trước mắt bên tai,

Thần Tiên hiển hiện lúc bây giờ,
Nào phải đâu xa luống ước mơ …

Thông đồng Trời Đất dễ như chơi,
Học Đạo phải thông cái máy Trời …

Nói tóm lại, người tu đại thừa thể hiện “Tâm Pháp” trực ngộ “Phật tánh” nơi mình và thông đồng Trời Đất dễ dàng, không cần phải mời thỉnh Tiên Phật cỡi xe Tiên, cỡi hạc, hoặc đằng vân giá võ đến cõi hồng trần mà phụ trợ cho mình.

DamSen



7. Ý nghĩa câu: Ngày nay đệ tử khẩn nguyền


Câu này rất dễ hiểu, nhưng cũng phân ra hai trình độ hiểu biết khác nhau:


a) Theo trình độ tiểu thừa: Người đạo chưa biết tự độ, còn cầu tha lực phù trì, thần quyền giúp đỡ, nên còn ỷ lại cầu cạnh các Đấng Thiêng Liêng.

Sự cúng kiến thờ phượng Phật Trời, tụng kinh hành lễ bề ngoài như vậy, là có tác dụng làm cho tín đồ giữ tròn đức tin, nhiệt thành tu thân hành Đạo, giữ gìn mối Đạo để đi đến tự giác giác tha. Nghi lễ Tôn Giáo là một điều kiện cần thiết để gầy đức tin, nêu cao tinh thần hướng thượng của tín đồ hầu giữ cho Tôn Giáo vững bền và cơ phổ độ phát triển thêm mãi.


b) Theo trình độ đại thừa: Người tín đồ tin có sức phù trì của Trời Phật nhưng không hoàn toàn phú thác cho tha lực, không ỷ lại thần quyền, mà tích cực tu thân sửa mình, nâng cao trình độ tâm linh và phẩm hạnh mình để mong tiến hóa lên hàng Cửu Phẩm Thần Thánh Tiên Phật.

Sách Nho có câu:

Tri túc tâm thường lạc
Vô cầu phẩm tự cao
.

nghĩa là:

Người biết đủ (không tham) thì tâm luôn luôn được an vui. Người tu hành chẳng những biết đủ về đời (thuận Thiên an mệnh) mà còn biết đủ về Đạo, luôn luôn nhận biết mình có đủ điều kiện, khả năng và chí hướng tu tiến để thành Tiên đắc Phật, nên tâm thường an vui tự tại. Không cầu cạnh với tha nhơn, không cầu xin sự phù trì của tha lực mà tích cực tu thân sửa mình thì phẩm giá mình tự nhiên thanh cao. Nếu có cầu cạnh khẩn nguyền thì người chân tu chỉ cậy ở Thiên Tánh, Phật Tâm của chính mình.

Kinh Vô Vi Pháp có nói:

Học cho mình, tu cũng cho mình,
Đạo ở giữa mình ấy đạo linh.
Tà chánh từ nhiên do nhử kỷ,
Giác mê há phải kiếm trong kinh.
Thờ Trời há dễ lòng dua mị,
Tu Phật đừng lờn thói kỉnh tin.
Cung kỉnh không bằng hay phụng mạng;
Người hay tự lực mới quang minh.


DamSen



8. Ý nghĩa câu: Chín từng Trời Đất thông truyền chiếu tri


Chín từng Trời Đất: là cửu thiên khai hóa.

Sách nói rằng: Thập nhị khai thiên, cửu thiên khai hóa, nghĩa là mười 12 tầng khai trời, chín tầng khai đất.

Trong chín tầng trời thì có chín phẩm Thần Tiên.

Chín phẩm Thần Tiên gồm có:

- Thần: có 3 phẩm (Địa Thần, Nhơn Thần, Thiên Thần)

- Thánh: có 3 phẩm (Địa Thánh, Nhơn Thánh, Thiên Thánh)

- Tiên: có 3 phẩm (Địa Tiên, Nhơn Tiên, Thiên Tiên)

Từ tầng trời thứ mười trở lên là chư Phật, cho nên có câu: “chín phương Trời mười phương Phật“.

Tầng trời thứ mười hai là Thượng Đế, và con số 12 là số mầu nhiệm của THẦY.

Trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Thầy có dạy như sau:

Thập Nhị Khai Thiên là Thầy, Chúa Cả Càn Khôn Thế Giái, nắm trọn Thập Nhị Thời Thần vào tay. Con số mười hai (12) là số riêng của THẦY.”


Thông truyền chiếu tri: Truyền thông qua lại để nhận biết và chứng chiếu.

Ý nói rằng: Khi người tín đồ đốt hương khẩn nguyện thì trong chín từng Trời Đất các Đấng Thiêng Liêng đều nhận biết và chứng chiếu.


a) Theo trình độ tiểu thừa: thì cho rằng việc mình cầu nguyện, trong chín cõi Trời Đất, các Đấng Thiêng Liêng đều cảm nhận, xét biết và chứng chiếu tất cả. Người tu tiểu thừa còn vọng ra ngoại giới để cầu xin Trời Phật chứng chiếu và hộ độ.


b) Theo trình độ đại thừa: thì cho rằng trong lương tâm mình có Trời Phật trong đó. Hễ lương tâm mình xét biết, tức Trời Phật đã xét biết. Trong bản thân con người cũng có chín từng trời đất do “Chủ Nhơn Ông hay Linh Hồn” cai quản.

Linh hồn giác ngộ, làm chủ bản thân “Tiểu Thiên Địa” thì cũng thông công với Trời Phật ngoài “Đại Thiên Địa” được.

Ông Thiệu Khang Tiết nói: “Nhơn tâm sanh nhứt niệm, Thiên Địa tất giai tri” cũng là lẽ đó.

DamSen



9. Ý nghĩa câu: Lòng sở vọng gắn ghi đảo cáo


Trong lòng người sở nguyện điều gì thì phải hết lòng thành kính mà cầu xin thì sẽ được Thiêng Liêng chứng chiếu.

Bực tiểu thừa thì còn sở vọng, cho nên mới đốt hương cầu đảo.

Bực đại thừa thì chỉ thành kỉnh mà không sở vọng, chỉ giữ cho thân trang nghiêm, tâm trong sạch mà đạt tới trình độ thanh tịnh vô vi, từ bi hỉ xả để chứng Đạo nơi mình mà thôi.

Tuy không cầu đảo, kỳ thật là cầu đảo tuyệt đối trong trạng thái “Thiên Nhơn hiệp nhứt” hay là “Đồng thinh tương ứng, đồng khí tương cầu“.

DamSen



10. Ý nghĩa câu: Nhờ Ơn Trên bổ báo phước lành


Theo thuyết nhà Phật thì mọi việc ở trần đều do “Nhân Quả”. Gieo nhân lành thì hái quả lành. Gieo nhân ác thì gặt quả ác, không hề sai chạy.

Đạo Tiên dạy về luật “Cảm Ứng” do đó tâm con người cảm điều lành thì luật Trời sẽ ứng cho điều lành. Trái lại nếu tâm con người cảm điều chẳng lành thì luật Trời trả lại cho điều chẳng lành. Luật “Cảm Ứng” tác động công bình tuyệt đối không khác gì luật “Nhân Quả”.

Thiên Thái Thượng Cảm Ứng nói rằng:

Họa phước không có cửa, chỉ tự người ta vời lấy.” Cái cơ thiện ác báo ứng như bóng theo hình. Vì lẽ đó, lòng người khởi điều thiện, điều thiện tuy chưa thấy làm, mà thần lành (kiết thần) đã theo liền; hoặc lòng khởi điều ác, điều ác tuy chưa làm, mà thần dữ (hung thần) đã theo liền. Cái kẻ đã từng làm sự ác, sau tự mình hối lỗi, lâu lâu được phước lành, cái lẽ đó kêu là “chuyển họa làm phước” vậy.

Đạo Nho cũng dạy về “luật báo ứng“.

Đức Khổng Tử dạy rằng: “Kẻ làm điều lành, Trời ban cho phước, kẻ làm điều ác, Trời báo cho bằng họa“.

Người biết sợ luật “Nhân Quả“, biết vâng theo luật “Cảm Ứng” biết đề phòng luật “Báo Ứng” thì tự mình tu tâm sửa tánh, năng trau năng luyện thân tâm để đạt tới trình độ trọn lành trọn giác mà khỏi phải cầu xin Ơn Trên bổ báo phước lành cho mình.

Tuy nhiên, hễ con người biết theo con đường chơn chánh, tự lực giúp mình, thì Trời cao cũng sẽ giúp mình, đúng như câu người Pháp đã nói: “Aide-toi, le ciel t’aidera“, nghĩa là hãy tự giúp ngươi đi, Trời sẽ giúp cho ngươi“.

Nếu con người có đủ “Tứ Vô Lượng Tâm” (hảo tâm, hiếu tâm, thiện tâm, đạo tâm) thì chẳng cần phải cầu khẩn, Trời cao cũng chiếu giám và ban cho phước lành, đúng như sách Trung Hiếu (Minh Tâm) đã nói:

- Trời cao không phụ người hảo tâm,
- Trời cao không phụ người hiếu tâm,
- Trời cao không phụ người thiện tâm,
- Trời cao không phụ người đạo tâm.

Người còn cầu xin Trời Phật bổ báo phước lành mà không biết tu thân sửa mình, hành Đạo chơn chánh để tự tạo nguồn ân phước cho chính bản thân mình thì không bao giờ được Trời Phật ban cho phước lành, bởi vì “Trời Đất chí công vô tư, không vì tế lễ mà ban phước, cũng không vì thất lễ mà giáng họa” riêng cho ai.

DamSen



Nói tóm lại, bài “Niệm Hương” có tác dụng về Lễ nghi Tôn Giáo cốt dạy tín đồ mới vào cửa Đạo phải có đức tin, phải có lòng thành, lần hồi tu tập để trở nên con người đạo đức.

Nếu xét kỷ về việc “Niệm Hương” thì có hai cách với hai trình độ cao thấp khác nhau:

Trình độ tiểu thừa, tu theo Tôn Giáo, còn dùng âm thinh sắc tướng, thì còn dùng hương vật chất cấm vào lư hương nhơn tạo để dùng khói hương mà liên tưởng Trời Phật, hoặc là thanh tẩy nơi tịnh đàn hầu khêu gợi lòng thành kính của tín đồ và nâng cao tinh thần hướng thượng của bá tánh.

Đó là cách tu bề ngoài để lần hồi giác ngộ tâm linh ở bề trong con người.

Trình độ đại thừa, tu theo Đại Đạo, không còn dùng âm thinh sắc tướng, thì không còn dùng hương vật chất mà dùng “Tâm Hương“, không dùng lư hương nhơn tạo mà dùng lư hương thiên tạo trong bản thân con người để hành pháp công phu tu luyện. Không cầu khẩn Trời Phật thông truyền chiếu tri, mà tự minh tâm kiến tánh, làm cho đạo tâm tỏ rạng lên để hiệp cùng thiên đạo, không xin Thần Thánh xuống hồng trần gác xe Tiên mà hội ngộ với môn đồ, mà tự người tu mở khiếu Huyền Quan để thông công cùng Thần Thánh Tiên Phật.

Đây là cách tu bề trong để trực ngộ tâm linh siêu thăng thượng giới.

Kinh sách ban truyền có nghĩa lý sâu xa, có tác dụng thích hợp cho từng trình độ, từng căn duyên. Vậy người tu hành cần tìm hiểu và áp dụng kinh sao cho hợp lý và đúng Chơn Lý.

Trích: Kinh Tam Giáo Nhựt Tụng Diễn Giải
Biên Soạn: Thiện Trung Nguyễn Xuân Liêm


DamSen


XƯNG TÁNG NGŨ NGUYỆN DIỄN CA
QUI TAM GIÁO
TỤNG KINH
HẰNG NIỆM DANH HIỆU THẦY
TẠI SAO LẠI LÀ “NGŨ NGUYỆN”?
Ý NGHĨA CỦA MỖI CÂU NGUYỆN TRONG “NGŨ NGUYỆN”
PHẦN PHỤ GIẢI “NGŨ NGUYỆN”
THÁNH GIÁO DẠY VỀ “NGŨ NGUYỆN”
LUẬN GIẢI: VỀ Ý NGHĨA, CÔNG DỤNG, VÀ XUẤT XỨ CỦA KINH NHỰT TỤNG TRONG ĐẠO CAO ĐÀI
NIỆM HƯƠNG NGHĨA LÀ GÌ?
GIẢI NGHĨA BÀI “NIỆM HƯƠNG”

Tìm hiểu thêm: CHÚ GIẢI KINH CÚNG TỨ THỜI – THIÊN VÂN (HIỀN TÀI QUÁCH VĂN HÒA)


Leave a Reply