LUẬN GIẢI: VỀ Ý NGHĨA, CÔNG DỤNG, VÀ XUẤT XỨ CỦA KINH NHỰT TỤNG TRONG ĐẠO CAO ĐÀI

Nov 18, 10 | Tâm Duyên | 2,622 views | No Comments



Share |






sen9- Là người tín đồ Đạo Cao Đài, hằng ngày tụng đọc kinh cúng tứ thời, chúng ta cần suy nghĩ để hiểu biết việc làm ấy có lợi ích gì, tác dụng gì đến đời sống đạo đức của chúng ta?

Vào cuối năm Bính Dần (1926) Đạo Cao Đài được Thượng Đế cho khai mở tại miền Nam Việt Nam. Khởi thủy chỉ là con số không (0): Không có Giáo Hội, giáo sở, giáo đường, giáo lý, giáo pháp, giáo điều, giáo luật… chi cả. Chỉ có trên dưới 200 người được Đức Chí Tôn vận chuyển điểm danh ra làm môn đồ, đứng ra làm tờ khai tịch Đạo trình với nhà cầm quyền đô hộ Pháp để xin lập Đạo trước mặt luật Đời.

Trong con số không (0) đó, vấn đề kinh lễ cúng kính cũng không có nốt.

Đã là một nền Đạo lớn ra đời, lẽ tất nhiên phải có nề nếp, phép tắc, qui luật cần thiết để làm phương tiện điều hành guồng máy Đạo từ Trung Ương đến địa phương, mà kinh lễ là một vấn đề trọng yếu trong những vấn đề kể trên.

Việc này Đức Chí Tôn đã khuyến dạy các Đại Đệ Tử đầu tiên của Ngài là các vị Lão Sư, Đạo Sư bên các Đạo Minh Sư, Minh Lý, Minh Thiện, Minh Đường, Minh Tân, hiện lúc đó là Đại Thiên Phong Chức Sắc Đạo Cao Đài, đứng ra soạn thảo và dâng trình các loại kinh để Đức Chí Tôn duyệt phê hầu làm kinh nhựt tụng cho Đạo Cao Đài.

Tiếp theo mười năm sau (1926-1936) toàn bộ Kinh Thiên Đạo, Kinh Thế Đạo, và Kinh Tận Độ tuần tự được các Đấng Thiêng Liêng giáng cơ ban cho. Có một số bài kinh do các vị Tiền Khai Đại Đạo soạn ra để đáp ứng nhu cầu phổ độ của Đạo Cao Đài.

Bởi nhờ đó mà Đạo Cao Đài cho tới ngày nay đã có nhiều bài kinh đủ dùng trong các lễ hội như: Tang, Hôn, Siêu, Tế, thường dùng trong lãnh vực sinh hoạt của Đạo.

DamSen



1. Ý NGHĨA VÀ CÔNG DỤNG CỦA KINH


a) Trước khi chưa có Đạo Cao Đài (1926 trở về trước)

Mọi sự cúng kiến, tế tự của người đời khi hữu sự đều nhờ các vị Sư, các vị Giáo sĩ trong các Tôn Giáo khác đến thiết lễ hành sự.

sen10Trong dân gian, theo phong tục tập quán xưa nay, khi có lễ kỵ nhựt hay tam nguơn tứ quí, hoặc tang hôn siêu tế chi đó, thì người gia trưởng chỉ biết có việc đặt bàn hương án cúng phẩm, rồi đứng vái lầm thầm trong miệng, không ai nghe rõ là vái cái chi. Thậm chí con cháu trong nhà đến gần để xem ông cha mình hành lễ thì liền bị rầy: “đi chỗ khác chơi, đừng lại gần không nên…“. Trong ý tưởng con cháu cho rằng ông cha mình làm chuyện bí mật, nên không cho con nít biết. Chúng nó chỉ thấy ông cha mình nghiêm chỉnh van vái, lép nhép cái miệng, cúi đầu gật gật xá xá mà thôi. Từ đó con cháu cũng làm theo tục lệ từ đời ông đến đời cha, đời con, đời cháu sau này. Sự tin tưởng được thể hiện thiếu nghi thức, thiếu qui tắc không giúp cho sự tiến bộ của đời sống đạo đức của con người.


b) Đến khi có Đạo Cao Đài ra đời:

Từ đây, mọi nghi lễ cúng kiến tế tự… đều có nghi thức, có bài bản nhứt định, rồi trở thành qui tắc nề nếp Tôn Giáo cho đến ngày nay.

- Về ý nghĩa:

Nội dung các bài kinh đều có ý nghĩa rõ ràng như: hoặc cầu xin, hoặc xưng tụng, hoặc khuyên bảo, hoặc giác ngộ, hoặc sám hối v.v… để giúp cho người tụng niệm biết cách dâng trình ý tưởng, lời lẽ của mình lên các Đấng Thiêng Liêng một cách mạch lạc cụ thể để được đáp ứng sở cầu theo sở nguyện.

Ý nghĩa kinh lễ của Đạo Cao Đài là có bài bản, văn tự, âm hưởng rất truyền cảm. Sự vái van, sự cầu nguyện có mạch lạc, có ý nghĩa chẳng khác nào tiếng lòng của con người được trình tấu một cách nghiêm chỉnh, thành kính theo luật cảm ứng tạo nên một sự rung động điển ba liên kết giữa hữu hình và vô hình.

- Về công dụng:

Kinh lễ Đạo Cao Đài có công dụng rất lớn lao về luân lý và giáo dục đối với quần chúng. Trong khi đọc kinh, người đọc cũng như người nghe đều nhận thấy sự truyền cảm, có tác dụng đánh thức lương tri, lương năng giúp cho con người tỏ rõ ý niệm thiên về đường đạo đức, về sự cải ác tùng lương, cải tà qui chánh để sửa đổi cuộc đời mình tốt đẹp hơn, may mắn hơn, hạnh phúc hơn.

DamSen



2. XUẤT XỨ CỦA KINH

Về kinh Thiên Đạo, Đức Chí Tôn dạy các vị Lão Sư soạn thảo kinh rồi dâng trình lên cho Ngài phê duyệt ban hành làm kinh nhực tụng, trong đó có các bài kinh sau đây:

- Bài chúc tụng Ngọc Hoàng Thượng Đế (Đại La Thiên Đế…)
- Bài Thích Giáo Bửu Cáo (Hỗn độn Tôn Sư …)
- Bài Đạo Giáo Bửu Cáo (Tiên Thiên Khí hóa …)
- Bài Nho Giáo Bửu Cáo (Quế Hương nội Điện …)

Ngoài các bài kinh nói trên còn có các bài do các Đấng Thiêng Liêng giáng cơ ban cho như:

- Bài Niệm Hương (Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp …) do Đức Nam Cực Chưởng Giáo ban cho
- Bài Khai Kinh (Biển trần khổ vơi vơi trời nước …) do Đức Lử Tổ ban.

sen11jpgXưa nay, khi nghe nói đến “Kinh” người ta cho rằng đó là lời Tiên Phật nơi cõi thiêng liêng phát ban, chớ không phải do người phàm sáng tác. Ý nghĩ đó cũng có phần hữu lý, nhưng không hoàn toàn đúng. Suy nghĩ cho chí lý thì kinh, sớ, điệp v.v… chẳng khác nào đơn từ, phúc trình, thỉnh nguyện của kẻ hữu sự nơi cõi dương gian trình lên cho các Đấng ở cõi vô hình, lẽ tất nhiên phải do ý tưởng, từ cõi lòng con người phát ra mới đúng.

Ơn Trên chỉ ban cho những bài kinh mẫu lúc mới khai Đạo, để hướng dẫn cho con người biết cách trình bày mạch lạc, có tiết điệu, có âm hưởng những ý tưởng cầu xin, những lời lẽ thỉnh nguyện của mình cùng các Đấng Thiêng Liêng để được đáp ứng theo sở nguyện.

Điều quan trọng là “tấm lòng thành kính” của người hành Đạo. Nếu việc sở cầu có lý, có tình, có văn hóa, có đạo đức, thì tất nhiên phải có giá trị đối với các Đấng Thiêng Liêng chỉ tiếp nhận sự rung cảm chân thật của con người qua sự lễ nghi cầu khẩn.

Nói tóm lại:

Kinh là tiếng gọi tự nơi lòng,
Do bởi “Tín Thành” nguyện lập công.
Công quả độ người qua bể khổ,
Công phu tự độ thoát trần hồng.
Ngâm nga thấu rõ lời minh triết,
Tụng đọc am tường lẽ có không.
Kinh sách là điều nên quí trọng;
Lời châu, tiếng ngọc, nghĩa vô cùng
.

Trích: Kinh Tam Giáo Nhựt Tụng Diễn Giải
Biên Soạn: Thiện Trung Nguyễn Xuân Liêm


DamSen


XƯNG TÁNG NGŨ NGUYỆN DIỄN CA
QUI TAM GIÁO
TỤNG KINH
HẰNG NIỆM DANH HIỆU THẦY
TẠI SAO LẠI LÀ “NGŨ NGUYỆN”?
Ý NGHĨA CỦA MỖI CÂU NGUYỆN TRONG “NGŨ NGUYỆN”
PHẦN PHỤ GIẢI “NGŨ NGUYỆN”
THÁNH GIÁO DẠY VỀ “NGŨ NGUYỆN”
LUẬN GIẢI: VỀ Ý NGHĨA, CÔNG DỤNG, VÀ XUẤT XỨ CỦA KINH NHỰT TỤNG TRONG ĐẠO CAO ĐÀI


Leave a Reply