CHỮ TÂM KIA MỚI BẰNG BA CHỮ TÀI – 1

Apr 18, 10 | Tâm Duyên | 19,313 views | 3 Comments



Share |






Khi còn học Trung Học, tôi rất thích mấy câu thơ dưới đây trong Truyện Kiều của Cụ Nguyễn Du:

nguyenduCó tài mà cậy chi tài,
Chữ Tài liền với chữ Tai một vần
Ðã mang lấy Nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách lẫn Trời gần, Trời xa.
Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tàì

Thú thực là hồi đó, tôi chỉ cảm nhận thấy rằng tôi rất “gần gũi” với những câu thơ này nhưng thực sự tôi chưa thật thấu hiểu và cho đến bây giờ với những kinh nghiệm đã sống trên 60 năm cuộc đời, tôi mới thấy “thấm” được ít nhiều những gì mà Cụ Nguyễn Du đã viết.

Tôi đã khôn lớn, ra trường rồi đi “vật lộn” với cuộc sống. Trong đời đi dậy, tôi đã có cái may mắn được gặp rất nhiều học trò thuộc các mầu da, tôn giáo và tuổi tác khác nhau để tôi quan sát và học hỏi từ chính họ. Hai đồng sự Canadian và tôi thường hay bàn cãi với nhau về nhiều đề tài khác nhau, nhất là những đề tài liên quan tới vấn đề Giáo Dục.

Chúng tôi cùng dậy trong Phân Khoa Kỹ Thuật tại một Community College ở Canada, vì vậy mà chúng tôi đã từng dậy chung một số sinh viên trong những môn học khác nhau. Học lực và hạnh kiểm của học trò do đó mà chúng tôi cũng đều biết rõ. Thoạt đầu, chúng tôi lấy làm ngạc nhiên thấy một số học trò khi còn đi học đã được điểm rất cao nhưng sau khi ra trường và đi làm, họ lại rất là lẹt đẹt trong vấn đề “thăng quan tiến chức”, không những như vậy mà một số còn bị mất việc luôn. Tôi còn nhớ rõ khoảng đầu thập niên 80, có một anh chàng – tạm gọi tên là Les Hart – hay vặn lý sự với tôi là tại sao anh ta lại mất điểm (nhỏ thôi) trong các bài Assignments. Tôi đã giải thích cặn kẽ và cho hắn coi các “solution with marking scheme” của tôi. Chứng nào, tật nấy, một hôm tôi đang bận giảng bài trong lớp, anh chàng còn gây sự và to tiếng với tôi về cái vụ mất điểm. Tôi ngưng việc giảng bài và tôi “giảng” cho anh chàng một bài học về cách xử thế. Tôi nói:

- Nếu “you” không thay đổi được cái thái độ của “you” khi cư xử với những người xung quanh “you”, tôi sẽ không lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy “you” bị “fired” khi you đi làm! Tôi không chịu nổi cái tính hay bắt bẻ và thích ăn người của “you” lắm rồi!”

Khi tôi nói xong, tôi không ngờ cả lớp đều đứng lên vỗ tay đôm đốp và sau giờ học, một vài sinh viên ở lại lớp và nói với tôi:

- Well said and thank you, Sir!

Họ còn cho tôi biết là anh chàng Les Hart này đã từng “làm mưa, làm gió” với các vị giáo sư khác và làm mất thì giờ của các đồng môn trong giờ học.

Hai năm sau khi Hart đã ra trường, một người học trở về lại trường thăm chúng tôi và anh ta cho biết:

- Thầy biết không? Ðúng như lời Thầy nói ở trong lớp, Les Hart đã cùng làm chung tại Office với em nhưng đã bị Boss cho nghỉ việc rồi vì cả sở không ai chịu nổi được với hắn. Thật là tiếc, Thầy ơi vì Les nó rất thông minh nhưng lòng dạ lại chẳng ra gì!

Tôi nghĩ ngay đến hai câu thơ của cụ Nguyễn Du:

Có tài mà cậy chi tài,
Chữ Tài liền với chữ Tai một vần

Ba đồng sự chúng tôi vẫn tiếp tục theo dõi học trò từ lúc họ còn đi học cho tới khi họ ra đời làm việc. Thế rồi, đầu thập niên 90, chúng tôi rất vui thú được đọc trên tờ Time Magazine một bài viết về “Emotional Intelligence” (EQ) mà tôi tạm dịch là “Thông Minh Xúc Cảm ” (để đối nghịch lại với “Intelligence Quotient”, IQ, mà tôi tạm dịch là “Thông Minh Trí Tuệ”).

Vậy thì Thông Minh là gì?

Theo tự vị Encarta, “Thông Minh” là danh từ mô tả khả năng của Trí Tuệ về lý luận, về giải quyết các vấn dề, về lối suy nghĩ trừu tượng, về học hỏi và hiểu biết những thứ gì mới lạ cũng như biết rút tỉa từ những kinh nghiệm (Intelligence: term usually referring to a general mental capability to reason, solve problems, think abstractly, learn and understand new material, and profit from past experience).

Các nhà trường ngày xưa thường đánh giá rất cao và chú trọng đến IQ trong các địa hạt của khả năng sinh ngữ (linguistic), lý luận (logical), toán học (mathematical). Giáo Sư Howard Gardner trong Phân Khoa Giáo Dục của Ðại Học Harvard cho rằng con người còn có những tài năng (gifts) khác như tài năng sáng tác của các nhà văn, kiến trúc gia, nhạc sĩ, người sáng tạo kiểu mẫu (designers), vũ công (dancers), người buôn bán (entrepreneurs), hay là bất cứ tài năng nào để giúp cho đời sống con người được hoàn mỹ hơn.

Năm 1983, GS Gardner đã là người tiền phong về Multiple Intelligences (tạm dịch là “Thông Minh Ða Dạng”). Ông nêu ra 8 chiều thông minh hay tài năng dưới đây:

- Tài năng về Ngôn Ngữ (Linguistic Intelligence): Năng khiếu về ngôn ngữ, viết lách

- Tài năng về Lý Luận-Toán Học (Logical-Mathematical Intelligence): Năng khiếu về phần các con số- lý luận, toán học.

- Tài năng về Không Gian (Spatial Intelligence): Năng khiếu về hình ảnh và hội họa

- Tài năng về các động tác vận chuyển của thân thể (Bodily-Kinesthetic Intelligence): Năng khiếu về các động tác của chân tay, chạy, nhẩy …

- Tài năng về âm nhạc

- Tài năng về cách xã giao (Interpersonal Intelligence): Khả năng biết cách đối xử với người khác (people smart)

- Tài năng về Nội Xét (Intrapersonal Intelligence): Khả năng về biết cách tự đương đầu với nội tâm và cách suy diễn từ nội tâm (self smart)

- Tài năng hiểu biết về Thiên Nhiên, Vạn Vật (Naturalist Intelligence)

Community College của chúng tôi đã khuyến khích các nhà giáo chúng tôi nên áp dụng các phương cách của Multiple Intelligences trong các bài giảng dậy (Lecture notes), các bài thi Tests (bài thi trong Cá Nguyệt, Term) và Final Exams (bài thi cuối Cá Nguyệt, Term) để Ban Giảng Huấn chúng tôi thực sự “measure” (lượng sức) được học lực của học trò.

Việc bàn cãi về Thông Minh vẫn tiếp tục. Năm 1986, 25 nhà khảo cứu rất thông thái về đề tài “Thông Minh” đã cho rằng Thông Minh của con người bao gồm các lãnh vực như: – khả năng về cách ứng xử với các vấn đề nan giải mới có trong cuộc đời (general adaptability to new problems in life) ; – khả năng suy nghĩ trừu tượng (ability to engage in abstract thinking) ; – biết cách ứng biến trong mọi hoàn cảnh (adjustments to the environment); – khả năng trí tuệ và khả năng hiểu biết những gì đã có (capacity for knowledge and knowledge possessed); – khả năng biết tự tập, suy nghĩ độc đáo và hiệu nghiệm trong suy tư (general capacity for independence, originality, and productiveness in thinking); – biết cách kiếm thêm khả năng (capacity to acquire capacity); – thấu triệt các mối liên quan thích đáng (apprehension of relevant relationships); – khả năng biết xét đoán, thấu hiểu và suy luận (ability to judge, to understand and to reason); – khả năng suy diễn các mối tương quan (deduction of relationships); – khả năng thiên bẩm về nhận thức tổng quát (innate, general cognitive ability).

Người Tây Phương đã quan niệm rằng họ có thể “đo lường” được trí thông minh con người qua cách khảo nghiệm (IQ test – tạm dịch Intelligence Quotient là “Thương Số Thông Minh Trí Tuệ”) và nhiều người thường cho rằng những người có IQ cao thì sẽ thành công khi đi học cũng như khi đi làm.

Cho mãi tới thập niên 90, các nhà khảo cứu khoa học nhân văn tây phương mới thấy là phần “Thông Minh Xúc Cảm” (Emotional Intelligence- viết tắt là EI- được đo lường qua Emotional Quotient- viết tắt là EQ- tạm dịch là “Thương Số Thông Minh Xúc Cảm”) mới giúp con người đi đến thành công hơn trong công ăn, việc làm.

Có trí khôn (Intellectual Intelligence) vẫn chưa đủ, nhất là khi ra đời làm việc và theo sự nhận xét của GS Daniel Goleman thuộc Ðại Học Hardvard thì lòng ganh tị, bực tức, buồn rầu, lo sợ, thắc mắc, khắc khoải… thường ảnh hưởng rất nhiều tới đời sống của con người. Có nhiều người mặc dù phần trí tuệ (IQ) rất cao nhưng đến khi phải đương đầu với các vấn đề tình cảm khó xử, họ lại hoàn toàn mù tịt chẳng biết cách ứng xử ra sao hết. Nhiều người đã phải đi đến ly dị, sức khỏe tâm thần của họ bị bê bết và còn có nhiều người đã tự tử luôn.

GS Goleman đã lên tiếng để cho mọi người biết những gì mình cần biết về chính mình để tránh những tai họa về sau. Ông kêu gọi nhà trường nên dậy học sinh những căn bản về EQ , “Thông Minh Xúc Cảm .”

EQ bao gồm những gì? GS Goleman nêu lên 5 điểm chính sau đây:

1. Tỉnh Thức (Self Awareness): Mình nên biết lòng mình (emotions) và những cảm nhận (feelings) mà mình đang có.

2. Quản chế nỗi vui buồn (Mood Management): Cần biết cách đương đầu với những cảm nhận (feelings) đang xẩy ra để có thể đối phó và tự kiềm chế đúng lúc.

3. Ý đồ (Self motivation): Cần gom góp lại những cảm nhận (feelings) đang hiện hữu và đưa chúng tới một mục tiêu (goal) rõ rệt mặc dù mình đang trù trừ (self doubt), trì trệ (inertia), hoặc đang hành động bốc đồng (impulse)

4. Giao cảm (Empathy): Cần phải nhận biết được những cảm nhận (feelings) của người khác và tác động lại bằng ngôn từ (verbal cue) hay cử chỉ (non verbal cue) cho đúng cách.

5. Cách Giao Tiếp (Managing Relationships): Cần có cách ứng xử (interpersonal interaction) cho hợp lý, hợp tình, biết cách hòa giải (conflict resolution) và thương lượng (negotiations).

GS Goleman còn cho biết “Thông Minh Xúc Cảm” không những giúp cho con người tránh được các hậu quả tai hại mà còn giúp cho con người sống hài hòa, an vui với vợ-chồng-con cái và thành công ngoài đời nữa. Ðiều đặc biệt là con người có thể học thêm và phát triển phần “Thông Minh Xúc Cảm” này nếu họ biết cách. Nếu không biết cách duy trì nó, con người sẽ còn giảm mất phần EQ nữa.

Nói tóm lại, nhờ có “Thông Minh Trí Tụê” (IQ) mà con người có thể học hành dễ dàng hơn nhưng như vậy vẫn còn chưa đủ. Ðó mới là phần “Trí”. Con người cần phải có thêm phần “Thông Minh Xúc Cảm” (EQ) thì mới biết cách ứng xử và thăng tiến kể từ khi bắt đầu đi học cho tới khi ra đời làm việc và về hưu. Các lãnh tụ, các chính trị gia thường có cả IQ lẫn EQ rất cao. Họ có thể rất là khôn ngoan, đức độ mà họ cũng có thể rất là gian hùng và tàn ác.

Cả IQ và EQ không đặt trọng tâm vào vấn đề Ðạo Ðức của con người. Cái nguy hại trên thế giới hiện nay là nhà trường đã quá lơ là đến các vân đề thuộc về phần “Công Dân Giáo Dục” (rất liên quan đến EQ) cho nên học trò đôi lúc rất… khó dậy vì học trò chỉ nghĩ đến các lợi lộc cho riêng cá nhân họ và nhiều lúc họ đã thiếu mất phần căn bản của “Tiên học lễ, hậu học văn”!

Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài.

Sang đến Thế Kỷ 21, người Âu Mỹ đã “đi thêm một bước nữa”: họ cho ra đời phần thông minh mà tôi tạm dịch là “Thông Minh Tâm Linh” (Spiritual Intelligence, viết tắt là SI và được đo lường qua Thương Số Thông Minh Tâm Linh – Spiritual Intelligence Quotient viết tắt là SQ).

IQ có thể ví như là phần thông minh của máy điện toán Computer, EQ là phần thông minh của loài người và vài loài động vật có vú thượng đẳng (mammals), trong khi đó SQ (Spiritual Quotient) thì chỉ loài người mới có được mà thôi vì SQ liên quan đến phần Tinh Thần và Tâm Linh của con người. Các nhà khảo cứu về Khoa Học Nhân Văn cho rằng phần SQ là phần căn bản nhất so với IQ và EQ. Con người cần phải có phần “Thông Minh Tâm Linh” này để phát triển lòng mong muốn tìm hiểu: – về ý nghĩa của sự vật, – về sự việc nhìn xa trông rộng và – về chân giá trị .

Nhờ có SQ mà con người có những ước mơ và cố gắng đạt nguyện chúng. SQ đặt vấn đề về phần tâm linh và vai trò của đạo giáo trong đời sống của con người.

Vì “mới ra lò” sau năm 2000 nên tôi chắc là ít người đã biết đến SQ và SQ cũng đang còn ở trong thời kỳ phôi thai nên chúng ta chưa thực sự thấy rõ được cái tầm vóc và tương lai của SQ ra sao.

Như vậy người Tây Phương mới chỉ nói tới IQ, EQ, SQ nhưng theo tôi nghĩ thì trên phương diện giáo dục họ chưa thực sự trú trọng để tâm tới phần Ðạo Ðức qua chữ “Tâm” và chữ “Ðức” trong văn hóa Việt Nam và Phật Giáo của chúng ta. Tôi cảm nhận được phần tinh hoa về “Ðạo Làm Người” của tổ tiên Việt Nam chúng ta trong cách dậy dỗ con người từ đời nọ đến đời kia. Tôi cũng cảm nhận thấy rằng tôi đã rất may mắn được hấp thụ nền đạo lý và phần tâm linh sâu sắc này.

Trong bài viết này, tôi muốn dùng lối suy nghĩ của Tây Phương và Ðông Phương để giải thích một vài điều mà chính tôi đã thấy tận mắt. Tôi cũng muốn đem so sánh quan niệm của Việt Nam và Tây Phương về “Thế nào là Thông Minh”. Tôi mạo muội viết ra đây những gì tôi biết một cách thô thiển về chữ “Tâm” của Phật Giáo và chữ “Ðức” trong văn hóa Việt Nam cội nguồn. Xin quý vị bỏ qua cho lối “múa rìu qua mắt thợ” này và nhất là những sai lầm của tôi, xin đa tạ trước.

Theo tôi nghĩ, muốn duy trì cái “Ðức”, con người cần có cái “Tâm” trong sáng (nói nôm na là “Tấm Lòng tốt, đạo đức, trung thực, trong sáng, dễ dãi …” trong tiếng Việt) để nhận diện được sự việc một cách trung thực và luôn luôn để ý đến các hành động của chính mình cho thích hợp với “Ðạo làm người” trong đời sống hàng ngày.

Tiếp theo: CHỮ TÂM KIA MỚI BẰNG BA CHỮ TÀI – 2

Các links khác: 1′ => 4
Phải Thương Đồng Loại
Để Mặc Kệ
KHÁC BIỆT GIỮA ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐI
Giải Oan
Thật xúc động khi đọc bài viết này …
ĐẠO LÀ GÌ?
Kiếp Luân Hồi
KHÍA CẠNH NHÂN LOẠI NƠI THÁNH TÊRÊXA AVILA
TRÁI TIM CÒN LỚN HƠN
Nghịch Duyên
Đấng Tạo Hóa
ĐẾN MỘT LÚC
ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ
Thằng ăn cắp
Thuyết Âm / Dương
Ý NGHĨA CỦA “TÔN GIÁO”
Sở Học và Đạo Hạnh
Của Cải Vật Chất Không Ðem Lại Hạnh Phúc
Vợ Của Bill Gates Sống Như Thế Nào?
Triết lý tuổi già
Ý NGHĨA CỦA “ĐẠO”
CON BÚP-BÊ VÀ CÀNH HOA HỒNG
KINH SÁM HỐI
Phật Nói Kinh: DIỆT TỘI TRƯỜNG THỌ
Những bài học về Diệu Tâm
Lời Hay Ý Đẹp
Những hạt giống cho tâm hồn nở hoa
Lá Thư Từ Bên Kia Thế Giới
Bài 231 – Thầy dạy
Lòng nhân ái thật sự
Tướng tự Tâm sanh
TỰ DO ĐÍCH THỰC




Comments (3)

 

  1. personality test says:

    Hi everybody !! It’s a nice publication !!! See you

  2. Mindy says:

    Thanks a lot for writing this info, I don’t know about anybody else, but I could totally use it.

  3. Shayarin Williams says:

    You made great good points there. I did a research on the topic and found most experts will agree with your Post.

Leave a Reply