Cơ Bút – Caodai Spiritism

Mar 26, 10 | Tâm Duyên | 13,680 views | 3 Comments



Share |





ngocco



Kính thưa quý Huynh Tỷ Đệ Muội,

Buổi Hội Thảo Giáo Lý kỳ tới sẽ vào ngày Thứ Bảy, April 3 and April 17 2010, lúc 6:00 PM PST. Đề tài thảo luận:

Cơ Bút – Caodai Spiritism


Xin qúy HTĐM chuẩn bị những câu hỏi và phần đóng góp ý kiến để buổi thảo luận của chúng ta được thêm phong phú và hữu ích. Xin thành thật cảm tạ sự tham gia và đóng góp của Qúy HTĐM.


Ghi chú: số điện thoại mới của teleconference là: (712) 432-0180.

(Nếu Qúy HTĐM gặp trở ngại khi vào teleconference, xin vui lòng gọi lại số điện thoại trên theo chỉ dẫn dưới đây.)

Chỉ dẫn để vào teleconference:
Free Conference Call (in USA only)
– Conference Dial-in Number: (712) 432-0180
– Participant Access Code: 1002978#
– Dial 1 after dial access code following by #

Kính,

Chế Tùng

Xem các bài viết đã đăng cùng thể loại (same category)



Comments (3)

 

  1. Tam Duyen says:

    TÌM HIỂU CƠ BÚT:

    Người thủ cơ chấp bút là đồng tử. Diễn trình cũng như tầm quan trọng của vai trò đồng tử như thế nào đã được THẦY – Thượng-Đế – giảng giải như sau:

    “Thủ cơ hay chấp bút phải để cho thần, tâm tịnh mới xuất chơn-thần ra khỏi phách, đặng đến hầu THẦY nghe dạy.

    Khi chấp thủ thì tay tuân theo Chơn thần nói lại mà viết ra, mường tượng như con đặt để, con hiểu đặng vậy.

    Chơn thần là gì?

    Là nhị xác thân (périsprit), là xác thân thiêng liêng. Khi còn ở nơi xác phàm thì rất khó xuất riêng ra đặng, bị xác kéo níu.

    Các Chơn thần ấy của các Thánh, Tiên, Phật là huyền diệu vô cùng, bất tiêu, bất diệt. Bậc Chơn tu khi còn xác phàm nơi mình, như đắc Đạo, có thể xuất ra trước buổi chết mà vân du thiên ngoại. Cái Chơn thần ấy mới đặng phép đến trước mặt THẦY…” (5)

    Trong bài Thánh-giáo nầy, THƯỢNG-ÐẾ (THẦY) còn lưu ý thêm, đại để là kẻ phò cơ chấp bút chẳng khác nào như tướng soái của THẦY để truyền Đạo cho thiên hạ nên phải tập tành chí Phật, Thánh, Tiên, thân tâm phải tinh khiết, thanh tịnh, trai giới phải tinh nghiêm và phải có một Chơn linh tinh tấn thì mới huyền diệu.

    Để có cái nhìn khách quan và đúng đắn về Cơ Bút Đạo Cao-Đài, hay nói cách khác là để thử tìm hiểu xem Trời và người có thể cộng thông hội hiệp được hay không, trong điều kiện nào và có thế giới vô hình hay không, ta hãy nghe Lê Quí Đôn (1726-1784) một danh nho bác học uyên thâm thời Lê mạt, nhận định:

    “Nhân tâm chí đại, thượng khả dĩ thông Thiên Địa, trung khả dĩ trắc quỉ thần, hạ khả dĩ sát vạn vật” nghĩa là “Tâm con người ta rất to rộng, trên có thể thông suốt với Trời Đất, giữa có thể ước lượng được quỉ thần, dưới có thể xét vạn vật”, nhưng muốn đạt được những điều ấy, ông cho biết tiếp “Chính tâm nhi hậu năng tri đạo, tri đạo nhi hậu năng kiến cơ, kiến cơ nhi hậu năng thành dụng, thành dụng nhi hậu năng đạt quyền. Vận mệnh do nhân chế phi năng chế nhân, thiên nhân hợp nhất chi lý bất quá ư thử dã” nghĩa là “Giữ tâm mình cho chính trực ngay ngắn rồi sau mới biết được đạo lý, biết được đạo lý rồi mới có thể biết được động cơ tế vi, thấy được cơ vi rồi mới có thể làm nên công dụng, nên được công dụng rồi mới có thể đạt được quyền năng. Vận mệnh của người là do người ta làm ra, chẳng phải mệnh có thể chế ngự được người, cái nguyên lý Trời người hợp vào một chẳng qua là thế vậy” (6).

    Sau Lê Quí Đôn chừng ba phần tư thế kỷ, Phan Thanh Giản (1796-1867) một đại nho Nam Việt, trong văn bia do ông soạn đề ngày 13 tháng 5 năm Tự Đức thứ 9 để dâng Tiên Nữ Thiên Y, hiện còn ở Tháp Bà, Nha Trang, đã khẳng định chẳng những có thế giới vô hình mà hai thế giới vô hình và hữu hình còn không cách xa nhau:

    “Khi phương Nam chưa định, xe chỉ nam chưa tới, ấy là một thời. Nước nầy nhỏ, dân thưa mà đức tốt, đồn xa, đời thịnh trị, thần linh bàng bạc giáng hiện. Đủ tỏ thế giới siêu hình Bồng Lai Phương Trượng cùng với trần gian thực tế không xa vậy” (7).

    Đầu thế kỷ XX, Albert Einstein một nhà bác học lừng danh, cũng đã bày tỏ niềm tôn kính thế giới vô hình huyền bí như sau:

    “L’homme auquel le sentiment du mystère n’est pas familier, qui a perdu la faculté de s’émerveiller, de s’abimer daus le respect, est comme un homme mort” nghĩa là “Người mà không quen cảm thông với sự huyền bí, đã mất cả cái quan năng biết ngạc nhiên, biết ngập tràn trong niềm tôn kính trước những gì huyền bí, con người ấy kể như một người đã chết rồi” (8).

    Quan điểm của một số nhân vật vừa nêu không nhằm mục đích hỗ trợ cho sự tranh luận hơn thua đối với những ai đã từng nhân danh khoa học mà bảo rằng “cái tư duy nhập thần không nên tồn tại trong thời khoa học hiện đại nầy” và đã cho rằng cơ bút Đạo Cao-Đài là mê tín dị đoan, mặt khác cũng không cố ý dùng thái độ “Duy nghiệm” của Aristote đã được xây dựng nên thành trì ngăn chận tính tọc mạch của lý trí khi nó muốn dòm ngó vào những huyền bí = L’empirisme d’Aristote est érigé en sauvegarde contre l’indiscrétion de la raison qui voudrait scruter les mystères – Histoire de la Philosophie III tr. 661 –” như Emile Bréhier đã nhận xét (9), mà chỉ với thành tâm thiện chí góp phần vào việc nhận định vấn đề Cơ Bút Đạo Cao-Đài một cách ngay thẳng, sáng suốt và hợp lý, vì nếu dùng lối duy vật biện chứng để nhận xét một vấn đề thuộc lĩnh vực siêu hình thì chẳng khác gì việc muốn bắt chim trên trời mà lại buông câu dưới nước.

    Tuy nhiên có điều phải kiểm chứng là cơ bút đã linh ứng hay huyền diệu như thế nào, nội dung của bài cơ sau khi cầu thuộc trình độ Trời, Phật, Tiên, Thánh, người hay ma quỉ? Theo Micréa Eliade trong Mythes Rêves et Mystère thì “Đức linh thiêng luôn luôn biểu hiện như là năng lực, nhưng có nhiều trình độ và tần số khác nhau trong những biểu hiện ấy = Le sacré se manifeste toujours comme une force, mais il y a de grandes différences de niveau et de fréquence entre ces manifestations” (10). Như vậy, nếu trái lời THẦY dạy, nghĩa là thân tâm của đồng tử kể cả chư vị chứng đàn và hầu đàn không sạch sẽ thanh tịnh, nhất là tâm trung bất chánh thì các Đấng trọn lành sẽ không đến và phàm tâm dục tánh sẽ nổi dậy hoặc tà thần yêu quái sẽ xâm nhập, làm sai lệch chơn truyền Đạo pháp và ảnh hưởng không tốt đến sự vận hành của cơ Đạo.

    Để soi sáng thêm vấn đề là cơ bút đã dẫn dắt con người đến chỗ chánh tín hay mê tín dị đoan, thiết tưởng không phải là điều vô ích khi chúng ta thử theo dõi phần nào bối cảnh của nhân loại, kể cả dân tộc Việt Nam, từ khi Đạo Cao-Đài xuất hiện cho đến nay cùng một vài nét đặc thù của tôn giáo mới nầy:

    Bởi đức háo sinh và lòng thương yêu vô bờ bến mà Thượng-Đế đã mở Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ tức Đạo Cao-Đài hầu cứu nguy nhân loại trong thời hạ nguơn mạt pháp nầy. Thời kỳ mà con người vì quá đam mê quyền lực và vật-chất mà đã xao lãng phần đạo đức tinh thần và nhiều khi mất hết cả thiên lương. Thời kỳ mà xã-hội loài người đã nảy sinh những chủ nghĩa phi nhân mù quáng như tham tàn, kỳ thị, cực đoan, quá khích, độc tài và độc tôn – đã thổi bùng lên ngọc lửa của tham, sân, si và đã xô đẩy con người vào những cuộc chém giết kinh hoàng chưa từng thấy trong lịch sử loài người. Rồi đây loài người sẽ ra sao? có thoát được hiểm họa đại thế chiến thứ ba với những vũ khí hạch tâm có tầm mức sát hại một cách kinh khiếp hay không? nếu các chủ nghĩa cực đoan, quá khích tái sinh và bành trướng dưới một dạng nào đó và trong một phút giây nào đó con người không còn tự chủ được nữa. Ngoài những hiểm họa và đe dọa vừa nêu, bộ mặt xã-hội loài người còn có những thương tích nghiêm trọng như:

    – Những tệ nạn gây truyền chứng bệnh nan y liệt kháng,

    – Những vụ cuồng dâm và cuồng sát đã xảy ra trong những năm tháng gần đây,

    – Những cảnh chia lìa đổ vỡ của vợ chồng kéo theo sau sự bơ vơ, hư đốn của con cái ngày càng gia tăng,

    – Sự tồn tại cảnh người phụ nữ bị ngược đãi một cách dã man và cảnh nghèo đói lạc hậu của con người tại nhiều nơi trên thế giới.

    Ngần ấy sự kiện làm cho lương tri con người suy nghĩ và đặt dấu hỏi về những điều liên quan đến giá trị và sự tồn vong của con người như chủ nghĩa, giáo điều, luật lệ, phong tục, tập quán, tình người, tư cách và trách nhiệm của con người v.v… và lý do nào mà ngạn ngữ La-Tinh đã có câu “Homo hominem lupus” (L’homme est un loup pour l’homme) nghĩa là “Con người là chó sói của con người”.

    Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ tức Đạo Cao-Đài được manh nha trong các năm đầu của thập niên 1920 và chính thức xuất hiện vào năm 1926. Thượng-Đế đã chọn Việt Nam, quê hương của một dân tộc hiền hòa, vốn có óc thâu hóa và sáng tạo, và dù trải qua những gian nguy thử thách của thời đại cũng vẫn giữ dạ thờ Trời kính Phật, để khai sáng mối Đạo. Qua phương tiện cơ bút, Thượng-Ðế đã giáng linh điển, ban truyền một nền giáo lý dung thông mọi tư tưởng Đông Tây kim cổ, lấy tinh hoa tam giáo Nho, Thích và Lão làm nền tảng, để lập thành một hệ thống giáo lý nhất quán Đại-Đạo gồm năm bậc: Nhân Đạo, Thần Đạo, Thánh Đạo, Tiên Đạo và Phật Đạo hầu tận độ chúng-sanh. Trong bối cảnh đen tối hải hùng và còn nhiều bất trắc của nhân loại, Thượng-Ðế đã đến và chỉ cho nhân loại một lối thoát cả xác lẫn hồn. Lối thoát ấy là nơi hợp lưu tinh hoa các nguồn tư tưởng cho hành giả cùng nhau tu học, vượt lên ranh giới của không, thời gian và mọi dị biệt của hình danh sắc tướng, để trở về nguồn cội chung là Đạo, là hư vô nhứt thể, là lý tính đại đồng, là Thái-Cực Thánh-Hoàng, là Thượng-Đế. Danh từ tuy khác nhưng tựu trung cũng chỉ là một. Lối thoát ấy cũng là đại lộ thênh thang của tình thương, của dung hòa và cởi mở, của khiêm tốn và nhân từ, của trao đổi và học hỏi lẫn nhau, tôn trọng sinh mạng của nhau và giúp đỡ lẫn nhau cả vật-chất lẫn tinh thần, dìu dắt nhau mà sống và thăng hoa giá trị con người, đồng thời thánh đức hóa xã-hội, đem lại sự an bình cho mình, cho người, cho quốc gia dân tộc và cộng đồng nhân loại. Lối thoát ấy là sinh lộ mà Cao-Đài Thượng-Đế đã chỉ dẫn, nhưng con người phải thức tâm, nương theo đó mà đi, để cùng nhau sống còn bởi đặc tính nhân bản khai phóng toàn diện của nó. Nếu ngược lại con người cứ mãi mê muội, cố chấp, cống cao ngã mạn, kỳ thị, cực đoan, quá khích, độc tài, độc tôn và tàn bạo là đi vào tử lộ, chỉ gây đau khổ cho nhau và rồi sẽ cùng ôm nhau xuống hố của diệt vong.

    Trích: MỘT CÁI NHÌN VỀ CƠ BÚT ĐẠO CAO-ĐÀI do Giáo Sư Thượng Thành Thanh biên soạn

    (5): Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Tòa Thánh Tây Ninh, quyển I, trang 6 (Hội Thánh giữ bản quyền, 1972).

    (6): Lịch Sử Tư Tưởng Việt-Nam, Nguyễn Đăng Thục, tập VII, cùng một bìa với tập VI, trang 69 (Nhà xuất bản thành phố HCM, in lần thứ hai, 1998).

    (7): Lịch Sử Tư Tưởng Việt-Nam, Nguyễn Đăng Thục, tập I, trang 294-295 (Nhà xuất bản thành phố HCM, in lần thứ hai, 1998).

    (8): Dịch Học Tinh Hoa, Nguyễn Duy Cần, trang XXIX (Tủ sách Thu Giang xuất bản, 1973).

    (9): Lịch Sử Triết Học Tây Phương, Lê Tôn Nghiêm, tập III, trang 249 (Nhà xuất bản thành phố HCM, 2000).

    (10): Lịch Sử Tư Tưởng Việt-Nam, Nguyễn Đăng Thục, tập I, trang 303 (Nhà xuất bản thành phố HCM, in lần thứ hai, 1998).

  2. Cầu cơ - Ðàn cơ says:

    Cây cơ được làm bằng một cái giỏ đan bằng tre hay mây, phất giấy lên rồi bọc vải vàng, nơi miệng giỏ có tra một cái cán dài bằng gỗ, đầu cán có chạm hình cái đầu con chim loan, và gắn vào cán một cọng mây, nhìn giống như cái trục đờn, dùng để viết ra chữ. Cây cơ nầy được gọi là Ngọc cơ (ý nói cây cơ quí báu). Nếu Ngọc cơ kích thước nhỏ thì gọi là Tiểu Ngọc cơ, nếu có kích thước lớn thì gọi là Ðại Ngọc cơ. Khi cầu Ðức Chí Tôn và Ðức Phật Mẫu thì phải dùng Ðại Ngọc cơ.

    Cầu cơ là cầu xin một Ðấng thiêng liêng giáng xuống làm cho Ngọc cơ chuyển động viết ra chữ, tạo thành một bài văn dạy Ðạo. Muốn cầu cơ thì phải có hai vị Chức sắc HTÐ làm đồng tử phò cơ, và phải lập Ðàn cầu cơ.

    Trong Ðàn cầu cơ hay nói tắt là Ðàn cơ, phải có một vị đạo đức khả kính làm Chủ đàn, hai vị Ðồng tử phò cơ, một vị Hầu bút làm độc giả để đọc chữ do cơ viết ra, một vị Ðiển ký để ghi chép bài giáng cơ, và nhiều vị hầu đàn.

    Người Chủ đàn cúng cầu nguyện, rồi hai vị đồng tử vào phò cơ, nâng giỏ cơ lên chờ đợi. Khi có một Ðấng thiêng liêng giáng đàn thì Ngọc cơ chuyển động và bắt đầu viết chữ bóng trên mặt bàn. Những năm trước ngày Khai Ðạo, khi lập Ðàn cơ, người Chủ đàn và các vị Hầu đàn phải đọc Bài Kinh Cầu Cơ gọi là Bài Trời Còn.

    Gốc tích của Bài Trời Còn: Năm Ðinh Tỵ (1917), Ngài Ngô Văn Chiêu hầu đàn Hiệp Minh ở Cái Khế Cần Thơ, để cầu xin thuốc trị bịnh cho thân mẫu, Ngài được Ơn Trên ban cho bài thuốc và một bài thơ 10 câu. Về sau, Ngài Ngô Văn Chiêu viết nối thêm 4 câu để làm Bài Kinh Cầu cơ, rồi lấy hai chữ đầu bài đặt tên cho bài kinh, gọi là Bài Trời Còn.

    Sau đây, xin chép lại Bài Kinh Cầu cơ: Trời Còn:

    KINH CẦU CƠ

    Trời còn sông biển đều còn,
    Khắp xem cõi thế, núi non đượm nhuần.
    Thanh minh trong tiết vườn xuân,
    Phụng chầu hạc múa, gà rừng gáy reo.
    Ðường đi trên núi dưới đèo,
    Lặng tìm cao thấp, ải trèo chông gai.
    Phận làm con thảo há nài,
    Biết phương Tiên Phật, Bồng Lai mà tìm.
    Xem qua xét lại cổ kim,
    Một bầu Trời Ðất thanh liêm chín mười.
    Vàng trau ngọc chuốt còn tươi,
    Bền lòng theo Phật cho người xét suy.
    Thần Tiên vốn chẳng xa chi,
    Có lòng chiêm ngưỡng nhứt thì giáng linh.

    Trường hợp cầu Ðức Chí Tôn, sau khi đọc Kinh cầu cơ xong thì Ðức Chí Tôn giáng làm Ðại Ngọc cơ chuyển động, toàn thể những người trong Ðàn cơ đọc Bài Mừng Thay:

    Mừng thay chi xiết nỗi mừng,
    Hào quang chiếu diệu ngàn từng không trung.
    Hạc reo bay khắp dạo cùng,
    Càn Khôn thế giới cũng chung một bầu.
    Môn sanh thành kỉnh chực chầu,
    Tửu Trà Hoa Quả mừng cầu Tiên Ông.
    Nhang thơm tốc đốt nực nồng,
    Ðèn lòa ngọn lửa tựa rồng phun châu.

    Ðọc xong bài Kinh nầy thì lạy mừng, xong giữ sự yên lặng, thanh tịnh và trang nghiêm để Ðức Chí Tôn giáng dạy.

    Thời ÐÐTKPÐ, Ðức Chí Tôn không đầu kiếp xuống cõi trần mang xác phàm, mà Ðức Chí Tôn chỉ dùng huyền diệu cơ bút, giáng dạy để khai mở Ðạo Cao Ðài.

    Trong khoảng từ năm 1924 đến năm 1927, Ðức Chí Tôn mở cơ Phổ Ðộ nhơn sanh nên cho phép lập sáu Ðàn cơ để Ðức Chí Tôn và các Ðấng thiêng liêng giáng cơ dạy Ðạo và thâu nhận môn đồ nhập môn vào Ðạo. Người ta thường gọi các Ðàn cơ ấy là Ðàn thỉnh Tiên. Sáu Ðàn cơ Phổ Ðộ thường lệ đó là:

    1. Ðàn Cầu Kho: tại nhà ông Ðoàn Văn Bản, ông Phủ Vương Quan Kỳ chứng đàn, phò loan là hai ông: Nguyễn Trung Hậu và Trương Hữu Ðức.

    2. Ðàn Chợ Lớn: tại nhà Ông Cựu Thượng Nghị viện Lê Văn Trung, chủ nhà và quan Phủ Lê Bá Trang luân phiên chứng đàn, phò loan: Cao Hoài Sang và Cao Quỳnh Diêu.

    3. Ðàn Tân Ðịnh: tại nhà Ông Nguyễn Ngọc Thơ, chủ nhà chứng đàn, phò loan: Phạm Công Tắc và Cao Quỳnh Cư.

    4. Ðàn Thủ Ðức: tại nhà ông Ngô Văn Ðiều, chủ nhà chứng đàn, phò loan: Huỳnh Văn Mai và Võ Văn Nguyên.

    5. Ðàn Tân Kim: tại nhà ông Hội Ðồng Nguyễn Văn Lai, quan Phủ Nguyễn Ngọc Tương và ông Lê Văn Lịch luân phiên chứng đàn, phò loan: Ca Minh Chương và Phạm V. Tươi.

    6. Ðàn Lộc Giang: tại chùa Phước Long của ông Yết Ma Giống, chứng đàn là quan Phủ Mạc Văn Nghĩa, phò loan là Trần Duy Nghĩa và Trương Văn Tràng.

    Ngoài sáu Ðàn cơ thường lệ nầy, Ðức Chí Tôn còn dạy lập Ðại Ðàn ở nhiều chỗ khác khi cần để giúp vào cơ Phổ Ðộ.

    Trích: Cầu cơ – Ðàn cơ – CAO ÐÀI TỪ ÐIỂN

  3. Đặng Trường Sanh says:

    CƠ BÚT
    Thầy dụng cơ bút khai mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ để tuyển chọn người hiền đức hầu đáp ứng yêu cầu xây dưng đời Thượng Ngươn Thánh Đức theo đúng luật tuần hoàn của Vũ Trụ.Cơ bút chỉ hé lộ một phần rất ít của sự huyền diệu.Để tất cả mọi người nhìn vào.Năm chục phần trăm nhìn vào không tin cho là mê tin dị đoan.Còn lại một số nữa tin nữa ngờ,một số ít thì thật tin.Ai không tin thì không tu.Ai tin ít thì tu ít.Ai tin nhiều thì tu nhiều.Ai trọn tin thì quyết chí tu hành.Ai trọn tin quyết chí tu hành thì sẽ được về cảnh an nhàn.Còn ai không tin không tu thì do việc làm của mình mà được hưởng kết quả theo luật nhân quả.Qui luật Thành TRụ Hoại Không thì cơ tận diệt để lập lại đời mới,đó không phải là câu chuyện hoang đường.Mong có được nhiều người thức tĩnh để cùng nhau về cảnh an nhàn.

Leave a Reply