Đúng và Sai, Chánh và Tà, Đâu là chân lý?

May 14, 10 | Tâm Duyên | 5,729 views | 4 Comments



Share |






teleconferenceKính thưa quý Huynh Tỷ Đệ Muội,

Buổi hội thảo kỳ tới sẽ vào ngày Thứ Bảy, May 15, 2010, lúc 6:00 PM PST. Đề tài thảo luận:

Đúng và Sai, Chánh và Tà,
Đâu là chân lý?

Xin qúy HTĐM chuẩn bị những câu hỏi và phần đóng góp ý kiến để buổi thảo luận của chúng ta được thêm phong phú và hữu ích. Xin thành thật cảm tạ sự tham gia và đóng góp của Qúy HTĐM.

Ghi chú: số điện thoại mới của teleconference là: (712) 432-0180.


(Nếu Qúy HTĐM gặp trở ngại khi vào teleconference, xin vui lòng gọi lại số điện thoại trên theo chỉ dẫn dưới đây.)

Chỉ dẫn để vào teleconference:
Free Conference Call (in USA only)
– Conference Dial-in Number: (712) 432-0180
– Participant Access Code: 1002978#
– Dial 1 after dial access code following by #

Kính,

Chế Tùng

Summary: Hội Thảo Giáo Lý ngày Saturday, May 15, at 6:00 PM PST

Chân Lý

Chân lý là lẽ thật, là tình trạng của sự vật hoặc hiện hữu hoặc xảy ra đúng như sự ghi nhận của quan sát viên. Khi mình nói đến chân lý thì tự nó là chân lý dù cho người đời có bình phẩm cách nào đi nữa dù có nói nó là đúng hay là sai thì chân lý vẫn là chân lý. Tuy nhiên, vì chân lý được nhận ra bởi một quan sát viên, cho nên chân lý có thể được công nhận hoặc không công nhận bởi người khác, và do đó mới có sự bàn cãi tranh luận về chân lý. Chân lý có thể là sự kiện hữu hình ai cũng có thể thấy được ví dụ như trái đất quay chung quanh mặt trời, và cũng có thể là một sự kiện trừu tượng không ai có thể thấy được, ví dụ như triết lý, định luật, v.v…

Một ví dụ cổ điển mà ai cũng biết là chuyện 5 người mù xem voi. Người rờ cái vòi cho rằng con voi giống như con đỉa thật to, người rờ lỗ tai thì nói con voi giống như cây quạt, người rờ cái ngà thì nói con voi giống như cái đòn cân, người rờ cái chân thì nói con voi giống như cây cột nhà, và người rờ cái đuôi thì nói con voi giống như cây chổi. Và người nào cũng đã nói lên sự thật, và sự thật mà mỗi người nhận thức được đã vô cùng khác nhau.

Một ví dụ thứ hai là một người có thể có những nhận thức khác nhau trên cùng một đối tượng. Một người nhúng tay trái vào một thao nước đá và tay mặt vào một thao nước nóng. Sau đó lại nhúng cả hai tay vào một thao nước ấm. Tay trái nhận thức rằng thao nước thứ ba ấm quá, trái lại tay mặt lại cho rằng nước trong thao thứ ba lạnh quá. Cũng có cùng một sự thật của thao nước thứ ba, mà tay trái thì cho rằng ấm còn tay mặt thì cho rằng lạnh. Như vậy sự thật nào là đúng? Tay trái hay tay mặt?

Ví dụ thứ ba là chuyện nồi cơm của Khổng Tử. Một lần Khổng Tử dẫn học trò đi du thuyết từ Lỗ sang Tề. Trong đám học trò đi với Khổng Tử có Nhan Hồi và Tử Lộ là hai học trò yêu của Khổng Tử. Trong thời Đông Chu, chiến tranh liên miên, các nước chư hầu loạn lạc, dân chúng phiêu bạt điêu linh, lầm than đói khổ … Thầy trò Khổng Tử cũng lâm vào cảnh rau cháo cầm hơi và cũng có nhiều ngày phải nhịn đói, nhịn khát. May mắn thay, ngày đầu tiên đến đất Tề, có một nhà hào phú từ lâu đã nghe danh Khổng Tử, nên đem biếu thầy trò một ít gạo … Khổng Tử liền phân công Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau, còn Nhan Hồi thì đảm nhận việc nấu cơm.

Sau khi Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau, Nhan Hồi nấu cơm ở nhà bếp, Khổng Tử nằm đọc sách ở nhà trên, đối diện với nhà bếp, cách một cái sân nhỏ.

Đang đọc sách bỗng nghe một tiếng “cộp” từ nhà bếp vọng lên, Khổng Tử ngừng đọc, liếc mắt nhìn xuống … thấy Nhan Hồi từ từ mở vung, lấy đũa xới cơm cho vào tay và nắm lại từng nắm nhỏ … Xong, Nhan Hồi đậy vung lại, liếc mắt nhìn chung quanh … rồi từ từ đưa cơm lên miệng …

Hành động của Nhan Hồi không lọt qua đôi mắt của vị thầy tôn kính. Khổng Tử thở dài … ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Chao ôi! Học trò yêu nhất của ta mà lại đi ăn vụng thầy, vụng bạn, đốn mạt như thế này ư? Chao ôi! Bao nhiêu kỳ vọng ta đặt vào nó thế là tan thành mây khói!”

Sau đó, Tử Lộ cùng các môn sinh khác mang rau về … Nhan Hồi lại luộc rau Khổng Tử vẫn nằm im đau khổ …

Một lát sau rau chín. Nhan Hồi và Tử Lộ dọn cơm lên nhà trên; các môn sinh mời Khổng Tử dùng cơm.

Khổng Tử ngồi dậy và nói rằng: “Các con ơi! Chúng ta đi từ đất Lỗ sang Tề đường xa vạn dặm, thầy rất mừng vì trong hoàn cảnh loạn lạc, dãi nắng dầm mưa, đói khổ như thế này mà các con vẫn giữ được tấm lòng trong sạch, các con vẫn yêu thương đùm bọc nhau, các con vẫn một dạ theo thầy, trải qua bao nhiêu chặng đường đói cơm, khát nước …

Hôm nay, ngày đầu tiên đến đất Tề, may mắn làm sao thầy trò ta lại có được bữa cơm. Bữa com đầu tiên trên đất Tề làm thầy chạnh lòng nhớ đến quê hương nước Lỗ. Thầy nhớ đến cha mẹ thầy … cho nên thầy muốn xới một bát cơm để cúng cha mẹ thầy, các con bảo có nên chăng?

Trừ Nhan Hồi đứng im, còn các môn sinh đều chắp tay thưa: “Dạ thưa thầy, nên ạ!”

Khổng Tử lại nói: “Nhưng không biết nồi cơm này có sạch hay không?”
Tất cả học trò không rõ ý Khổng Tử muốn nói gì nên ngơ ngác nhìn nhau. Lúc bấy giờ Nhan Hồi liền chắp tay thưa: “Dạ thưa thầy, nồi cơm này không được sạch.”

Khổng Tử hỏi: “Tại sao?”

Nhan Hồi thưa: “Khi cơm chín con mở vung ra xem thử cơm đã chín đều chưa, chẳng may một cơn gió tràn vào, bồ hóng và bụi trên nhà rơi xuống làm bẩn cả nồi cơm. Con đã nhanh tay đậy vung lại nhưng không kịp. Sau đó con liền xới lớp cơm bẩn ra, định vứt đi … nhưng lại nghĩ: cơm thì ít, anh em lại đông, nếu bỏ lớp cơm bẩn này thì vô hình trung làm mất một phần ăn, anh em hẳn phải ăn ít lại. Vì thế cho nên con đã mạn phép thầy và tất cả anh em, ăn trước phần cơm bẩn ấy, còn phần cơm sạch để dâng thầy và tất cả anh em …

Thưa thầy, như vậy là hôm nay con đã ăn cơm rồi … bây giờ, con xin phép không ăn cơm nữa, con chỉ ăn phần rau. Và … thưa thầy, nồi cơm đã ăn trước thì không nên cúng nữa ạ!

Nghe Nhan Hồi nói xong, Khổng Tử ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Chao ôi! Thế ra trên đời này có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành mà vẫn không hiểu được đúng sự thật! Chao ôi! Suýt tí nữa là Khổng Tử này trở thành kẻ hồ đồ!”

Trong câu chuyện 5 người mù xem voi, cả 5 người đều nói lên cái lẽ thật, cái chân lý do chính cá nhân mình nhận thức được. Rất tiếc vì rằng họ bị mù, nên họ không biết rằng sự thật của họ bị giới hạn trong một phần của con voi, và họ không thể biết được chân lý con voi qua một cái nhìn toàn thể. Người đời đã diễn tả điều này bằng câu ếch ngồi đáy giếng thấy trời bằng vung để ám chỉ người có kiến thức hẹp hòi, một kiến thức bị giới hạn bởi không gian và thời gian vì không được tiếp xúc với thế giới rộng lớn bên ngoài.

Trong câu chuyện hai bàn tay trong thao nước ấm, dù rằng chân lý được nhận thức bởi cùng một quan sát viên, nhưng hai bàn tay đã ở trong hai hoàn cảnh, hai tình trạng khác nhau nên đã đưa đến hai nhận thức khác nhau.

Trong câu chuyện nồi cơm của Khổng Tử, chính sự kiện đã xảy ra ngay trước mắt, nhưng người quan sát viên lại không thể thấu đáo được rõ ràng sự thật.

Do đó ta có thể nói rằng trên thế gian này, không ai có thể nói một cách tuyệt đối rằng mình đã đạt được chân lý. Và khi chính mình chưa có thể đạt được chân lý, thiết tưởng mình lại càng không thể bình phẩm những nhận thức của người khác về chân lý, và do đó không thể quyết đoán rằng kẻ này đúng người kia sai.

Trong thánh ngôn của Cao Đài, chính Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế còn phải dạy rằng:

Lẽ chánh tự nhiên có lẽ tà,
Chánh tà hai lẽ đoán sao ra.

Lời dạy của Đức Chí Tôn cho thấy rằng con người không thể phân biệt được đâu là đúng, đâu là sai, đây là một gút mắt khó khăn nhứt trong cuộc đời. Ta có thể đơn cử thêm lời dạy của Đức Thái Thượng Lão Tổ trong Cao Đài về chánh và tà. Ngài dạy rằng: “Tà-chánh, cười…, Bần đạo nói thiệt cũng chưa dám định đoạt.” Là một vị giáo tổ mà Đức Thái Thượng Lão Tổ cũng không thể định đoạt được tà chánh, thì con người phàm của chúng ta mong gì có thể định đoạt được.

Đức Thái Thượng Lão Tổ còn dạy tiếp rằng: “Nếu luận về tà-chánh, thì chưa một ai dám còn mang mắt phàm xưng tụng mình là chánh. Cái tà vì thiên thơ xử dụng, tà vì cơ thử thách của Tam Giáo Toà, ……Mỗi cái tà có duyên cớ ấy ngày sau đều có sự biến đổi thiêng liêng, hoặc một kết quả.” Theo lời dạy này, thì những gì xãy ra ở cuộc đời này đều nằm trong sự an bày của tạo hoá, tức nhiên là có một duyên cớ tuỳ theo nhân quả nghiệp chướng của cá nhân, của đoàn thể, của một dân tộc và của nhân loại. Do đó ta cũng có thể nói rằng những sự tàn sát của bao nhiêu triệu sanh linh gây ra bởi chiến tranh là những cái tà có duyên cớ. Ngay cả sự những người Việt mất nước lưu lạc khắp nơi trên thế giới cũng là kết quả của cái tà có duyên cớ do tạo hoá an bày. Còn về thái độ của con người phải ra sao thì Đức Thái Thượng Lão Tổ có dạy như sau: “Trong cái rủi thường có cái may, trong cái may vẫn khép cầm sự rủi, khó lường được, điều cần là nên làm mà thôi.” Từ những lời dạy này ta có thể suy ra rằng trong cuộc đời, ta không nên quá quan tâm về những tranh luận thị phi về chánh tà hay sai đúng, mà chỉ nên quan tâm đến những gì quan trọng, ích lợi cần phải thi hành mà thôi. Ví dụ như khi ta gặp một em bé nhỏ bị nạn, bơ vơ đứng khóc trên đường phố, ta có cần băn khoăn tìm hiểu gốc gác của em bé, xem em bé này là người tốt hay xấu, chánh hay tà, hay là cứ tự nhiên thăm hỏi, khuyên bảo, vổ về, săn sóc, cứu giúp em bé qua khỏi cơn hoạn nạn đúng theo tiếng gọi của tấm lòng thành thật thương người? Để minh định một thái độ cần thiết khi đương đầu với sự tranh luận về chánh tà, đúng sai, ta có thể nhấn mạnh về lời dạy này của Đức Thái Thượng: “Ngày chung qui, chỉ đem về Thầy một chữ tâm và những công nghiệp đã gây thành cho sanh chúng.”

Con người sống là để tạo nên niềm an lạc trong cuộc đời tức là trong cộng đồng nhân loại, và an lạc trong tâm hồn. Điều quan trọng để mang lại sự an lạc trong cuộc đời là phục vụ nhân loại, tức là tạo nên những công nghiệp cho sanh chúng. Đức Thái Thượng dạy điều cần là nên làm mà thôi, và điều cần nên làm là phục vụ cho chúng sanh. Và vế thứ nhứt của lời dạy của Đức Thái Thượng là đem về Thầy một chữ tâm, tức là tấm lòng thành thật, phục vụ chúng sanh với tất cả tấm lòng thành thật như trong câu kinh nhật tụng của Cao Đài “Đạo gốc bởi lòng thành tín hiệp.”

Quan niệm về chân lý trong cuộc đời quả là tương đối, tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố không gian, thời gian và con người, và chân lý biến đổi không lường, con người với thân phàm khó nỗi nhận định chính xác một cách tuyệt đối. Do đó con người phải thích ứng với những sự phức tạp này để có thể tạo được sự an vui trong cuộc sống và ngay cả trong lòng của mình.

Kết luận:

Chân lý là chân lý, con người khó có thể đạt được kiến thức tuyệt đối về chân lý mà chỉ đạt được khía cạnh tương đối của nó mà thôi, và khía cạnh tương đối thì biến đổi không lường và tuỳ thuộc rất nhiều yếu tố cho đến nỗi không ai với thân phàm có thể xác định được. Nên nhớ rằng những gì ta cho rằng đúng hôm nay có thể trở thành sai trong tương lai, và những gì ta cho rằng sai, lại cũng có thể là đúng. Con người không nên câu chấp dựa vào giá trị tương đối này mà tranh chấp lẫn nhau tạo nên sự tương tàn tương sát. Chỉ nên làm những điều cần làm với tất cả tấm lòng thành, phục vụ xã hội nhân sinh nhằm mang lại sự an lạc thái bình cho cộng đồng nhân loại và sự an vui trong lòng của mình.

Chân lý là chân lý. Nhiều người nhìn chân lý từ những khía cạnh khác nhau, và diễn tả chân lý khác nhau, không có gì là tuyệt đối. Không nên vì sự khác biệt này mà phán đoán lẫn nhau, người sai, ta đúng, rồi sanh hiềm khích lẫn nhau.

Các câu hỏi được nêu lên trong buổi hội thảo:

1- Làm sao biết được khuynh hướng chánh trị nào là đúng? Thái độ của chúng ta phải như thế nào đối với những người có khuynh hướng chánh trị đối lập.

2- Mỗi tôn giáo đều có giáo điều và giáo luật riêng biệt, đôi khi không hợp với giáo điều của tôn giáo khác, thái độ của chúng ta phải ra sao?

3- Việc quan trọng trong đời sống tu hành là phải tu thân. Bí quyết thực tế của sự tu hành phải như thế nào khi ta không thể phân biệt rõ ràng sự chánh tà, đúng sai?

Quan trọng nhất là sống một đời sống hợp đạo lý và phục vụ chúng sanh để tạo cho thế gian một sự an lạc thái bình cả trong cộng đồng và trong tâm nội của mình. Khuynh hướng chánh trị không mấy ảnh hưởng đến tư cách đạo đức và tinh thần phục vụ của người tu. Ở trong một đoàn thể chánh trị nổi tiếng là tốt nhưng cá nhân lại tham nhũng xấu xa làm hại đến tổ quốc nhân sinh thì làm sao so được với một cá nhân tuy thuộc một đoàn thể đối lập nhưng có tư cách đạo đức và tinh thần phục vụ chúng sinh ích nước lợi dân. Trong hoàn cảnh khó xử, ta cứ đặt mình vào hoàn cảnh liên hệ, liên tưởng đến hậu quả đối với cộng đồng chúng sanh, ta sẽ dễ dàng thông cảm và có thái độ thích hợp.

Những giáo điều giáo luật tuy khác nhau, nhưng hể không phương hại đến chúng sanh thì có thể coi như là chân lý: “Ngày chung qui, chỉ đem về Thầy một chữ tâm và những công nghiệp đã gây thành cho sanh chúng.”

Riêng về bí quyết thực tế của sự tu hành, thiết nghĩ ta chỉ cần tìm được Đức Chí Tôn trong mọi đối tượng, hoàn cảnh, (thiên địa vạn vật đồng nhất thể, Thầy là các con, các con là Thầy), mở rộng lòng thương, và để trọn tấm lòng thành phục vụ chúng sanh là chúng ta có thể thực hiện được lời dạy của Đức Thái Thượng.

Cảm ơn HH Hùm đã viết phần đúc kết cho buổi hội thảo vừa rồi.
Chế Tùng


TÂM THỂ LÀ CHÂN LÝ TRÊN HẾT
Xem các bài viết đã đăng cùng thể loại (same category)


Comments (4)

 

  1. Trong một câu chuyện của Mạnh Tử: Có một người bán mâu và thuẫn quảng cáo về mâu và thuẫn của mình như sau:

    - Mâu này bất cứ thứ gì cũng đâm thủng đươc.

    - Thuẫn này không có thứ gì đâm thủng được.

    Lời quảng cáo như trên của người bán “mâu thuẫn” với nhau và hai mệnh đề mâu thuẫn với nhau không thể cùng đúng một lượt. Phải có một mệnh đề (quảng cáo) sai. Vì vậy dẫn đến câu nói mà chúng ta thường nghe: “Chân lý chỉ có một” dựa trên “nguyên lý bất mâu thuẫn” này.

    Trong lịch sử toán học, chúng ta nhận thấy có ba tiền đề mâu thuẫn làm nền tảng cho ba nền hình học khác nhau (Euclide, Riemann và Lobatchevsky):

    - Hình học Euclide dựa trên tiền đề: Từ một điểm ở ngoài một đường thẳng, ta chỉ có thể kẻ được một đường thẳng duy nhất song song với đường thẳng đã cho.

    - Hình học Riemann dựa trên tiền đề: Từ một điểm ở ngoài một đường thẳng, ta không thể kẻ được một đường thẳng nào song song với đường thẳng đã cho.

    - Hình học Lobatchevsky dựa trên tiền đề: Từ một điểm ở ngoài một đường thẳng, ta có thể kẻ được vô số những đường thẳng khác nhau song song với đường thẳng đã cho.

    Nếu theo nguyên lý bất mâu thuẫn thì chắc chắn chỉ có một nền hình học là đúng. Nhưng trong thực tế thì cả ba nền hình học này đều được ứng dụng rất đúng trong ba mặt khác nhau của không gian. Hình học Euclide ứng dụng trong thế giới thường ngày của chúng ta (hình học phẳng) . Hình học Riemann ứng dụng trong việc nghiên cứu thế giới của các nguyên tử và phân tử (ngành vi vật lý). Hình học Lobatchevsky ứng dụng trong việc nghiên cứu thế giới của các thiên thể vũ trụ (hình học không gian). Điều này cho thấy một thực tại như không gian có thể có nhiều mặt (thực tại đa diện) và nếu chúng ta giữ quan niệm không gian chỉ có một mặt duy nhất (thực tại đơn diện) thì chúng ta không thể giải thích được tại sao cả ba tiền đề mâu thuẫn với nhau, như ở trên, đều đúng.

    Trước thực tế đó, triết học bắt buộc phải đặt lại vấn đề về nguyên lý bất mâu thuẫn của nhận thức luận cũ. Vì căn cứ theo thực tế thì mọi sự vật đều có nhiều mặt, tối thiểu là với ba chiều (dài, rộng, cao), và người ta có thể nhìn một sự vật từ sáu mặt khác nhau (trước, sau, trên, dưới, phải, trái) và sáu cách nhìn sẽ dẫn đến những nhận thức khác nhau, thậm chí có thể mâu thuẫn nhau. Giả sử, nếu có người nào đó đặt vấn đề là trong sáu cách nhìn một sự vật, cách nhìn nào đúng? Đây là một câu hỏi khôi hài và càng vô lý hơn nữa khi có ai xác quyết là trong sáu cách nhìn ấy chỉ có một cách nhìn là đúng. Và như vậy là năm cách nhìn còn lại , theo câu nói “chân lý chỉ có một” đều phải sai hết. Mặc dù rất rõ ràng đây là một chuyện khôi hài và vô lý. Tuy nhiên nó cũng có thể xảy ra một cách dễ dàng nếu người ta chấp nhận nguyên lý bất mâu thuẫn là đúng và quan niệm thực tại chỉ có một mặt (thực tại đơn diện).

    Câu chuyện “Những người mù sờ voi” là một thí dụ diễn tả rõ ràng cái nhận thức phiến diện của con người. Những người mù sờ voi cãi nhau vì ai cũng quả quyết là mình đúng. Và nếu mình đúng thì mọi người khác phải sai và làm sao mình chấp nhận được? Nhân loại thảm sát nhau trong những cuộc chiến tranh không những để tranh dành quyền lợi mà còn để bảo vệ chân lý. Bảo vệ cái chân lý chính bản thân mình đã chứng nghiệm, đã xác tín và tin tưởng đó là chân lý duy nhất. Ngờ đâu đó chỉ là “chân lý của mình” mà không biết rằng người khác cũng có “chân lý của họ”. Các tôn giáo, các ý thức hệ, các khuynh hướng và đảng phái chính trị … phe nhóm nào cũng khăng khăng xác quyết là chỉ có lập trường của phe mình là đúng. Ai cũng sẵn sàng đổ máu của mình cũng như của phe đối lập để bảo vệ “chân lý của mình”. Ai cũng coi bảo vệ chân lý là một lý tưởng cao đẹp!

    Đa số chúng ta đều cho mình biết được thực tại (reality), cái gì tôi thấy, biết, nghe, hiểu đều là sự thật (truth). Vì thế nên mới có “ngã kiến” (tức là cái thấy của tôi) và “kiến thủ” (khư khư cho cái thấy của tôi là đúng). Nhưng thực ra chúng ta chỉ nắm bắt được những mảnh vụn của thực tại xuyên qua nhiều cái lọc (filter) hay lăng kính (mirror).

    Đứng trước thực tại, chúng ta thâu nhận nó qua những giác quan của mình như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Nếu các giác quan của ta không được chính xác như mắt cận hay viễn thị, tai điếc, mũi nghẹt, lưỡi khô, thân bệnh, ý đang tán loạn, vui buồn v.v… thì thực tại sẽ bị méo mó đi một phần. Tri giác là một cái lọc hay lăng kính thứ nhất. Và thực tại ban đầu trở thành thực tại số 1 qua tri giác . Kế tiếp thực tại đó được nhìn ngắm qua lăng kính gia tài văn hóa, xã hội mà ta đã sinh ra và lớn lên. Tùy theo ta là người Việt, người Hoa, người Pháp, người Anh … ta sẽ nhìn thấy sự việc một cách khác nhau. Và qua cái lọc văn hóa xã hội thực tại số 1 đã biến thể thành thực tại số 2. Tiếp theo đó, cũng cùng là người Việt, nhưng mỗi người có những kinh nghiệm riêng tư không giống nhau. Và như vậy, qua cái lọc của kinh nghiệm bản thân ta, thực tại số 2 đã biến thành thực tại số 3. Cuối cùng, khi cái Ý của ta nhận thức thực tại thì nó chỉ có thể thấy thực tại số 3 chứ không thể thấy cái thực tại ban đầu nữa. Sau khi nhận thức thực tại số 3, ý thức của ta “đóng khung” thực tại số 3 qua hình ảnh, ngôn ngữ, khái niệm … thành thực tại số 4 và ta cho đó là thực tại “thứ thiệt”. Cái thực tại sau cùng mà Ý nhận thức được chỉ còn là một bóng dáng, một thực tại méo mó với những mảnh vụn rơi rớt vì đã trải qua nhiều cái lọc. Thực tại (chân lý) chỉ còn là cái bóng . Tuy vậy, đa số chúng ta lại “Tưởng” là mình nắm bắt được thực tại, tự cho là mình biết đúng, thấy đúng sự thật. Và vì vậy, chúng ta muốn người khác phải tin và nghe theo ý kiến của chúng ta.

    Trên phương diện tương đối trong đời sống hàng ngày, chúng ta không thể không có “Tưởng”, không Tưởng cái này thì cũng Tưởng cái kia. Tưởng rồi Tin vào cái Tưởng của mình gọi là tin tưởng (belief). Những cái Tưởng đúng hoặc gần với thực tại, với chân lý thì được gọi là chánh kiến, hay minh triết … vì nó đem lại an vui hạnh phúc, còn những cái Tưởng méo mó sai lầm không đúng thực tại, tin vào đó sẽ đưa đến buồn phiền khổ đau thì gọi là vọng tưởng (false belief). Ngay cả những cái ta cho là sự thật hay chân lý rồi và khư khư bám chặt vào đó thì nó cũng trở thành một loại vọng tưởng. Về phương diện tuyệt đối, có thể nói con người không có khả năng nhận thức thực tại (chân lý) mà chỉ là nhận thức cái bóng của thực tại (chân lý). Vì thực tại biến đổi theo từng “sát-na”.

    (Theo Phật giáo, danh từ sát na được dùng để chỉ thời gian chớp nhoáng của mỗi biến đổi. Một ngày 24 giờ được tính bằng sáu ngàn bốn trăm tỷ, chín vạn, chín ngàn, chín trăm tám mươi sát na.)

    Và chúng ta thường lầm lẫn giữa ý tưởng và thực tại, cũng như giữa danh từ và sự vật. Thí dụ khi chúng ta nhìn ngắm một bức ảnh chụp một vật gì đó, như một trái táo chẳng hạn . Hãy để ý, hình ảnh (chụp) trái táo không phải là trái táo, danh từ trái táo không phải là trái táo và ý tưởng về trái táo cũng không phải là trái táo, trái táo như là một thực tại đã biến đổi . Một thí dụ khác như khi ta xem bản đồ của một thành phố, như New York chẳng hạn . Bản đồ NewYork không phải là thành phố New York dù cho đây là bản đồ mới nhất và được chụp với máy ảnh tối tân nhất thì cũng chỉ là bức ảnh của thành phố New York chụp vào một thời điểm cố định trong quá khứ. New York hiện tại đã khác với hình ảnh New York đã chụp. Những danh từ , ý tưởng và bản đồ giúp cho chúng ta có một khái niệm về thực tại và sự vật, nhưng khi có trong tay thì chúng ta lại xem chúng (danh từ, ý tưởng, bản đồ) như là thực tại và quên đi thực tại. Thực tại luôn luôn biến đổi theo từng sát na trong khi danh từ, ý tưởng và bản đồ thì cứng ngắc không thay đổi.

    Tóm lại , tri thức của chúng ta về một sự vật nào đó thì không phải là sự vật chính nó. Cái mà chúng ta biết được về thế giới thực tại chung quanh ta chỉ là những phóng ảnh từ tâm thức, hay nói khác hơn chỉ là thế giới biểu tượng của thực tại, chứ không phải là thực tại nguyên bản. Bởi vì, tính chất của nhận thức là phân biệt thế giới thực tại qua khái niệm; mà giữa khái niệm và thực tại thì hoàn toàn khác nhau. Do đó, bất luận một sự vật nào, hễ còn được xây dựng trên khái niệm thì đều là huyễn ảo – nghĩa là chúng luôn luôn Vô Thường.

    (Vô thường là luật tuần hoàn của vũ trụ. Nơi nào có sự vận hành, chuyển biến, đổi dời, nơi đó có Vô Thường. Vô Thường không phải chỉ là giáo lý riêng của Phật giáo, mà vào thế kỷ thứ 6 trước Tây Lịch, một triết gia Hy-Lạp Herakleitos cũng đã nói : “Tất cả (sự vật) đều ở trong trạng thái biến đổi” (All is in a state of flux))

    Từ xưa đến nay, biết bao nhiêu triết gia, biết bao nhiêu lý thuyết chủ trương không giống nhau, và chúng ta vẫn chưa biết được đâu là chân lý. Cái mà hôm qua người ta gọi là chân lý, hôm nay đã không còn là chân lý. Cái mà hôm nay mọi người cho là chân lý, ngày mai lại có thể là sai lạc. Lý trí con người khổ sở vô cùng trong khi đi tìm chân lý, và cho đến bây giờ con người vẫn nghi ngờ không biết rằng lý trí mình có thể có khả năng đạt đến chân lý hay không? Sự nghi ngờ đó cho thấy sự yếu kém của tri thức nhân loại. Và như vậy cái gọi là chân lý mà con người nhận thức được bằng tri thức giới hạn của mình không phải là chân lý đúng và toàn thể (chân lý tuyệt đối “?”) mà chỉ là những nhận thức có tính chất chủ quan và phiến diện. Vì vậy, có thể nói, tất cả những học thuyết triết học muốn giải nghĩa, giải thích … toàn thể vũ trụ này cũng chẳng khác nào những lời mô tả con voi của những người mù sờ voi mà thôi???

    Đi tìm chân lý ở đâu?
    Câu hỏi quá khó đau đầu thế nhân.

    Lý Lạc Long ( TTL/TCT/MAI/ 29/5/06)
    Nguồn: thuvien.maivoo.com

  2. I/ CHÂN LÝ LÀ GÌ ?

    Xưa nay chân lý là mục tiêu cho sự tìm kiếm không dừng của người học đạo, nhưng người cảm nhận chân lý thực sự thì không nhiều. Trước hết người học cần hiểu rõ CHÂN LÝ LÀ GÌ? Theo định nghĩa thông thường, chân lý tức lẽ thật không dời đổi, vượt suốt thờn gian và không gian, nghĩa là luôn luôn đúng ở mọi lúc, mọi chỗ. Nói lẽ thật mà còn thay đổi hoặc giới hạn chỗ nơi thì chưa đúng hẳn là chân lý. Hoặc chân lý mà còn chia ra chân lý của anh, chân lý của tôi, đó là còn mang những thành kiến, thì cũng chưa phải thật chân lý trọn vẹn, vì nó không phải chân thật luôn luôn mà nó chỉ chân thật ở chỗ này nhưng không chân thật ở chỗ kia nếu chấp vào. Nếu chấp vào đó tức thường tranh cãi mãi. Như câu chuyện bọn người mù sờ voi:

    Có ông vua muốn thử xem chỗ nhận hiểu của những người mù, bèn cho đem con voi đến trước sân và gọi một số người mù đến bảo diễn tả con voi cho ông nghe. Bọn người mù tranh nhau đến rờ con voi, người rờ trúng cái chân nói con voi giống cây cột; người rờ trúng bụng nói con voi giống cái lu, người rờ trúng đuôi nói con voi giống cây chổi, người rờ trúng tai nói con voi giống cây quạt…, rồi cãi nhau inh ỏi. Ông vua chỉ cười.

    Người nào cũng chấp chỗ thấy của mình là chân lý nhưng lại cãi nhau inh ỏi, thì quả tang chưa phải chân lý thật sự. Theo nhà Phật, cho cái thấy của mình là chân lý, e chưa phải, vì nó có mang cái “tôi” hạn hẹp trong đó. Đây là điểm cần nhận định kỹ.

    II/ CHÂN LÝ Ở ĐÂU

    Lâu nay những người học đạo thường đi tìm chân lý nhưng tìm từ bên ngoài nên không bao giờ thấy thỏa mãn; nếu có, chỉ thấy ở một khía cạnh nào đó chớ không trọn vẹn. Trong khi chân lý lại vốn ở ngay nơi mình. Bởi nói là LÝ, thì cái LÝ đó nó có biết gì? Chính Tâm mới biết rõ được LÝ, mới là cái LÝ SỐNG. Mà tâm không chân thật, không sáng tỏ, làm sao thấy được sáng tỏ, chân thật? Do đó, phải xoay lại tự tâm, sáng tỏ tự tâm thì rõ chân lý. Đây là điểm trọng yếu mà lâu nay người thường bỏ quên. Chẳng hạn tâm hư nguy, tâm nhân ngã cao thấp hơn thua thì thấy gì cũng hư nguỵ, cao thấp, hơn thua chứ gì! Như câu Phật nói: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”, trên trời dưới đất, chỉ ta tôn nhất, nếu đem tâm chấp ngã mà hiểu, sẽ cho là Phật quá ngã mạn, tự thấy mình trên hết thiên hạ, không ai bằng. Đó là phỉ báng Phật, không thấy được lẽ thật. Đâu biết rằng câu này ngầm nhắc người giác ngộ một lẽ thật siêu việt thế gian, vượt qua cái hư dối giả tạo. Đó là một ý nghĩa rất thâm thúy.

    Trong nhà thiền có câu chuyện. Một hôm Tô Đông Pha đến chùa Kim Sơn tham thiền với thiền sư Phật Ấn. Sau giờ thiền ông hỏi Sư:

    - Thiền sư! Ngài xem dáng tôi ngồi thế nào?

    Thiền sư Phật Ấn đáp:

    - Rất trang nghiêm giống một vị Phật.

    Ông rất cao hứng. Thiền sư Phật Ấn hỏi lại ông:

    - Học sĩ! Ông xem tư thế tôi ngồi như thế nào?

    Tô Đông Pha lâu nay có dịp là đùa với Sư nên liền đáp:

    - Giống một cục cức trâu.

    Thiền sư Phật Ấn nghe xong cũng rất cao hứng. Nhưng Tô Đông Pha thấy Thiền sư bị mình dụ là cục cức trâu mà không đáp lại, trong tâm cho là mình thắng Thiền sư Phật Ấn nên gặp người liền nói:

    - Hôm nay tôi thắng rồi!

    Tin tức truyền đến tai cô em là Tô Tiểu Muội, cô em mới hỏi ông:

    - Này anh! Anh rốt ráo làm sao thắng được thiền sư?

    Tô Đông Pha hứng chí thuật lại cuộc đối đáp trên. Tô Tiểu Muội thiên tư cũng rất thông minh hơn người, sau khi cô nghe ông thuật lại xong, liền nghiêm mặt lại nói:

    - Anh ơi, anh thua rồi! Trong tâm Thiền sư như Phật, do đó Ngài xem anh như Phật; trái lại, trong tâm anh giống cức trâu, do đó anh mới xem Ngài giống cức trâu.

    Tô Đông Pha liền ú ớ mới biết công phu về Thiền của mình còn thua xa Thiền sư Phật Ấn.

    (Tinh Vân Thiền Thoại)

    Câu chuyện thật có nhiều ý nghĩa. Thiền sư Phật Ấn ngồi thiền mà giống cục cức trâu sao? Rõ ràng bởi tâm ông Tô Đông Pha còn xen niệm hơn thua trong đó mà thành ra có cái thấy ấy. Muốn hạ thấp người, không ngờ tâm mình đã lộ tướng thấp kém trước. Gọi đó là chân lý được sao? Muốn thấu chân lý phải biết xoay lại chính mình, tìm ngay trong chính mình. Kinh nghiệm của Đức Phật, ban đầu Ngài theo học với các vị thầy tiếng tăm nhưng cuối cùng đều không thỏa mãn, đành từ giã hết, đến ngồi thiền định dưới cội Tất-bát-la, tự soi lại mình mà tự giác ngộ, thấy tột lẽ thật của thế gian và xuất thế gian.

    Kinh Hoa Nghiêm nói, có một quyển Kinh chép đủ mọi việc trong thế giới tam thiên đại thiên, tức trong vũ trụ này, được nhét trong hạt bụi. Người có trí thấy được, bèn đập hạt bụi lấy quyển kinh ra, liền hiểu thấu mọi việc.

    Quyển kinh đó, chỉ cho những lẽ thật, hạt bụi chỉ cho thân tâm này. Ngay thân tâm này khéo đập ra , lấy quyển kinh kia, liền thấu rõ những lẽ thật trong thế gian. Cho nên chân lý của thế gian đã nhét sẵn trong thâm tâm mỗi chúng ta đây thôi, khỏi phải tìm đâu xa.

    Một câu chuyện Thiền của Nhật Bản: Có bà nọ đến nghe Thiền sư Bạch Ẩn thuyết giảng rằng: “Tâm tịnh thì cõi nước thanh tịnh, đức Phật trong mỗi chúng sinh: Một khi Đức Phật xuất hiện, mọi vật trên thế gian đều chiếu ánh quang minh. Nếu ai muốn nhận được đều này, phải phản quan tự kỷ, đến chỗ nhất tâm bất loạn. Vì tâm tịnh tức độ tịnh, thì làm sao để trang nghiêm tịnh độ? Vì Phật vốn sẵn trong mỗi chúng sinh thì tướng tốt và vẻ đẹp của Phật là gì?

    Nghe xong, bà nghĩ: “Điều đó không quá khó”. Trở về nhà bà bắt đầu quán chiếu suốt ngày đêm đeo đuổi mãi trong tâm dù ngủ hay thức.

    Rồi một hôm, khi đang rửa nồi, bà thình lình tỏ ngộ. Ném cái nồi qua bên, bà đến gặp Bạch Ẩn và nói:

    - Tôi bổng gặp đức Phật trong thân tôi. Mọi vật rạng ngời ánh sáng. Thật kỳ diệu! Kỳ diệu!

    Bà rất vui sướng. Chợt Bạch Ẩn bảo:

    - Bà nói như thế, nhưng còn cái hầm phân thì sao? Nó có chiếu sáng không?

    Bà liền bước lên và đấm vào Bạch Ẩn, nói:

    - Ông già này chưa ngộ.

    Bạch Ẩn cười to.

    Trong đây cho thấy, tâm sáng thì thấy cái gì cũng sáng, thấy hầm phân cũng sáng, nhìn tất cả đều sáng ngời. Xét lại mình, tại sao có khi mình thấy huynh đệ cùng tu hành, cùng chung lý tưởng với nhau, lại không sáng? Thấy ghét người này, thành kiến với người kia đó là do đâu? Cần nhìn lại tâm mình lúc đó thì rõ ngay lẽ thật!

    Một Thiền sư hiệu Thủy Lại đến hỏi Mã Tổ Đạo Nhất

    - Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang?

    Mã Tổ đạp ngay ngực té nhào. Sư bỗng nhiên đại ngộ, đứng dậy vỗ tay cười to, nói: “Lạ thay! Trăm ngàn tam muội, vô lượng diệu nghĩa chỉ ở trên đầu sợi lông thấu tột tất cả cội nguồn”.

    Tức ngay một niệm hiện tiền đây, sáng tỏ lên, là thấu tất cả mọi ý nghĩ nhiệm mầu. Chân lý chính ở ngay trong đó, lo suy tìm, moi móc, chia chẻ chữ nghĩa hẳn không thể thấy.

    III/ TÂM THỂ LÀ CHÂN LÝ TRÊN HẾT

    Dù cho người học đạo hiểu lý này, lý nọ cao siêu đến đâu, cũng chỉ là cái LÝ BỊ HIỂU, chưa phải bản thân chân lý. Nếu rời ngoài tâm mà có, đó cũng là LÝ CHẾT, có nghĩa gì? Người học bám vào đó, là bám vào cái chết, đâu thể vội hài lòng! Chính “tâm thể” mới là lý rốt ráo trên hết. Người tu không tỏ ngộ tâm thể, là chưa đạt đến rốt ráo chân thật. Trong Huyết Mạch Luận, Tổ sư đã nói: “Nếu thấy bản tánh thì mười hai bộ kinh thảy là văn tự suông; ngàn bộ kinh, muôn quyền luận chỉ làm sáng tỏ tâm. Ngay lời nói khế hợp thì Giáo (Kinh điển) sẽ dùng vào đâu?” Nghĩa là, nhận ra bản tánh hay tỏ ngộ tâm thể chính mình, đó là gốc của tất cả kinh luận, là cội nguồn của hết thảy giáo lý. Chẳng rõ cội nguồn này mà đi tìm theo ngọn ngành bên ngoài, là đi theo chân lý chết, khó đạt đến viên mãn.

    Vua Lương Võ Đế từng hỏi Tổ Bồ Đề Đạt Ma:

    - Thế nào là thánh đế đệ nhất nghĩa?

    Tổ Đạt Ma đáp:

    - Rỗng thênh không Thánh.

    Hỏi thánh đế đệ nhất nghĩa, tức hỏi đến lý rốt ráo cùng tột. Song, nếu có một cái lý rốt ráo gì đó cho ông hiểu, tức còn có một cái ở trên đó để hiểu lại nó, vậy đâu còn là rốt ráo? Cho nên Tổ Đạt Ma đáp thẳng: “Rỗng thênh không Thánh”, tức không có một chút gì là Thánh, là cao tột để cho ông bám hiểu. Đây là Tổ đánh thẳng vào ngay vào chỗ ông vừa hỏi, khỏi đi tìm thánh đế ở đâu khác, khỏi phải nghĩ ngợi thêm gì!

    Một cuộc đối đáp giữa Đại đức Uẩn Quang và Thiền sư Tuệ Hải càng làm sáng tỏ thêm việc này. Đại đức hỏi nhiều việc, cuối cùng hỏi:

    - Hư không hay sinh linh tri chăng? Chân tâm duyên thiện ác chăng? Người tham dục là đạo chăng? Người chấp phải quấy, về sau tâm thông chăng? Người xúc cảnh sinh tình, tâm có định chăng? Người trụ chỗ yên lặng, có huệ chăng? Người ôm lòng khinh người, có ngã chăng? Người chấp không chấp có, có trí chăng? Người tầm văn thủ chứng, người khổ hạnh cầu Phật, người lìa tâm cầu Phật, người chấp tâm là Phật, trí này hợp đạo chăng? Thỉnh thiền sư mỗi mỗi vì đáp:

    Thiền sư Tuệ Hải đáp:

    - Hư không chẳng sinh linh tri. Chân tâm chẳng duyên thiện ác. Người chìm sâu trong tham dục, căn cơ cạn. Người phải quấy lăng xăng, là chưa thông. Người xúc cảnh sinh tâm, là ít định. Người yên lặng quên hết là huệ chìm. Người khinh người cao mạn, là ngã mạn. Người chấp không chấp có, đều ngu. Người tầm văn thủ chứng, thêm kẹt. Người khổ hạnh cầu Phật, là mê. Người lìa tâm cầu Phật, là ngoại đạo; chấp tâm là Phật, là ma.

    Đại đức Uẩn Quang hỏi:

    - Nếu như thế thì rốt ráo không thể có gì?

    Thiền sư Tuệ Hải đáp:

    - Rốt ráo là Đại đức, chẳng phải rốt ráo không thể có.

    Tức là, khi sạch hết mọi chỗ bám chấp từ bên ngoài, không còn chỗ để tâm duyên đến, còn lại đó là chính mình. Đó là chỗ rốt ráo cuối tột của tất cả Lý. Lẽ thật sáng ngời như vậy, không ai đặt ra cả. Người học đạo tìm chân lý là tìm trở lại ngay chỗ này, chớ nhọc chạy lăng xăng tìm cầu ở bên ngoài, phí công nhiều.

    IV/ LÌA NIỆM PHÂN BIỆT, DÁM NHẬN SỰ THẬT

    Bởi chân lý rốt ráo là ở ngay nơi mình, trong chính mình nên không thuộc đối tượng hiểu biết. Chính vì vậy, dù cố đem tâm phân biệt cũng đâu thể thành! Đâu thể đến! Do đó, trong nhà Thiền thường cảnh tỉnh người học đạo đối với tâm này. Như chuyện thiền tăng Văn Đạo với Thiền sư Tuệ Huân:

    Văn Đạo nghe tiếng Thiền sư Tuệ Huân nên trèo non lội suối đến trước hang động sư ở, thành khẩn thưa:

    - Văn Đạo con vốn ngưỡng mộ cao phong của thầy, một bề đến đây gần gũi theo hầu, xin thầy từ bi chỉ dạy!

    Nhân lúc đó trời tối, Thiền sư Tuệ Huân bảo:

    - Trời tối rồi, hãy ở đây ngủ một đêm.

    Hôm sau, khi Văn Đạo thức dậy thì Thiền sư Tuệ Huân đã dậy trước, nấu cháo xong. Đến lúc ăn, trong động không có gì khác, thuận tay sư lấy cái sọ khô múc đầy cháo đưa cho Văn Đạo. Văn Đạo do dự không biết nên nhận hay không. Sư liền bảo:

    - Ông không có tâm đạo, chẳng phải chân chính vì pháp mà đến. Ông còn đem vọng tình nhơ sạch và yêu ghét mà tiếp vật, làm sao có thể được đạo?

    Đây là Thiền sư muốn đánh thức ông tăng, học đạo chân thật phải quên tâm phân biệt theo tình chấp ngã ấy. Phân biệt theo tình chấp ngã thì thấy theo tình yêu ghét, hay dở, hơn thua, nghe nói chuyện vuốt theo bản ngã là thích; trái lại, thì tự ái không muốn nghe. Học đạo như thế thì làm sao học được lẽ thật. Học lẽ thật thì phải dám nhìn sự thật, chấp nhận sự thật.

    Tấm gương học đạo của tướng quốc Đỗ Hồng Tiệm đời Đường. Ông đến hỏi Thiền sư Vô Trụ:

    - Đệ tử tánh thức cạn cợn, trước đây nhân công việc rảnh rỗi có soạn bản sớ giải về Luận Đại Thừa Khởi Tín gồm hai quyển, có thể gọi là Phật pháp chăng?

    Thiền sư Vô Trụ đáp:

    - Xét về việc viết sớ giải đều là dùng thức tâm nghĩ xét, phân biệt, có tạo tác, khởi tâm động niệm mới có thể làm thành. Theo lời văn của bản luận ấy có nói: “Phải biết tất cả pháp từ xưa đến nay lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng danh dự, lìa tướng tâm duyên, rốt ráo bình đẳng không có đổi khác; vì chỉ có một tâm nên gọi là chân như”. Nay tướng công kẹt tướng ngôn thuyết, kẹt tướng danh tự, kẹt tướng tâm duyên, đã kẹt các thứ tướng, làm sao là Phật pháp?

    Ông liền thưa:

    - Đệ tử từng hỏi các bậc Đại đức trong triều, các Ngài đều tán thán đệ tử là chẳng thể nghĩ bàn. Phải biết những vị ấy thuận theo nhân tình. Nay thầy từ lý mà giải nói phù hợp với pháp tâm địa, thật là chân lý không thể nghĩ bàn!

    Tâm học đạo của ông tướng quốc Đỗ Hồng Tiệm quả là cao quý, dám nhận sự thật trái ngược với nhân tình, không vì những lời khen cho vui; xét lại người xuất gia cũng không dễ làm. Chính đó mới thực sự là học lẽ thật, đến với chân lý.

    V/ TÓM KẾT

    Người học đạo chân chính, phải biết xoay lại chính mình, đó là điểm thiết yếu. Đây cũng là gốc của mọi pháp tu.

    Muốn thể nhận chân lý, phải quên cái ta. Nói hay, nói giỏi đến đâu mà lộ bày tướng ngã quá nặng, còn tự kiêu ngã mạn quá to, cũng là biểu lộ tướng vô minh, cần tự xét lại!

    Đoạn nhân duyên vị tăng với Thiền sư Duy Khoan là chỗ mỗi người học đạo phải luôn nghiệm kỹ:

    Ông tăng hỏi sư:

    - Đạo ở đâu?

    Sư đáp:

    - Đạo ở trước mắt.

    Tăng hỏi:

    - Sao con chẳng thấy?

    Sư đáp:

    - Vì ông còn có ngã.

    Tăng hỏi:

    Con có ngã nên con chẳng thấy, Hòa thượng thấy chăng?

    Sư đáp:

    - Có ông, có ta cũng chẳng thấy luôn.

    Tăng hỏi:

    - Không con, không Hòa thượng lại thấy chăng?

    Sư đáp:

    - Không ông, không ta còn ai cần thấy?

    Rõ ràng, hễ thấy biết mà còn có mang cái “tôi” xen vào là nhìn sự vật méo mó ngay. Một lời nói hay mà do người mình không ưa nói ra thì sao? Mình cũng bịt tai, quay lưng không muốn nghe chứ gì? Vậy là tại nó không đúng, hay tại cái gì?

    Sạch hết tướng ta, tướng người, ngay đó chân lý hiện tiền, còn muốn thấy gì nữa? Còn có lý để thấy, là còn mang chút bóng dáng tướng ngã trong đó!

    Mong rằng tất cả người học đạo đều sáng tỏ trở lại chân lý nơi mình. Đó là nguồn sống vĩnh hằng không bao giờ mất. Thật còn gì vui sướng hơn!

    Thượng tọa Thích Thông Phương
    Nguồn: daitangkinhvietnam.org

  3. Tâm Duyên says:

    Tâm Duyên chân thành cảm ơn tác giả Lý Lạc Long và Thượng Tọa Thích Thông Phương về hai bài viết trên và cũng cảm ơn các bạn đã sưu tầm và chia sẽ …

  4. Đặng Trường Sanh says:

    TÀ CHÁNH-ĐÚNG SAI
    THI
    Lên xuống hai đường đúng với sai.
    Chánh tà,mê giác hởi anh tài.
    Thiên đàng ,Địa ngục nào ai biết.
    Đường lối đi về khỏi đắng cay.
    Bài
    Thương cho người đem thân tu niệm.
    Mà chẵng lo tìm kiếm lý chơn.
    Mãi mê danh lợi thua hơn.
    lập phe kết đảng,giận hờn đấu tranh.
    Chẵng cần biết trược thanh tà chánh.
    Thì làm sao né tránh bẩy tà.
    Bủa vây khắp chốn gần xa.
    Đưa người vào chốn xa hoa thãm sầu.
    Tu tầm đường ngõ hầu thoát khổ.
    Cho linh hồn thoát chỗ trầm luân.
    Ham mê vật chất tưng bừng.
    Trong vòng tứ khổ biết chừng nào ra.
    Chúng ta biết rằng Thầy mở Đạo để cứu vớt kẻ hữu duyên thoát khỏi cơ tận diệt.Hầu lập đời Thượng Ngươn Thánh Đúc.Cho nên chúng ta phải học hỏi tu hành thế nào để mình thoát khỏi bể trần khổ nầy và giúp người thoát khổ.Đó là chơn lý cũng là nhiệm vụ cao cả của người Tín hữu Cao Đài.Ngày đến cảnh nhàn chẵng còn xa,Cảnh nhàn chúng ta có thể dến đặng là ngày chúng ta rõ đặng Đạo Thầy.

Leave a Reply