QUAN NIỆM VỀ CHỮ HIẾU TRONG TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Aug 24, 10 | Tâm Duyên | 6,962 views | 1 Comment



Share |






VuLanCao Đài Giáo hướng dẫn nhân sinh giải quyết cùng một lúc hai mặt Thế Đạo và Thiên Đạo trong mục đích của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Vì thế CHỮ HIẾU cũng được các Đấng Thiêng Liêng giảng dạy theo đường hướng vừa nêu. Nhân mùa Vu Lan, chúng ta hãy cùng nhau ôn lại những lời dạy về chữ Hiếu qua Thánh Giáo Cao Đài.


            I. VỀ MẶT THẾ ĐẠO:

           
Khởi đầu của Thế Đạo ở bậc Nhơn Đạo, Thánh giáo hướng dẫn người tín đồ ngay khi lúc tuổi còn trẻ phải kế thừa những khía cạnh truyền thống văn hóa đạo đức tốt đẹp của nhân loại. Đức Khổng Thánh dạy con cháu phải biết:

Thờ cha mẹ trời tây lượng bóng,

Tiếng dạy khuyên phải lóng nghe lời;

Sớm khuya thăm viếng chớ lơi,

Hiếu thân chí kỉnh Phật Trời ban ơn.

Khi Đông hạ quạt nồng đắp lạnh,

Lúc ốm đau phải lãnh thuốc thang;

Mẹ cha còn sống song toàn,

Là người hữu phước phải toan phụng thờ……

Đừng học tánh mưu khôn thế tục,

Coi mẹ cha như khúc gỗ tròn;

Làm rầu, làm nhọc, khi còn,

Chết rồi chia của nuôi con vợ mình ! ”


            1. Làm vui lòng ông bà cha mẹ:

           
Vậy con cháu khi còn trẻ phải biết vâng lời, cố gắng học hành, bên cạnh đó cũng phải tập giúp đỡ những việc thông dụng trong nhà. Anh chị em phải hòa thuận, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Ngay cả sau khi đã trưởng thành.

Thí dụ: chơn linh của một đạo hữu tên Bùi thị Quyện ở Thanh Liên Đàn – Long An, trong mùa Vu Lan được về đàn nhắc nhở 2 con trai và 2 con dâu phải thuận hòa với nhau:

“…… Trước đàn đây, Tệ Nữ xin Thiên Mạng cho phép tôi dời hai con tôi vào trước điện, để đôi lời phân trần cùng hiếu tử tôi……

BÀI

Con hỡi con ! trần này có thấy,

Hải, Phú con quì lạy trước ngôi;

Đàn đây Mẹ đặng trở hồi,

Về nơi Liên cảnh khúc nôi lòng này.

Mẹ nhắc lại lòng đây thảm thiết,

Lúc sanh tiền chỉ biết đạo thôi;

Chồng con oan nghiệp trì lôi,

Có đâu rỗi rảnh tô bồi đức công.

Khi thoát xác, ân phong Hội Thánh,

Phẩm Nữ Thần chưa lãnh con ôi;

Vì chung Mẹ thiếu công bồi,

Của con đào tạo đây hồi Mẹ đau……

Lòng thảm thiết lời này đó trẻ,

Làm sao con thấy Mẹ được cùng;

Con ôi hai trẻ đồng chung,

Tình thương cốt nhục nấu nung nhau thời.

Vậy con có thương linh hồn của mẹ chăng con ? Hải con thương linh hồn của mẹ chăng con? Con có tưởng giờ đây phải mẹ của con không? Sự tu cứu linh hồn của mẹ là phần xa lắm con ôi! Thương mẹ là thương em con đó. Con thương mẹ tức nhiên là thương anh em cốt nhục máu huyết mẹ sanh ra. Vậy Hải con! có động lòng thương mẹ chăng con?

Hai con có tình thương chăng nhỉ ?

Cũng đừng cho ma quỷ xen vào;

Con ôi ! cốt nhục rún nhau,

Cắt chia giọt máu, mẹ đau mấy lần ……

Hải nghĩ trước nghĩ sau lời đấy,

Hãy tri tường kín đậy vào trong;

Tình thương Phú để vào lòng,

Tình thương trẻ nghĩ để trong nơi nào ?

Minh dâu thảo biết sao lời mẹ,

Gương từ lành mẹ vẽ còn ghi;

Dâu hiền, con thảo thời kỳ,

Thời kỳ đạo đức đồng qui lo hành ………

Phú con ôi ! nghiêng mình phục hướng,

Phận con là con chưởng đức công;

Anh em vun đắp nơi lòng,

Hiếu tâm của trẻ gắng công điểm vào.

Liền ớ trẻ ! mẹ trao lời dạy,

Đồng phận dâu cả thảy ôn tồn;

Vui hòa đạo đức bảo tồn,

Bất hòa lãnh tội ngục môn đọa lần.

Hai con thảo lời phân của mẹ,

Hai dâu hiền cạn lẽ để đây;

Con ôi đạo đức đắp xây,

Quên tình cốt nhục, cảnh này lưu vong.

Lãnh trọng tội gia tông đạo đức,

Lãnh trọng phần mẻ sứt tình thương;

Con ôi ! Phú, Hải làm gương,

Minh, Liền đạo đức điểm chương đạo nhà …”


            2. Chăm sóc, phụng dưỡng: đúng mức

           
Chúng ta có thể lấy những hình ảnh thực hành Đạo Hiếu của Đức Ngô lúc sinh tiền để làm bài học kinh nghiệm:

           
Là một người hiếu nghĩa vẹn tròn nên khi có lương bổng rồi, Ngài bèn viết thơ mời ông thân bà thân từ ngoài Hà nội về để trọn bề phụng dưỡng. Về sau ông thân Ngài ở riêng. Mỗi khi cần dùng tiền bao nhiêu thì Ngài cung phụng đầy đủ và không bao giờ để một lời than vãn. Để tránh sự thiếu hụt trong gia đình, ban đêm, Ngài đi dạy thêm tiếng Pháp cho các người Tàu. Đối với mẹ, Ngài là người con chí hiếu. Mỗi ngày đi làm việc về, Ngài không bao giờ quên hỏi thăm mẹ ăn cơm chưa hoặc ăn có ngon không? Những lúc bà cụ đau nhiều thì Ngài đi cầu Tiên xin thuốc và tự lo giặt giũ cho mẹ.


            3. Thờ phượng:

           
Khi ông bà cha mẹ khuất bóng, chúng ta phải phụng thờ theo truyền thống văn hóa của người Việt như lời Đức Chí Tôn đã dạy:


            “Chỉ có xứ Việt Nam còn duy trì được sự tôn sùng tổ phụ theo tục lệ cổ truyền… Ý Thầy muốn nó được giữ nguyên thể như vậy mãi.”

            Đức Khổng Thánh dạy thêm:

          “Khi mãn khó giữ câu mến đức,

          Sự vong như tồn được phụng thờ;

                      Thánh tâm tỉ lại hồi sơ,

Đi thưa về kỉnh bao giờ không quên.

          Cơm kỵ lạp lo đền ngày trẻ,

          Dĩa muối dưa nhớ mẹ cùng cha;

                      Kỉnh trên Thất Tổ ông bà,

Tỏ lòng hiếu tử cúng mà ai ăn?

          Nhắc sự tích lòng hằng đau đớn,

          Nhờ công sanh nuôi lớn dạy khôn;

                      Buồn lo tu niệm độ hồn,

Đặng cho cha mẹ Thiên môn đặng vào.”

           
Vậy chúng ta cần phải làm những gì để hồn cha mẹ vào đặng Thiên môn ?


            II. VỀ MẶT THIÊN ĐẠO:

            1. Khi ông bà cha mẹ còn sống:

           

A) Cần khuyến khích việc phát triển tâm linh. Tạo những điều kiện thuận lợi trên đường tu như: ăn chay; nghe và đọc kinh sách. Muốn làm được những việc trên thì bản thân chúng ta phải có ý thức và thực hành trước tiên việc tu học và hành đạo.
Phải có ý thức vượt lên trên những suy nghĩ bình thường của nhân thế: chỉ chăm lo đời sống vật chất. Trái lại chúng ta là người hiểu đạo thì phải quan tâm đến cả hai mặt vật chất và tâm linh. Và sự chăm sóc về tâm linh mới là quan trọng hơn. Nếu chưa làm được việc độ dẫn tâm linh cho cha mẹ lúc còn sống thì sẽ là nỗi ray rức dầu đã trở về ngôi xưa vị cũ. Thí dụ sau đây là lời than vãn của một vị sau khi đã được về cõi “thiêng liêng hằng sống” cho chúng ta thấy:


            “Thiên Tài lai cơ …. Phần tôi hoàn toàn theo Đạo, một hân hạnh tôi được hưởng tròn. Nhưng còn điều khó nghĩ là: Phụ mẫu tam thân còn tại tiền chưa chung một đường lối, thế nên tôi phận làm con nguyện cầu Chí Tôn ân xá, nên tôi nhập non thần để luyện thành chơn thân, mới có đủ đầy công quả hầu giục huyết quản song thân chung về cội cả. Như thế trách nhiệm tôi mới tròn.”

           
Già rồi bệnh tật là qui luật tự nhiên của một kiếp nhân sinh.

           
B) Khi chăm sóc phụng dưỡng ông bà cha mẹ, cần chú ý:

           
Một trường hợp cũng thường gặp trong đời sống. Đó là khi đi trị bệnh, một số bác sĩ thường buộc người bệnh phải ăn mặn thì mới điều trị hoặc buộc phải dùng những phương thuốc có nguồn gốc động vật.

           
Td: thuốc uống được làm từ nhau thai; thuốc làm từ tạng phủ động vật; nước cốt gà.v.v…

           
Khi ấy, là con cháu chúng ta phải cố gắng giữ vững đức tin của chính mình để kiên quyết giúp cho người thân giữ được công trình khó nhọc trường trai đã mấy mươi năm! Việc nầy Đức Quán Thế Âm có dạy:


            “Thường thường trong hàng tu thân hành đạo hay gặp những trở ngại trên bước đường tu thân lập quả như khảo đảo về phần thể xác… Đương trai giới hạnh đường lại vương mang bịnh hoạn có thể chẳng thâu dụng được trai giới, đến lương y bác sĩ đặt điều kiện ẩm thực theo khoa học hiện đại trái với luật giới trường trai … Đó là những chướng ngại xảy đến làm ngăn trở bước đường tiến hóa cho đời giữ Đạo.”

           
Một khía cạnh của Cận Tử Nghiệp là: cũng do nợ nần oan trái, nghiệp chướng nặng nề, một trường hợp kinh nghiệm khác chúng ta cũng nên lưu ý. Trong khi nhồi nghiệp căn quả báo, người bệnh tâm thần mê muội khi đó oan gia kéo đến đòi nợ, bèn xúi giục bệnh nhân đòi hỏi người nhà phải cho ăn những món mặn chi đó với vẻ thèm khát dữ dội!

           
Trong những trường hợp như trên, chúng ta dùng món chay giả hình thức mặn, một mặt làm thức ăn cho người thân, mặt khác cúng cầu siêu cho các oan gia.

           
Có khi oan gia nghiệp báo xúi giục người bệnh cứ khăng khăng đòi hỏi con cháu phải sát sanh một con vật để làm thức ăn. Khi đó, chúng ta phải cố gắng khuyên nhủ và thường xuyên cho nghe kinh. Mặt khác chúng ta nhờ bổn đạo cầu nguyện theo nghi lễ thông dụng, cũng như mỗi ngày gia quyến cầu nguyện Ơn Trên hộ trì cho người thân được ổn định tâm hồn vượt qua khảo đảo.


            2. Khi ông bà cha mẹ đã mất:

           
A) Tang lễ:

           
Theo nghi thức Cao Đài: đơn giản, không mê tín.

           
- Một khi đã ý thức vấn đề tâm linh là điểm đích rốt ráo thì những gì cần thiết cho sự tiến hóa tâm linh phải luôn được xem trọng. Vì thế chúng ta không chạy theo những hình thức rườm rà, hao tốn như người đời thường thể hiện để chứng tỏ sự hiếu thảo nhưng không có ích chi mà lại làm phiền hàng xóm như: lợi dụng việc thức đêm trong đám tang để bài bạc, nhậu nhẹt, ca hát vang rền .v.v… Khi đưa tang thì kèn tây rần rộ những bản nhạc giật gân đối chọi với phường bát âm cổ nhạc bi ai.

           
- Chúng ta phải thể hiện bản sắc văn hóa Cao Đài trong tang lễ. Như trong việc cúng tế cho vong linh người quá vãng, con cháu phải làm theo nghi lễ Cao Đài, không được bắt chước những hình thức mê tín như: đốt giấy tiền vàng bạc, nhà cửa, xe cộ, đồ dùng v.v… Tại sao chúng ta không nghĩ rằng nếu vong linh hưởng được những cúng phẩm ấy có nghĩa là chưa được siêu thoát ! Ai lại mong như thế, hóa ra bất hiếu hay sao ?!!!

           
- Còn nếu tổ chức “phá ngục cướp vong” rồi lập đàn cúng bái nhờ U Minh Giáo Chủ siêu độ theo quan niệm của dân gian để thể hiện tinh thần hiếu đạo thì lại cũng rơi vào mê tín !

           
Đức Địa Tạng Vương mùa Trung Nguơn Tân Sửu 1961 có dạy:


            “Giờ nay Ta vâng Ngọc Hư Sắc triệu, Tam Giáo truyền ban, Ta mượn điển quang để bày giải đôi câu đạo đức để kỷ niệm trường sanh trong kỳ Trung Nguơn xá tội. Hỡi nầy chư hiền thiện tín ! Có lẽ chư hiền thấy rõ người đời mãi khi đưa xác chết lên đường, lập bàn gọi Địa Tạng rước vong. Cười …… Nầy chư thiện tín ! Ta chỉ có quyền pháp để siêu rỗi cho những vong hồn biết siêu rỗi, giải thoát cho những vong hồn có các nhân lành đặt trên đường giải thoát. Chớ quyền pháp của Ta không phải để cướp tội một đám giải oan của người đưa Ta lên địa vị rước vong như người lầm tưởng.”

           
Vì thế thay vì sa đà vào hình thức rần rộ để cố chứng tỏ cho đời biết sự hiếu thảo của mình với người quá cố, chúng ta những tín hữu Cao Đài một khi đã hiểu Lý của Đạo Hiếu sẽ không như thế. Trái lại, những điều cần phải làm nếu muốn cho người thân mau được siêu rỗi thì trong việc tang lễ, cầu siêu chúng ta phải thực hiện những điều mà Thế Luật điều thứ 16 và 17 trong Tân Luật qui định:

           
- Trong việc tống chung không nên xa xỉ, không nên để lâu ngày, không nên dùng đồ âm công có màu sắc loè lẹt, chỉ dùng toàn đồ trắng, không nên đãi đằng rần rộ mà mất sự nghiêm tịnh và mất dấu ai bi.

           
- Trong việc cúng tế vong linh không nên dùng hy sinh, dùng toàn đồ chay thì được phước hơn; không cấm lễ nhạc song phải dùng lễ nhạc theo Tân Luật. Tang phục thì y như xưa.

            Cúng chay:

           
Vậy trong tang lễ và sau nầy trong cầu siêu cửu cửu, bên cạnh việc cúng chay chúng ta cố gắng ăn chay trong những ngày này dầu đó không phải là ngày ăn chay đối với những đạo hữu còn ăn chay kỳ.

           
Một thí dụ về việc cần thiết phải cúng chay cho người thân đã qui liễu qua lời dạy con của vong linh một vị Chức Sắc phẩm Giáo Sư được đức Quan Âm độ dẫn về đàn nhân mùa Trung Nguơn cầu siêu tháng bảy năm Nhâm Dần 1962:


            “Nam Hải Quan Âm Như Lai. Bần Nữ đại hỉ chư Thiên mạng, miễn lễ an tọa.

Thi bài:

          Trung Ngươn lễ Vu Lan xá tội,

          Để chư vong bớt lỗi nhờ con;

                      Thế gian hành thiện lo tròn,

Cứu chơn linh khỏi héo von ngục hình.

          Mỗi Thiên mạng tuy mình tu tập,

          Nhưng mẹ cha được cấp phước dư;

                      Nhờ công con sẽ bù trừ,

Bớt lần tội lỗi từ từ siêu lên.

          Mục Kiền Liên chí bền lập đức,

          Cứu mẹ người được dứt oan khiên;

                      Tích xưa nêu để roi truyền,

Thế gian lấy đó mối giềng tu thân.

          Muốn kỷ niệm nên Bần Nữ giáng,

          Đưa chơn linh đến Vạn Quốc Đàn;

                      Giáo Sư Ngọc Bút Thanh ban,

Vào cơ nhắc nhở một đàn con thơ.

          Lo tu niệm được nhờ âm đức,

          Để phụ thân sớm giải tội xưa;

                      Hầu mau siêu rỗi thượng thừa,

Về nơi cực lạc sớm trưa hưởng nhàn.

Tiếp điển:

Thi:

Ngọc ngà châu báu của trần gian,

Bút hạ đôi câu nhắn ít hàng;

Thanh trược đời người ôi liệu lấy,

Giáng cơ khuyên trẻ chốn gia đàng.


            Ngọc Bút Thanh, Hiền Huynh chào chư Thiên mạng, huynh tỷ đệ muội, các em an tọa. Hôm nay, Hiền Huynh được ân đức Thiêng Liêng cho phép về đàn để nhắc nhủ các con của Hiền Huynh ……

Thi:

Nguyễn Bỉnh Nghiên con đáng phận con,

Một lòng hiếu thảo đã lo tròn;

Từ Vân tuần cửu thành tâm nguyện,

Cha được về đàn điểm bút son.

       Thi bài:

          Ngày mồng chín tháng tư vĩnh biệt,

          Hai mươi giờ rưỡi kiệt hơi mòn;

                      Nhâm Dần từ giã các con,

Chơn linh xuất khỏi được tròn phận cha.

          Thấy các trẻ nhỏ sa lụy ngọc,

          Khuyên từ nầy rán học tu thân;

                      Bỉnh Nghiên cha dạy tua vâng,

Những ngày giỗ chạp nên cần cúng chay.

          Để cha được phước nay siêu độ,

          Nhẹ linh hồn Tiên lộ bước lên;

                      Đó là lễ kỉnh ân trên,

Dưới đây gởi nhắc các tên trẻ hiền.…………

          Thôi từ giã chuyện trò vừa mãn,

          Về non Thần dày dạn lập công;

                      Tu thêm chờ lúc đắc phong,

Ấy là con trẻ một lòng thương cha.”


            B) Thành kỉnh tham gia cầu siêu tháng Bảy:

           
Là tín hữu Cao Đài, trong mùa Vu Lan chúng ta thể hiện Hiếu đạo với vong linh Cửu Huyền Thất Tổ cụ thể bằng cách siêng năng tham gia cùng tập thể bạn đạo các thời cúng cầu siêu cho thân nhân của mình và thân nhân của các đạo hữu cũng như cho các âm hồn.

          “Rằm tháng bảy đến kỳ phóng xá;

          Trước điện vàng phục tạ thiêng liêng,

                      Cháu con lòng phải kiền thiền.

Khẩn cầu may đặng tội liền giảm khinh ….”

            Thí dụ sau đây chứng minh điều này:

          “Châu Thị Phương phục hồi Thánh vị …

          “Kỳ đại xá Trung Nguơn thắng hội,

          Luật xá ân giải tội âm phù;

                      Những người trước đã biết tu,

Còn sai đôi nẻo Diêm Phù buộc chơn.

          Nhờ hối cải bồng sơn trở lại,

          Hoặc nơi trần con cái nguyện cầu;

                      Tạo lập công quả đức hầu,

Thay vào chuộc tội giải sầu tổ tiên.”

           
Đức Chí Tôn, một lần giáng đàn ở Trung Hưng Bửu Tòa thuộc Hội Thánh Truyền Giáo có giải thích ý nghĩa việc cầu siêu cho đạo hữu là việc phải làm để thể hiện sự thương yêu hiếu đạo qua việc độ tử.


            “Thầy đến giờ nầy nói qua những điều các con chưa rõ: việc làm lễ cầu siêu cho Đạo đồ quá khứ là một dịp đại ân xá của Thầy. Nhưng có đứa hỏi tại sao Thầy đã đưa tay tận độ mà còn cầu siêu để làm gì? Thầy luôn luôn ở nơi lòng mỗi con mà điều độ lấy con. Sự thương yêu ở đâu là Thầy ở đó. Các con có sự thương yêu hiện ra là hạt giống lành của Thầy đã ban mà hôm nay đã được nứt nở.
Thầy với các con là một. Thầy đến với các con bằng thương yêu, các con phải là sự thương yêu mới hòa một. Nên chi sự độ tử là Thầy muốn cho toàn Đạo lập công để hạt từ bi chính đạo trưởng dưỡng, tiến lên cõi Đạo mà Thầy là người rước, Hội Thánh là kẻ đưa. Có đưa mới rước là pháp Đạo công bình. Thầy cũng không vượt ngoài luật ấy. Nên thời kỳ tuy nói là tận độ mà không phải ai ai cũng được độ.


            Nếu Thầy có quyền tự ý độ tận thì có mở cửa Đạo làm gì? Thầy dùng điển quang chuyển nhập vào mỗi chúng sanh làm cho hạt giống từ bi được tiếp duyên lành mà trưởng dưỡng, đó là độ. Các con cầu siêu cho đạo lữ, cho tiên linh nghĩa là Thầy độ bằng thuyền, các con chèo sào chống tới. Ấy mới hiệp lẽ Thiên Nhơn tương hội. Những điều nào đề ra cũng muốn lợi cho tâm bồ đề để cứu chuộc được cả vạn linh đương trầm luân nơi khổ hải. Tiên linh của con, con không độ được thì con thất hiếu. Thất hiếu là thất Đạo.”

           
Bên cạnh việc hướng dẫn tín đồ chúng ta thể hiện Đạo Hiếu trên cả hai mặt độ sanh và độ tử đối với ông bà cha mẹ, Thánh giáo Cao Đài cũng dạy chúng ta hãy ý thức rằng cần phải thực hành Tam Công gắn bó với sứ mạng độ đời:


            3. Tu học hành Đạo để làm tròn Đạo Hiếu:


            A) Xem việc Đạo là trọng:

           
Chúng ta hãy nghe lời khuyên của một đấng Tiền Khai Đại Đạo, Đức Ngọc Lịch Nguyệt với một người cháu của mình:


            “Đây Ta dạy cháu Lê Hoàng Cầu và hiền muội Ngô Thị Các. Trong cảnh mẹ góa con côi, gần đường đạo đức, hiền muội hãy cố gắng ngày đêm tu niệm để cứu linh hồn trong buổi trời chiều xế bóng, dầu lao thân tiêu tứ rồi cũng chẳng có chi.


            Cháu Cầu và các cháu biết thương mẹ, biết vì hiếu đạo, hãy cố gắng bước lên đường đạo để giúp cho Mẹ các cháu thoát cảnh đọa lạc luân hồi, còn hơn là các cháu may áo gấm, dâng miếng ngon cho thể xác. Ta dặn như vậy, các cháu lưu ý.”

           
Người tín đồ nếu đã tu học và giác ngộ ở mức độ khá, ý thức được con đường sứ mạng tận độ, đại ân xá kỳ ba của Chí Tôn Thượng Đế với chúng sanh thì sẽ xem việc hành đạo là lẽ sống lý tưởng của đời mình. Khi đó sứ mạng trước nhân sanh có tầm quan trọng hơn nghĩa vụ trong gia đình. Lời dạy sau cũng của Đức Ngọc Lịch Nguyệt, cho chúng ta thấy điều này:


            “Bạch Tuyết nhục nữ ! Ta mừng thương cho con được noi chí Ta mà hành đạo. Vậy ngày kỷ niệm thoát xác của Ta đúng với ngày phái đoàn khởi hành thăm viếng miền Trung. Con vì lòng hiếu Đạo có thể sắm một nhành bông, một trái cây, một chén bạch thủy vào đầu giờ Mẹo mùng 2 tháng 9 Mậu Thân. Ta sẽ đến chứng cho con tại bàn thờ tiền bối quá vãng, rồi con kịp giờ khởi hành cùng phái đoàn.


            Khi biết được Đạo, muốn báo đáp hiếu thân thì con hãy hành cho được cái Đạo và cái chí của Ta năm xưa mới là đáng kể. Chớ phần hình thức trang trọng đối với Ta không thành vấn đề. Các cháu con đến ngày kỷ niệm Ta hãy tụ họp lại Vĩnh Nguyên với lễ nghi đơn giản và đạm bạc. Cần yếu là soạn lại những lời của Ta đã dạy từ mấy năm qua và hành cho được cái Lý Đạo đó. Có Ta đến chứng lễ cho.”

           
Cùng với ý đạo trên, Đức Lê Đại Tiên có dạy cho những ai đã giác ngộ:


            “Phải hoàn toàn sống cho Đạo, có như vậy mới gọi là trung, là hiếu, là tiết, là nghĩa của bổn phận làm người.”

           
Vì thế người tín hữu Cao Đài chúng ta cần:


            B) Phải hiểu và hành: Lo hành Đạo độ dẫn nhân sanh.

           
Những đoạn Thánh Giáo sau giúp cho chúng ta có cách nhìn đúng trên đường thực hành đạo Hiếu.

           
- Đức Chơn Thanh Chơn Tiên ở Thánh Tịnh Bồng Lai Lái Thiêu dạy con:


            “Giờ chuyển bút lưu đây đến tận nhục nhi vài dòng tâm sự. HIỆP con!
Nên nhận lấy trách nhiệm mình còn hô hấp cõi trần, nên tiếp tục hầu cởi mở nghiệt oan tại thế, giờ trút chơn hồn được phục hồi thượng cảnh. Đây là điều nhắn gió gởi mây, mong nhục nhi con được hòa mình trong chương trình phẩm vị.


            Giờ đây, ái nhi con cùng hiền tức đồng chung nhau nhứt trí để tạo một căn cơ. Căn cơ nầy lưu tồn hậu thế, để cho đời một nơi cơ sở hầu học tập nuôi dưỡng tinh thần. Đó là một điều trọng đại mà cũng là một điều chí hiếu. Vì hiếu chí ư thiện. Lòng con thảo đã phô bày ấy là hiệp với lòng Trời vô vi thượng cảnh.”

           
- Một lần giáng đàn trong mùa Vu Lan, Đức Mẹ đã hướng dẫn tín hữu Cao Đài chúng ta, những con cái của Ngài, thể hiện Đạo Hiếu như thế nào để vừa trọn bề Hiếu Đạo với Cửu Huyền vừa thực hiện Đạo Hiếu với Đấng Mẫu Nghi vô hình.


            “Khi đến mùa thu, lòng các con nôn nao rộn rịp, hội hợp bao lần, mục đích để tạo ra một lễ hiến dâng lên cho Mẹ trong kỳ trung thu bán ngoạt …. Vì động lòng các con nên Mẹ hạ trần bày giải, để các con suy tư hội ý hầu thực hiện theo ý của Mẹ nơi cõi vô hình. Này các con ! một cành hoa đơm đầy ngũ sắc cặm nơi ngân thủy bình, một ngọn hương, đó là lòng trọng đại của các con để cung hiến lên bậc chưởng quyền Càn Khôn Tạo hóa ….


            Các con thương Mẹ, mến Mẹ vô hình, các con nên nhìn vào đoàn sau của các con từ thành thị đến thôn quê tinh thần rách nát, thân thể tả tơi, cơm chẳng no lòng, nước đà cặn bã, lửa cháy khô khan. Đó là điều mà Mẹ mong cho các con được làm tròn bổn phận. Các con mến Mẹ, các con phải thực hiện điều này để chia sẻ nỗi khổ buồn của các con hẩm hiu bạc phước. Như vậy điều mong ước của Mẹ, các con nên lưu tâm chia sớt nỗi khổ đau ….


            Vậy giờ Mẹ rọi điển cùng các con đôi lời. Các con tri tường, hầu
chuẩn bị tinh thần thực hành ý Mẹ ….


            Vậy các con đàn tiền, giờ điển truyền điều cầu nguyện của mỗi con.
Mẹ chấm công kỳ đại xá vong linh Cửu Huyền sẽ được phục hồi Tiên môn tịnh luyện.
Đó là phúc lành mà các con sẽ gặp. Kỳ đàn đến, các con sẽ tiếp những vong linh được đại xá hồi cơ, đó là đáp lòng các con trần Hiếu Đạo.”

           
- Người nhập môn vào đạo đã lâu năm, được học hiểu những lời giáo huấn của Ơn
Trên nên giác ngộ, ra sức rèn luyện tu thân và hành đạo, lấy việc bồi công lập đức làm niềm vui. Bởi vì chúng ta ý thức được rằng trong khi chúng ta sốt sắng không mệt mỏi hành Đạo là chúng ta đang thực hành Đạo Hiếu với Cửu Huyền Thất Tổ và đồng thời cũng đang làm vui lòng Thầy Mẹ như lời Đức Chí Tôn đã dạy:

     “Sơn hà bóng đã mỏi mòn,

Bước chân Đại Đạo sắt son mỗi thời;

                 Đem thân dâng hiến cho đời,

Cứu người mê muội độ người đau thương.

     Là con biết rõ vai tuồng,

Hiếu Thầy, trung Đạo làm gương sau nầy;

     Nắng mưa mỗi lúc vần xoay,

Tâm con mỗi lúc đủ đầy đức công.”

           
Nắng mưa không ngại, đem thân dâng hiến cho đời để cứu độ người đau thương mê muội là chúng ta đang thể hiện lòng hiếu đạo với Thầy cũng như với Cửu Huyền Thất Tổ.


            C) Hướng dẫn con cháu nhập môn:

           
Và quá trình bồi công lập đức thực hiện sứ mạng cũng đừng quên việc hướng dẫn phần tâm linh của con cháu. Chúng ta có nhiều thí dụ lời dạy về việc nầy.

           
Đức An Hòa Thánh Nữ có lần dạy con như sau:


            “Con nên nhớ câu nầy: Cái đèn sáng nhờ châm dầu thường, lau bóng sạch, chăm sóc mới được sáng hàng ngày hằng bửa, thì đạo tâm cũng vậy. Cần nhứt là nên lo cho tương lai của các con cháu.


            Phải làm thế nào cây cam phải trổ trái cam, đừng trổ bồ hòn cho thế gièm pha. Khi tuổi trẻ còn non lòng, khờ dại ví như kiểng non, con phải tùy thế tùy phương cách để sửa sang hun đúc lại cho được hoàn hảo. Đó là con làm vui lòng mẹ, cũng như con đây được sự hiếu thảo với tông môn vậy. Con ghi nhớ.”

           
Đức Minh Đức Đạo Nhơn trong một lần giáng đàn dạy dỗ gia đình có những lời sau:


            “Cha đã mừng thấy hai con được nối chí của cha mà hành đạo, cố gắng vượt mọi khó khăn thử thách từ nội gia, nội bộ Cơ Quan đến ngoại cảnh để đạt những gì tốt đẹp hiến dâng Chí Tôn Thượng Đế.


            Hai con đã xứng đáng là con hiếu thảo của Cha để không hổ thẹn với câu “lập thân hành đạo dương danh ư hậu thế, dĩ hiển kỳ phụ mẫu hiếu chi thị giả”.
Nhưng còn một chút nữa mà Cha không thể không nói ra đây, vì không nói e hai con quá bận việc rồi quên đi: đó về mặt nhân đạo ở cương vị làm con hiền. Hai con đã báo hiếu cho cha mẹ trong công việc hồi hướng công quả rồi ……


            Nhưng ở cương vị thế Thiên hành hóa phổ truyền đạo lý, độ dẫn nhơn sanh thì hai con còn vướng một chút đó ! Nếu làm được, ôi quí biết bao ! Như hiện giờ hai con đang xây dựng sự nghiệp to lớn lâu dài cho con cái, nhưng con không hướng dẫn nó song song với sự nghiệp đạo đức tinh thần, tâm linh bổn giác thì chẳng khác nào hai con đóng cho chúng những chiếc đại thương thuyền để vượt trùng dương nhưng không dạy chúng biết cách sử dụng của người thuyền trưởng. Rồi khi vượt phong ba gặp bất trắc chúng nó biết làm sao, hỡi hai con ?…


            Trong lúc hai con lo phổ độ chúng sanh đó đây khắp các nẻo đường nỡ nào bỏ quên chúng sanh bên cạnh hai con ! Làm sao khỏi uổng công tạo hóa chúng mới thật là hai con chí hiếu đó vậy.”

           
Vậy một khía cạnh thể hiện chữ hiếu là việc cần thiết phải hướng dẫn tất cả con cháu nhập môn vào Đạo để góp phần công đức cho Cửu Huyền Thất Tổ cũng được Đức Mẹ dạy:


            “Mẹ ban một đặc ân cho mấy đứa Chí Thành, Chí Bảo, Chí Mỹ. Đặc ân nầy không phải riêng cho các con mà là một gương khích lệ chung cho các con tu thân hành đạo.


            Ba con hãy về dạy tất cả các em cháu con cái trong gia đình, nếu đứa nào chưa nhập môn cầu đạo thì hãy bước vào để cho những chơn linh đã tu hành từ trước được thọ hồng ân trở về gặp gỡ các con, dạy những điều hay lẽ phải cho hiểu đạo lý nhân quả luân hồi như thế nào mà giác ngộ phổ độ nhơn sanh.”


            D) Vào đường Thiên Đạo:

           
Sự tu học hành đạo bồi công lập đức độ dẫn nhân sanh là thực hành Đạo Hiếu ở bậc Thánh Đạo và mai sau khi tu tiến vào Thiên Đạo tịnh luyện là thực hành Đạo Hiếu ở bậc Tiên Đạo. Cả hai rất quan trọng cho việc cứu độ Cửu Huyền Thất Tổ. Đức Thái Thượng Đạo Tổ trong Thánh Đức Chuyển Mê có dạy:

          “Tiên Giáo dạy Khí gây đức tánh,

          Rán gìn lòng Khí mạng qui căn;

                      Thánh truyền hiếu thảo khôn ngần,

Cha sanh Mẹ dưỡng mấy trăng nặng nề.

          Ơn Phụ mẫu sánh bề sơn hải,

          Công sanh thành nuôi dạy lớn khôn;

                      Ngày nay xác đã hiệp hồn,

Làm con phải nhớ vong tồn chớ sai.”

           
Chúng ta có thể lấy một thí dụ trong Kinh Tiếng Trống Giác Mê của Bá Phước Minh Thần để thấy kết quả và làm thí dụ thực hành Đạo Hiếu về mặt Thiên Đạo:


            “Thần chào chư Thiên mạng, chư phận sự, giờ nay Thần đắc lịnh Đại Từ Phụ, sắc danh từ cho Thần tả kinh tiếp đoạn sau này hầu có lập thêm âm đức.


            Còn Thần đây khi sanh tiền nào có tu, nhưng trọn gìn lòng ngay thật đạm bạc của cải gầy chút ít công quả rồi đến khi Thần qui vị, nhờ 3 ấu nhi là Thứ, Đài, Bang lo lập bồi đạo đức nên nay Đại Từ Phụ ân xá cho Thần về tả kinh rất hữu hạnh, rất hữu hạnh. Bởi thế cho nên có câu “nhứt nhơn đắc đạo Cửu Huyền thăng”.


            Có nhiều khi Thần về chốn cũ, trông thấy cả ấu nhi của Thần biết hội hiệp vui vầy một cửa lo tu luyện, Thần rất vui lòng và rất cảm động. Nay Thần để đôi lời khuyến thế mau hồi tâm tầm đường hạnh phước mà lần chân theo bước đạo Trời.”

           
KẾT LUẬN:

           
Người tín hữu Cao Đài thể hiện tinh thần Hiếu Đạo đúng với Đạo Lý là chăm lo cho ông bà cha mẹ trên cả hai mặt nhân sinh và tâm linh.

“Chữ hiếu phải lo vẹn phận người,

Sanh thành Đạo trọng há đâu chơi;

Buông trôi ví chẳng tròn Nhơn Đạo,

Còn có mong chi đến Đạo Trời.”

           
Tháng bảy, mùa Vu Lan báo hiếu theo truyền thống văn hóa Đông Phương, nếu như gương của Vua Thuấn thể hiện đạo hiếu trên mặt nhân sinh thì gương của Ngài Mục Kiền Liên Tôn Giả thể hiện sự hiếu đạo trên mặt tâm linh. Tam Kỳ Phổ Độ, trong tinh thần dung hòa tổng hợp và phát huy truyền thống văn hóa, Ơn Trên dạy chúng ta phải thể hiện sự Hiếu Đạo rốt ráo trên cả hai mặt. Tùy theo mức độ giác ngộ hiểu đạo của mỗi người mà áp dụng thực hành theo cấp bực nào đó trong Ngũ Chi Đại Đạo. Nhưng vấn đề rốt ráo sau cùng, quan trọng nhất, vẫn là chăm lo cho sự siêu thoát tâm linh của Cửu Huyền Thất Tổ. Mà bước khởi đầu như lời dạy của đức Lý:


            “Chư hiền đệ muội ! có câu: “Tu là cứu Cửu Huyền Thất Tổ…” Một khi chư hiền nào đã nhập môn lập thệ hoặc thọ pháp rồi đều đã góp phần khởi thủy cho việc cứu Cửu Huyền Thất Tổ rồi đó.”

           
Đức Hà Tiên Cô dạy:


            “Sự đền ơn trả thảo cù lao dưỡng dục chi nghĩa là phải tu như vậy.
Tu cho đắc đạo, phản bổn huờn nguyên, thời độ Cửu Huyền Thất Tổ theo lên, chớ chẳng phải phụng cúng đồ cao lương mỹ vị. Thế gian khi thác thì nhựt sát tam sanh, tế tông tự tổ ấy là gia tăng đại tội cho tiên thân, chẳng phải là hiếu.”

           
Đức Giáo Tông cũng nhắc:


            “Sự tiến triển cao hơn là nhờ công phu tu luyện bởi lòng chân thành quyết hy sinh với đạo, để tầm lối thanh cao giải tỏa nghiệp trần, tự tạo lấy quả công tăng cho mình phẩm vị. Vậy Thiên mạng chư hiền nên giữ vững lập trường đạo đức, “lập thân hành Đạo dương danh ư hậu thế, dĩ hiển kỳ phụ mẫu hiếu chi thỉ giả”.

           
Vậy phần thay thân lãnh đạo, nhận định đường lối trung hòa làm gương mẫu hướng đạo hầu dẫn dắt đoàn hậu tấn về nơi cõi thiện. Như vậy là phần Thiên mạng đã tròn tại thế.”

           
Và chính sự cố gắng tu học hành đạo, góp phần phổ độ nhơn sanh của mỗi tín hữu chúng ta thể hiện tinh thần Hiếu Thầy – Trung Đạo là phương cách thể hiện Đạo Hiếu trọn vẹn nhất. Khi chúng ta thể hiện được tốt trên cả hai mặt nhân sinh và tâm linh thì kết quả cho bản thân và sự cứu độ Cửu Huyền Thất Tổ ắt là thực tế.

Đạt Tường
Tâm Duyên xin chân thành cảm ơn HH Chánh Tuân đã giới thiệu và cũng thành kính tri ân Đạo Huynh Đạt Tường – tác giả bài viết trên.


Quan niệm về “Hiếu” trong giáo lý Phật giáo

Comments (1)

 

  1. LUẬT ĐỜI – PHỤ MẪU ÂN

    Mới thọ sanh lòng mẹ thì đã mang lấy phụ mẫu ân rồi. Tinh cha, huyết mẹ, tình thâm trọng là dường nào. Công chín tháng cưu mang biết bao nghĩa nặng. Lọt lòng ra toàn vẹn, còn hoi hóp, thì cha mẹ đã mừng, chăm nom, săn sóc, vú sữa, búng cơm; lo lo, sợ sợ trong cơn sốt mẩy, nóng mình. Cha nuôi, mẹ dưỡng, ơn sông biển sánh tài. Trời trở khí đủ đau, đấp nghẹt hơi đủ chết. Đêm ngày bồng ẫm, nghe tiếng khóc đã buông cơm, lóng hơi rên bỏ ngủ. May đặng con bầy nuôi đủ, gọi rằng có phước nhà; rủi năm trẻ còn ba, thương con cha mẹ khổ.

    Dưới mắt thấy lắm điều đau đớn bởi vì con, thân thể cha bị sầu thảm hao mòn, nhiều bà mẹ trắng đầu non cơn tuổi trẻ. Nâng niu con từ bé, mắt ngó chẳng mỏi tròng; dầu con đã nên mụ nên ông, cũng còn nhớ bế bồng khi bé túi. Vì vậy mà cha mẹ quên con trọng tuổi, cứ lầm lũi xem chừng. Mảng để dạ thương cưng, quên nỗi mừng nỗi giận.

    Thương đến đỗi, nhiều mẹ cha chẳng kể đến thân, con rủi chết toan phần tự vận.

    Ôi, cái ân đức ấy trả biết mấy cho vừa, một mối nợ dưỡng sanh tưởng sống trả ngàn năm còn khó đủ. Mang mối nợ thân sanh, với kẻ có đạo, dầu thịt nát xương mòn, đền đáp chưa thỏa dạ.

    Sách Thánh nhơn có câu:

    Dưỡng tử phương tri phụ mẫu ân.

    Người hiếu hạnh, hễ nhìn đến con, dầu tóc bạc da mồi nhớ đến câu ấy, không khô nước mắt. Chịu khổ cực với con dục nhớ niềm sinh dục.

    Hại nỗi, đời thường chịu cái khổ tâm nặng nề nầy: Buổi nhỏ dại ngơ ngơ ngáo ngáo.

    Không thấu đáo nghĩa thâm ân; chừng lớn khôn thân đã nên thân, toan báo hiếu thì mẹ mãn phần cha thoát tục.

    “Cây muốn lặng mà gió chẳng dừng, con muốn nuôi mà cha mẹ lại không còn”.

    Có kẻ thấy hai mươi bốn thảo xưa lại dám cho rằng các đấng ấy là người hữu phước.

    Có kẻ nhắm tình sau nhớ trước, sầu cha mẹ, thương thương nhớ nhớ, ngày mưa gió thấy cảnh buồn, đến đỗi.

    Nghe rót nước lụy tuông.
    Thấy xoáy trầu đau dạ.

    Cha chả, hữu hạnh, hữu phước thay cho kẻ còn cha còn mẹ (song toàn).

    Cái của quí hóa ấy đời khá hiểu sao rằng quí hóa. Không cha mẹ như người đi cảnh lạ.

    Thân cô đơn lạc ngả bơ vơ,
    Nỗi đói cơm khát nước đứng chờ,
    Chẳng thấy kẻ cậy nhờ cơn túng ngặt.
    Dầu chẳng kẻ tay trao cơm vắt,
    Trông có người biết mặt hỏi han mình.
    Bị đẩy xô hiếp đáp chẳng ai binh,
    Chưn nương đất như hình không có đất.

    Thì chẳng khác:

    Mình côi cút còn đời như mất,
    Chẳng có ai gang tấc đỡ nâng mình.
    Nào có ai thấu đặng tâm tình,
    Như cha mẹ để tin che chở.
    Đời lầm lỗi nào ai khỏi lỡ,
    Nếu không cha ai đỡ nâng lời.
    Cuộc nên hư nào tránh đặng vận thời,
    Nếu không mẹ ai hơi đâu lo cứu vớt.
    Trong võ trụ mình người sanh đứng đợt,
    Ai hiểu mình phòng sang bớt gánh đồ thơ.
    Nỗi khó đời nỗi phận u ơ,
    Mưu ai dạy đặng nhờ xây thế sự.
    Mãn kiếp những nỗi mình, mình xử,
    Nào mong chi bạn lữ giúp nên.
    Mẹ cha còn dầu giận cũng không quên,
    Tình máu thịt tuổi tên tay nắn đúc.

    Hèn chi lời tục ngữ nói: Cha mẹ già là mọi ông bà để lại.

    May sanh ra nơi cha mẹ giàu thì chẳng nói chi, rủi gặp nơi nghèo thì cha ăn buổi mơi lo buổi tối; mẹ lại nhọc sức mua Tần bán Sở đặng lo chạy nuôi con.

    Thảm nỗi, nếu sanh sản con bầy, cảnh tượng lại thêm nồng não.

    Nhỏ chạy manh quần tấm áo,
    Lớn khôn lo học lo hành.
    Mẹ cả đời chịu phận cửi canh,
    Cha mãn kiếp lao thân, thuê mướn.
    Hễ bần cùng thì vay mượn,
    Phải phận vướng nợ nần.
    Đày đọa cha phải chịu khổ thân,
    Khổ khắc mẹ chịu phần tôi tớ.
    Chẳng lẽ khó, đem con ra đợ,
    Một miệng ăn núi lở non mòn.
    Dầu cháo rau cũng nhịn miệng nuôi con,
    Đẻ một trẻ lại thon von thêm phận mẹ,
    Đến ăn uống cũng mua vật rẻ,
    Cho đặng nhiều lại nhẹ đồng tiền.
    Nấu trách canh đổ nước nổi thuyền,
    Kho trã mắm nát nghiền xương cá.
    Chẳng hiểu mùi ngon vật lạ,
    Mãn đời ăn chạ mặc thô.
    Miễn ấm cật vải bô,
    Nào biết sô với tố.

    Khi khôn lớn phải lo đôi lo bạn. Cả cha mẹ phải thức khuya dậy sớm làm lụng ra tiền đặng để đôi chút lại cho con.

    Thân thể phải gầy mòn, tinh thần ngày hao kém.

    Những mảng sợ suôi gia chê nghèo nàn mà khổ khắc con mình.

    Bởi vậy mới sanh có tật bịnh.
    Bịnh thường tình của lão mụ.

    Nhiều ông cha, khi gả gái về nhà chồng rồi, ngồi rơi nước mắt mảng lo con còn dại; rồi ngại, biết suôi gia có thương đoái đến con mình. Mẹ sợ con hạnh dở tài khinh, chẳng biết chị mẹ chồng thương dạy dỗ.

    Sợ đến gái hình thô dạng lỗ,
    Thêm cảnh lạ nhà người.
    Dầu rể thương còn bụng chị suôi,
    Để dạ ghét nặng lời hiếp đáp.

    Thương thương, nhớ nhớ, sợ sợ, lo lo. Bịnh hoạn bởi sợ lo, thương nhớ con mòn mỏi.

    Lo sợ nhiều hơn vui mừng, tuổi già lại rấp đến, bịnh hoạn nhiễm dập dồn, cũng vì lo sợ cho con mà phần nhiều cha mẹ phải chịu ra mạng vắn.

    Trai thì lo nổi ăn nổi học,
    Dầu nghèo thế nào cũng mong mỏi cho con nên.
    Chỉnh cầu con gắng chí cho bền,
    Lập danh phận cho thê vinh tử ấm.
    Nghèo nhịn ăn nhịn sắm,
    Để cho con đặng tấm thân lành.
    Chẳng kể già áo bã quần manh,
    Để cho trẻ đẹp xinh cùng thế sự.
    Nhiều đứa dại muốn sang đủ thứ,
    Chẳng kể cha bạc cữ tiền ngày.
    Lắm đứa ngu thịt rượu no say,
    Chẳng nghĩ mẹ tiền may bạc vá.
    Con nên thì còn khá, đứa hư vốn báo đời,
    Nuôi cả đời nuôi đã mòn hơi,
    Còn thêm nỗi ăn chơi gây tội báo.
    Mình muốn tròn nhơn đạo làm con,
    Với cha mẹ phải làm sao?
    Hễ bé thơ tập vào bái ra chào,
    Quyền cha mẹ, Trời cao kia dám sánh.
    Lời sai khiến lòng đừng sanh nạnh,
    Lịnh mẹ cha Thần Thánh cũng không bì.
    Khi dạy răn đòn bọng chớ sân si,
    Hình vua chúa có khi còn phải kém.
    Cơn hỏi tội đừng mưu che ém,
    Công dưỡng sanh quyền chém vốn không vừa.
    Sự nên hư định liệu phải thừa,
    Quyền thầy dạy cũng chưa so bẳng.
    Đừng cải lẽ những điều phải chẳng,
    Tấm thân già hiểu đặng cuộc đời hơn.
    Đừng phiền lòng cơn giận lúc hờn,
    Hễ để dạ giận hờn già dạy trẻ.
    Đừng so sự bù chì nặng nhẹ,
    Mẹ đã cân con để đứa nào hèn.
    Đừng cà nanh những tiếng chê khen,
    Chê khen vốn nhiều phen mưu chước khéo.
    Đừng tức mẹ vả xiên ngắt xéo,
    Ấy phép linh mẹ sửa méo ra tròn.
    Đừng hờn cha mạnh cú nặng đòn,
    Ấy tài diệu cha trui con ra bén.
    Đừng ghét già hay chọn kén,
    Ấy là phương vun quén nên nhà.
    Đừng ghét già có tánh lo xa,
    Ấy là kế để pha đồng đều họa phước.
    Đừng thầm trách già hay mực thước,
    Ấy chước già nhiều lượt đã đo đời.
    Đừng trách già tiện tặn ít ăn chơi,
    Ấy nhắc thuở cùng thời già có đói.
    Đừng ghét tánh già hay lòn lỏi,
    Ấy nhớ cơn nghèo đói phải chìu người.
    Đừng giận già ít nói ít cười,
    Ấy rầu đẻ con mười nuôi đặng bảy.
    Đừng chê tánh già hay thờ lạy,
    Bởi nuôi con khấn vái biết bao phen.
    Đừng gớm già mặc tiện ăn hèn,
    Vì nhớ đã nhiều phen gần ở lỗ.
    Đừng nhạo già thờ cha cúng tổ,
    Già ngậm ngùi nhớ thuở giỗ rau dưa.
    Lại đừng giận cha hay rầy nói cù cưa,
    Vì sợ trẻ mắc lừa đời xảo quyệt.
    Đừng giận mẹ cằn nhằn mắng nhiếc,
    Vì lo con chẳng biết thế gian hùng.
    Gái lớn lên giữ chữ phụ tùng,
    Trai chớ khá buông lung theo chúng bạn.
    Muốn cách mặt xứ xa định bạn,
    Đừng để già những mảng phập phồng lo.
    Gái nồi cơm bát nước đói no,
    Trai thang thuốc ngày lo an vấn.
    Thường nhớ lúc mẹ cha lận đận,
    Đủ khôn ngoan gắng phận lo lường.
    Thế nhọc công giúp đỡ thung đường,
    Để cha mẹ dựa nương như con gậy.
    Khi tuyết trở đêm lo đấp đậy,
    Thương đôi thân vì đấy mới ra mình.
    Hằng ngày dâng miếng ngọt mùi lành,
    Đền bù thuở nhọc nhằn già lúc trước.
    Phải nhớ hiếu đúc mồi loài ô thước,
    Đặng đền bồi cho được nghĩa cù lao.
    Dầu lớn khôn tước cả quyền cao,
    Cũng nhớ thuở thai bào công chín tháng.
    Dầu mình có giàu sang ức vạn,
    Nhớ lúc cha bạc tháng tiền ngày.
    Dầu mình sang ngự điện ngồi ngai,
    Cũng nhớ thuở mẹ chầm gai cha kết lá.
    Dầu mình có thiếp hầu trăm ả,
    Cũng nhớ nơi chòi lá mẹ ru con.
    Dầu mình vinh kẻ cúi người lòn,
    Cũng nhớ thuở cha ẵm con ngồi đợi mẹ.
    Mình ra có quân hô tướng ré,
    Nhớ lúc cha ké né cửa nha môn.
    Mình dầu nên đáng mặt vương tôn,
    Cũng nhớ mẹ mủng trôn vai gánh.
    Dầu mình có giỏi hơn Tiên Thánh,
    Cũng nhớ cha có tánh thật thà.
    Dầu mình giàu rộng thế xa hoa,
    Cũng nhớ mẹ ở nhà bòn cắc nhỏ.
    Mình mua một trận cười, ngàn bạc đổ,
    Nhớ lúc cha đương rổ mẹ nong sàng.
    Mình dầu đồng bạn tác cùng quan,
    Đừng hổ phận bần hàn cha mẹ.
    Đừng thấy khó mà ra ké né,
    Vì hổ ngươi hai lẽ nhục vinh.
    Đừng thấy điều dốt nát mà khinh,
    Xem lại mảnh thân hình nhìn máu mủ.
    Đừng thấy lẫn rầy la mà phụ,
    Phải nhớ hồi còn bú tới thôi nôi.
    Đừng chê rằng thấp trí chẳng tuân lời,
    Phải nhớ lúc dạy chơi buổi nhỏ.
    Đừng thấy mắng mà đành chẳng ngó,
    Nhớ công cha buổi nhỏ dạy, răn trừng.
    Đừng phiền rằng: lỗi, phải, oan, ưng;
    Nhớ buổi nhỏ cha cưng không đánh đập.
    Đừng phiền cách trị gia cao thấp,
    Nhớ thơ ngây cha tập đến trường.
    Đừng phân tình cha ghét mẹ thương,
    Nếu cha mẹ ghét tiêu xương ra cát đất.
    Đừng tranh phát gia tài đặng thất,
    Nếu cha ngu của mất hồi mô.
    Trai lớn khôn tứ hải ngũ hồ,
    Vai gánh nặng cơ đồ công tổ phụ.
    Phải hiểu rõ hai điều vinh xú,
    Hiển tông môn qui củ nghiệp nhà.
    Của mẹ cha cực nhọc làm ra,
    Giọt nước mắt phải hòa cùng giọt máu.
    Đôi phen chịu cơm mơi chiều cháo,
    Mới còn dư để gạo lại cho con.
    Biết đạo nhà chẳng để hao mòn,
    Lựa đem ném đầu non quăng đáy biển.
    Mình dầu đặng ăn sang quí miếng,
    Tưởng mẹ cha chịu tiếng chết thèm.
    Dầu mình không có sức làm thêm,
    Lại bao nỡ đành đem giao kẻ khác.
    Gia sản để cho ra đến mạt,
    Ắt đem thân làm mọi nhà người.
    Câu tích kim lời đã đáng lời,
    Cơ nan thủ phép Trời đã định.
    Phải chi đặng để lòng khéo tính,
    Noi gương cha nhịn tánh bốc rời.
    Giữ của bền của đẻ ra lời,
    Trọn sự nghiệp truyền đời con tới cháu.
    Ngặt đời lại ưa điều hung bạo,
    Mảng tranh giành kiện cáo phải hư nhà.
    Chia gia tài bạc đấp nền tòa,
    Giàu vạn hộ cha làm mà con hết của.

    Có câu phương ngôn: Chẳng cái sự vô phước nào hơn là đương giàu lớn mà sa cơ ra giàu nhỏ; lại chẳng có sự đại phước nào hơn là đương nghèo khó đặng đủ ăn.

    Nếu mình không giữ đặng gia tài của cha mẹ chia lại mình, dầu cho một vật nhỏ mọn gọi là dấu tích đi nữa mình đã sang trọng thế nào, cũng là người vô phước.

    Nhiều người mượn tiếng môn đường ít đức, đặng che mình bạc nhược để hư nhà. Nếu mình biết lo xa đừng ăn lớn xài to đâu đến mạt. Nếu luận cho đích xác tại nơi mình phá của mới ra nghèo.

    Phải noi gương cha giữ lái giữ lèo,
    Phương tiện tặn làm theo đâu thốn thiếu.
    Lẽ hay dở phải lo định liệu,
    Cả anh em nương níu lấy nhau,
    Nhớ tấc đất ngọn rau, cũng công lao cha mẹ.
    Đừng để ý người giành kẻ xé,
    Toàn cả nhà lớn bé xúm đồng lòng.
    Của chia tư nhập lại làm công,
    Gương cột đũa, gương hay dùng phải dịp.
    Đừng kể nể kẻ hơn người hiếp,
    Xúm xích nhau chung hiệp làm bè.
    Hễ anh hòa anh nói em nghe,
    Còn em thuận ắt dặt dè anh phải thuận.

    Cha mẹ làm ra của để lại cho con chỉ có mong cho cả giòng giống nương sự giàu có đặng sang trọng lâu dài, hầu tránh cho khỏi nghèo hèn chịu phận tôi đòi của thế sự. Nếu mình biết lo gìn giữ, đặng cư xử vuông tròn, thì đạo làm con mới vẹn.

    Người đạo hạnh:

    Dầu cây cỏ công cha vun quén,
    Cũng không lòng nhổ ném cho đành.
    Huống gia tài cha mẹ sẵn dành,
    Công co cỏm tấm manh vành sắt.
    Hễ thấy của mẹ cha trước mắt,
    Xem của như người, nhắc nghĩa thâm ân.
    Hễ thương cha nhớ mẹ ân cần,
    Gìn trọn vẹn gia phần người để lại.
    Có đâu lẽ cho trai cho gái,
    Phải nhớ câu nặng ngãi sanh thành.
    Dầu trong cơn cầu lợi mua danh,
    Cũng chớ khá đua tranh hao kém của.
    Cha mẹ giàu để con bồ lúa,
    Cha mẹ nghèo để đũa ăn cơm.
    Sang để của, khó để tình;
    Tình với của khá nhìn đồng giá quí.
    Làm trai ví gìn lòng chí khí,
    Dầu tay trơn mưu trí lập thân mình.
    Phải so đo tình trọng của khinh,
    Đừng vị của không nhìn tình cốt nhục.
    Hễ biết đạo làm con đôi chút,
    Đời mẹ cha sửa nhục ra vinh.
    Ơn mẹ cha dầu biết thâm tình,
    Tội cha mẹ nài xin thành kiếp phước.
    Đừng học thói của quân bạo ngược,
    Xử mẹ cha tội phước quá hơn tòa.
    Đừng theo phường xác quỉ thịt ma,
    Cha mẹ khoảng hình ra không mặt.
    Đừng quen tánh tôi loàn con giặc,
    Cưu hờn xưa mà khúc mắc mắng vong hồn.
    Đừng học đòi lũ dại học khôn,
    Phân thương ghét quên ơn cúc dục.

    Có nhiều kẻ:

    Cha mẹ dạy sanh tiền chẳng phục,
    Đến lớn khôn ngồi khóc nhắc từ lời.
    Chừng biết thương cha mẹ hết đời,
    Dầu moi đất vạch Trời tìm chẳng đặng.

    Có thơ rằng:

    Công lao sanh dưỡng nặng nề thay,
    Ruộng biển, cao non chẳng sánh tày.
    Nhắc hiếu vội nhìn hình khí phách,
    Quên ân liền nhắm bóng thi hài.
    Búng cơm nắm thịt tình nên thẩm,
    Giọt sữa gầy xương nghĩa quá dài.
    Đền đáp phận người dầu chẳng vẹn,
    Nợ đời đừng mộng rảnh rồi vay.

Leave a Reply