TƯ TƯỞNG TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN

Mar 23, 10 | Tam Duyen | 10,934 views | 3 Comments



Share |






tamgiaodongnguyen

TƯ TƯỞNG TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN CỦA NGƯỜI VIỆT QUA CÁC THỜI ĐẠI

Từ thế kỷ II, tư tưởng Tam giáo đồng nguyên đã xuất hiện ở Việt Nam, bấy giờ là nơi giao lưu, hội tụ và dung hòa các luồng tư tưởng Ấn-Hán (Phật, Nho, Đạo) với văn hóa Việt. Một bằng chứng là Mâu Bác, cũng gọi Mâu tử (sinh khoảng năm 165 hay 170, mất khoảng 230). Ông tên Dung, tự Tử Bác, từ Trung Quốc sang Việt Nam tỵ loạn vào thế kỷ II, tài kiêm văn, võ. Ông viết Lý hoặc luận nổi tiếng, trong đó cho biết: sau khi mẹ mất, không muốn làm quan, ông đắm mình học Tam giáo. “Từ đó, dốc chí vào đạo Phật, gồm ngẫm Lão tử năm ngàn chữ, ngậm huyền diệu làm rượu ngon, xem Ngũ kinh làm đàn sáo.” Tinh thần hòa đồng từ buổi ban sơ đó đã là yếu tố để tư tưởng Tam giáo đồng nguyên trở thành môït nét bản sắc văn hóa truyền thống của người Việt trong những thế kỷ sau, được nhiều danh gia phát biểu qua các triều đại.


1. Viên Chiếu (999-1091)

Viên Chiếu sống vào đời Lý, thế danh Mai Trực, quê làng Phúc Đường, huyện Long Đàm, là thiền sư đời thứ bảy dòng Quan Bích (Việt Nam). Khi được hỏi về ý nghĩa của Phật và Thánh (Nho), Sư đáp: Trú tắc kim ô chiếu,/Dạ lai ngọc thố minh. (Ngày thì mặt nhựt sáng soi,/Đêm về vằng vặc khung trời ánh trăng.) Ngụ ý bảo tuy ứng dụng của Phật và Thánh (Nho) trong đời khác nhau, nhưng đều đem lại cho đời ánh sáng (giác ngộ), ví như ngày cần ánh sáng mặt trời (kim ô: quạ vàng), đêm cần ánh sáng vầng trăng (ngọc thố: thỏ ngọc).


2. Trần Thái Tông (1218-1277)

Vua tên thật là Trần Cảnh, quê làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường (huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định sau này). Viết bài Tựa cho Thiền tông chỉ nam, vua ám chỉ rằng trách nhiệm độ đời của Phật hay Nho vẫn là một: “Lục tổ có nói: ‘Bậc đại thánh và đại sư đời trước không khác gì nhau.’ Như thế đủ biết đại giáo lý của đức Phật ta lại phải nhờ tiên thánh mà truyền lại cho đời.”

Trong bài Phổ khuyến phát bồ đề tâm, vua viết: Vị minh nhân vọng phân Tam giáo,/Liễu đắc để đồng ngộ nhất tâm. (Chưa tỏ ngộ, người đời lầm lẫn phân biệt Tam giáo,/Khi đạt chỗ gốc cội rồi thì cùng ngộ một tâm.)

Trong bài Tọa thiền luận, vua so sánh pháp môn tu luyện của Tam giáo và nêu lên sự tương đồng: “Thích-ca Văn phật vào núi Tuyết sơn [Himalayas], ngồi ngay ngắn trong sáu năm, chim bồ các [chim thước, chim khách] làm tổ trên đầu, cỏ mọc xuyên qua bắp vế mà thân tâm vẫn bình thản. Tử Cơ [Đạo gia, tức Nam Quách Tử Cơ trong Nam hoa kinh của Trang tử] ngồi tựa ghế, thân như cây khô, lòng như tro nguội. Nhan Hồi [Nho gia] ngồi quên, chân tay rời rã, thông minh dẹp bỏ, lìa xa cả trí cả ngu để hòa chung với Đạo lớn. Ba bậc thánh hiền của Tam giáo đời xưa đó đều nhờ ngồi định mà có thành tựu.”

Trong bài Giới sát sinh văn, vua nêu lên chỗ tương đồng của Tam giáo về mặt hành thiện: “Sách Nho dạy làm điều nhân đức, kinh Lão dạy thương yêu người và vật, Phật chủ trương hãy giữ gìn giới cấm sát sinh…”


3. Hương Hải (1631-1718)

Thiền sư thế danh Tổ Cầu, người làng Áng Độ, huyện Chân Phúc (sau là huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Lúc đầu ông làm tri phủ Triệu Phong (sau là tỉnh Quảng Trị), đời Hậu Lê, rồi tu ở cù lao Chàm (Quảng Nam), hiệu Huyền Cơ Thiện Giác, pháp tự Minh Châu Hương Hải.

Trong một bài thơ Sư viết: Nguyên lai Tam giáo đồng nhất thể. Như vậy, Sư khẳng định Tam giáo cùng một bản thể, nghĩa là cùng một nguồn gốc phát sinh.

So sánh Nho với Phật, ở bài thơ khác, Sư kết luận: Nho nguyên đãng đãng đăng di khoát,/Pháp hải trùng trùng nhập chuyển thâm. (Nguồn Nho bát ngát lên thêm rộng,/Biển Phật trùng trùng vào càng sâu.)

Trong bài Lý sự dung thông, Sư lấy hình ảnh xe, thuyền làm ví dụ để so sánh phương tiện và công dụng của Tam giáo trong đời. Sư kết luận Tam giáo ví như ba cỗ xe cùng đi đến một đích. Đối chiếu ba cặp phạm trù tam cương, ngũ thường (của Nho) với tam nguyên, ngũ khí (của Lão), và với tam quy, ngũ giới (của Phật) Sư có bài thơ: Trong nơi danh giáo có ba,/Nho hay giúp nước, sửa nhà, trị dân./Đạo thời dưỡng khí an thần,/Thuốc trừ tà bệnh, chuyên cần luyện đan./Thích độ nhân miễn tam đồ khổ,/Thoát cửu huyền thất tổ siêu phương./Nho dùng tam cương, ngũ thường,/Đạo gìn ngũ khí, giữ giềng ba nguyên./Thích giáo nhân tam quy, ngũ giới,/Thể một đường xe phải dụng ba.


4. Lê Quý Đôn (1726-1784)

Ông tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, quê làng Diên Hà, trấn Sơn Nam Ha, làm quan đời Hậu Lê, lần lượt giữ nhiều chức vụ quan trọng. Trong Kiến văn tiểu lục, ông bày tỏ lòng tôn kính Tam giáo bình đẳng và khuyến cáo một số nhà nho thiển cận: “Đạo giáo của họ Phật, họ Lão thanh tĩnh hư vô, cao siêu tịch diệt, không hệ lụy đến sự vật, đấy cũng là đạo giáo của bậc cao minh dùng để tu dưỡng bản thân; đến những lời bàn luận sâu rộng về đạo đức, về hình thần, không điều gì là không có ý nghĩa mầu nhiệm. Nhà nho chúng ta, cứ giữ thành kiến kia khác, thường thường bác bẻ, như thế có nên không?”


5. Ngô Thì Sĩ (1726-1780)

Ông tự Thế Lộc, hiệu Ngọ Phong Tiên sinh, đạo hiệu Nhị Thanh Cư sĩ, làm quan đời Hậu Lê, trứ tác nhiều tác phẩm. Năm 1760, làm văn bia nhân dịp trùng tu chùa Tam giáo (làng Kim Bảng), ông nêu quan điểm: “Lời khuyên về tịnh độ của nhà Phật, lời bàn về cảnh tiên của nhà Đạo, thuyết tích chứa điều lành có thừa điềm tốt của nhà Nho, thảy đều đúng cả. Đạo Phật chủ trương từ bi, Đạo gia thanh tịnh, Nho gia lấy thuyết nhân nghĩa, trung chính mở đường cương thường của Trời để dựng nên một trật tự cho người. (…)Nhập thế và xuất thế, tác dụng khác nhau mà thể tính thì cũng một. Tôi cho rằng đạo lý chỉ có một mà thôi. Tự do, sáng suốt, không có phân chia đạo nọ đạo kia vậy. Liễu ngộ chỉ có bản tính yên lặng, giữ lấy chỉ là tâm. Chỗ tịch diệt của Như lai, chỗ hư vô của Lão quân, chỗ không muốn nói của Phu tử đều là gom cái tâm mình về chỗ chánh mà thôi.”


6. Ngô Thì Nhậm (1746-1803)

Ông người làng Thanh Oai, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông, tự Hi Doãn, hiệu Đạt Hiên, lại có hiệu Hải Lượng Thiền sư, làm quan hai đời Hậu Lê và Tây Sơn, giữ nhiều chức vụ quan trọng. Ông chủ trương Tam giáo một nguồn (nhất nguyên), và bày tỏ quan điểm trong các tác phẩm như Thiên quân thái nhiên, bài Ký đình Thủy Nhất… Ông được Phan Huy Ích đã ca ngợi: “Tận tính nhi cùng lý (thấu triệt được thiên tính, hiểu rõ được đạo lý), khu Thích dĩ nhập Nho (đưa đạo Phật vào đạo Nho), ông đã khiến cho tám bộ Phạn vương (Phật) không ra ngoài cung tường của Tố vương (Khổng tử).”


7. Phan Huy Ích (1750-1822)

Ông tự Chi Hòa, hiệu Dụ Am và Đức Hiên, làm quan hàn lâm thừa chỉ, đốc đồng Thanh Hóa, v.v… Đời Tây Sơn, ông làm tả thị lang Bộ Hộ, tước Thụy nham hầu, đi sứ Trung Quốc về thăng thị trung ngự sử. Ông lập Bảo chân quán để tu dưỡng, trứ tác nhiều, chủ trương Tam giáo một nguồn.

Năm 1796, viết lời Tựa cho Trúc Lâm đại chân viên giác thanh của Ngô Thì Nhậm, ông bày tỏ quan điểm: “Giáo lý Thích-ca tuy nói là không tịch hư vô, nhưng đại yếu vẫn là trừ bỏ hết mọi chướng lũy, thấy rõ chân như. Cho rằng ‘minh tâm kiến tính’ là việc cần kíp nhất, nếu đem so sánh với học thuyết ‘thành ý trí tri’ của nhà Nho ta, thật chẳng có gì là trái ngược.”


8. Trịnh Tuệ (thế kỷ XVIII)

Ông đậu trạng nguyên, làm tể tướng thời vua Lê chúa Trịnh, vẫn xưng Trúc Lâm Cư sĩ. Trong bài Tam giáo nhất nguyên thuyết, ông trình bày quan điểm Tam giáo một nguồn: “…Tam giáo vẫn là một môn, ba dòng vẫn là một lý, vốn không phải như nước lửa, đen trắng, ngọt đắng có tính chất chống lại nhau … Thế mới biết Nho tức là Thích mà Thích tức là Nho. Đạo cũng là Nho mà Nho cũng là Đạo.” Cuối bài, ông kết luận: Ai hay Tam giáo bất đồng,/Thích-ca, Lão tử cùng dòng Nho Gia.


9. Toàn Nhật (1750? -1832?)

Sống khoảng đời Tây Sơn, Sư coi Tam giáo là một nhà, công dụng ở đời tuy khác nhưng lại hỗ trợ cho nhau trong việc giáo hóa, cứu độ, trị an dân chúng. Sư ví Tam giáo như ba ngả đường cùng dẫn về một đích điểm (đồng quy). Sư quan niệm Tam giáo không thể thiếu một, cũng như chiếc vạc phải đủ ba chân, bầu trời phải đủ mặt trời, mặt trăng và các vì sao (tam quang: nhật, nguyệt, tinh). Xã hội phải vững vàng ba mối quan hệ giữa người trị nước với dân, giữa cha với con, giữa vợ với chồng (tam cương: quân thần cương, phụ tử cương, phu thê cương).

Trong Hứa Sử truyện vãn, mượn lời Diêm vương nói với thầy tăng Hứa Sử, Sư bày tỏ quan điểm Tam giáo đồng quy: Phép xưa gầy dựng roi truyền,/Nho ra sửa trị đời nên thanh bình./Thích ra độ tử cứu sinh,/Đạo ra tẩn diệt mị tinh yêu tà./Thánh hiền phân chế làm ba,/Tam giáo so lại nhất gia khác gì./Cùng nhau tá trợ phò trì,/Ra đời giáo hóa ích thì lợi dân./Cũng như vạc có ba chân,/Trên trời thì có tam quang tỏ tường./Trong đời thì có tam cương,/Nếu mà khuyết một ghê đường gian nguy./Nói cho Thầy rõ kẻo nghi,/Đường tuy ba ngả cùng về một nơi.

Trong Tam giáo nguyên lưu ký, Sư viết: Cho nên Tam giáo Thánh nhân,/Tùy cơ thuyết pháp, ứng thân cứu nàn./Hễ trời thì có tam quang,/Đời có Tam giáo ba giềng tương thân./Ví như cái vạc ba chân,/Nếu mà khuyết một ngả nghiêng đâu còn./Vật trong vạc ấy chẳng toàn,/Ắt là trút đổ chỉn liền hư hao./Nho gia tỏ rõ như sao,/Chói lòa tinh đẩu ai nào chẳng hay./Đạo gia dường nguyệt tròn thay,/Bắc nam ánh giải, đông tây sáng ngời./Thích gia ví tợ mặt trời,/Đâu đâu soi thấu đời đời quang minh.


10. Giác Lâm (thế kỷ XIX)

Tì kheo sống dưới triều Minh Mệnh (1820-1841), tu chùa Hồng Phúc, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Trong tác phẩm Hồng mông Tạo hóa chư lục bản hạnh (gọi tắt Hồng mông hạnh), sư cho rằng Tam giáo vốn một nhà: Ba đạo cây cối một nhà,/Chi chi diệp diệp hằng hà vô biên./Những người thiểu học thất truyền,/Ngỡ là Nho giáo, Phật, Tiên khác dòng.


11. Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888)

Ông hiệu Trạch Phủ, quê làng Tân Khánh, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định. Bị mù, ngồi nhà dạy học, nên còn gọi Đồ Chiểu. Trong truyện thơ Lục Vân Tiên ông tạo ra chàng Nho sinh họ Lục: Đặt tên là Lục Vân Tiên,/Tuổi vừa hai tám nghề chuyên học hành./Theo thầy nấu sử sôi kinh,/Tháng ngày bao quản sân Trình lao đao. (Câu 9-12) Sau khi mù mắt, họ Lục nương thân cửa chùa (Phật) và được ông tiên (Lão) ban thuốc tiên chữa cho khỏi mù: Đoạn này tới thứ ra đời,/Vân Tiên thuở ấy ở nơi chùa chiền./Nửa đêm nằm thấy ông tiên,/Đem cho chén thuốc mắt liền sáng ra. (Câu 1665-1668) Tuy không trực tiếp phát biểu về Tam giáo đồng nguyên hay đồng tông, qua cách hư cấu truyện thơ Lục vân Tiên, Đồ Chiểu vẫn cho thấy tinh thần Tam giáo đề huề.

● ● ● ● ●

Tóm lại trải qua các triều đại, từ đầu thế kỷ XX trở ngược về trước, trong tâm thức người Việt, bất kể là vua quan, trí thức, thầy tu hay dân dã, đã in dấu Tam giáo với quan điểm bao dung, hòa đồng. Trước khi đạo Cao Đài ra đời, người Việt đã sẵn có các quan điểm về: (a) Tam giáo đồng nguyên hay Tam giáo nhất nguyên (cùng một nguồn phát sinh); (b) Tam giáo đồng tông (cùng một ông tổ sinh ra); (c) Tam giáo nhất gia (cùng một nhà); (d) Tam giáo đồng quy (cùng đi về một đích). Đây chính là điều kiện thuận lợi, ví như mảnh đất màu mỡ sẵn sàng phân nước, chỉ chờ hột giống Cao Đài gieo xuống là nhanh chóng nảy mầm. Và đúng như thế, đức Cao Đài đã mượn mảnh đất Tam giáo Việt Nam để gieo hạt, rồi tiếp tục vun phân tưới nước, tỉa tót lá cành cho cội cây Cao Đài càng thêm tươi tốt (thánh giáo tại Thiên Lý đàn, 03-02-1966):

Chính mình Thầy đến chốn Nam bang,

Mượn đất đem gieo mối Đạo vàng.

Tưới nước vun phân Nho, Thích, Lão,

Nâng cành, sửa lá, pháp hòa tăng . . .


Lê Anh Dũng
Trích: NGHIÊN CỨU VĂN HÓA CAO ĐÀI
Tâm Duyên chân thành cảm ơn.




Comments (3)

 

  1. Cao Quỳnh Tuệ Lâm says:

    Thưa chư Hiền !

    Tam Giáo Đồng Nguyên vốn sẵn từ thuở xa xưa nên kinh có câu “Một cội sanh ba nhánh in nhau “.

    Đối với Đạo Cao Đài không phải ĐỒNG mà là QUY . Khi nói về “Qui Tam Giáo” có người ưu tư về vấn đề chi phái mà than rằng : Đạo mình chưa qui, thì làm sao qui tam giáo !

    Vậy AI qui Tam Giáo ?

    Xin thưa :

    Mời xem bài sau đây :

    Ai Qui Tam Giáo
    Tôi thường nghe có người than : Đạo Cao Đài có nhiều chi phái quá ! Rồi đây làm sao qui Tam Giáo được. Vì vậy phải làm gương là, các chi phái phải thống nhứt trước để danh chánh ngôn thuận khi trao đổi thống nhứt các tôn giáo bạn hiện hữu về với Đạo Cao Đài.
    Tôi không nghĩ như vậy, xin mời chư huynh tỷ chớ quá ưu tư về việc [Qui Tam Giáo : Tam Giáo Qui Nguyên] .Hãy đọc lại đoạn Pháp Chánh Truyền về phần QUYỀN HÀNH CHƯỞNG PHÁP như sau :
    QUYỀN HÀNH CHƯỞNG PHÁP
    PHÁP CHÁNH TRUYỀN: Chưởng Pháp của ba Phái là: Đạo, Nho, Thích.
    CHÚ GIẢI: Nghĩa là: mỗi Phái là một vị, mà ba Đạo vẫn khác nhau, nội dung,
    ngoại dung, đều khác hẳn luật lệ vốn không đồng, chỉ nhờ Tân Luật làm cơ
    qui nhứt, cho nên Thầy mới nói.
    PHÁP CHÁNH TRUYỀN: “Pháp Luật Tam Giáo tuy phân biệt nhau,
    song trước mặt Thầy vẫn coi như một”.
    CHÚ GIẢI: Vì coi như một, nên Thầy mới đến cho nhơn loại lập Tân Luật , thế nào cho phù hạp với nhơn trí, hiệp tánh với nhơn tâm, chung chịu một Đạo Luật, có phương hành Đạo, chẳng nghịch với Thiên Điều, đặng lập vị mình dễ dàng, mới toàn câu phổ độ.
    Buổi trước thì Thiên Điều buộc nhơn loại phải nâng cao phẩm hạnh mình cho bằng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật, đặng đoạt đức tánh mà lập vị mình, còn nay thì các Đấng ấy lại hạ mình, đến cùng nhơn loại đặng dìu cả chơn hồn lên tột phẩm vị Thiêng Liêng, đến ngang bực cùng Thầy. Buổi buộc thì khó, buổi mở thì dễ, ấy là lẽ tự nhiên; huống chi nhơn trí ngày nay đã qua khỏi Ngươn “Tấn Hóa” thì đã tăng tiến lên địa vị tối cao; chủ nghĩa cựu luật của các Tôn Giáo không đủ sức kềm chế đức tin, mà hễ nhơn loại đã mất đức tin về đạo đức rồi, thì cơ tự diệt vốn còn, mà cơ tự diệt còn thì nhơn loại khó tránh khỏi cái nạn giết lẫn nhau cho đặng. Đời phải tùy Đạo mới còn, mà Đạo cũng phải tùy Đời mới vững, biết đâu Tân Luật ngày nay Thầy đã đến dạy chúng ta lập thành; trong thời gian tới nữa đây, nó sẽ phải thay đổi cho phù hạp với nhơn trí Đạo, Đời tương đắc. Mà dìu dắt cả nhơn sanh đời đời kiếp kiếp.
    Thí dụ: Như có kẻ hỏi: “Sao Thầy không dùng Cựu Luật trong Tam Giáo đã có sẵn rồi, lại lập chi Tân Luật nữa, mà buộc nhơn sanh phải yểm cựu nghinh tân vậy?”
    Ta lại đáp: “Chính Thầy đã giáng cơ nói: Ngọc Hư Cung bác luật, Lôi Âm Tự phá cổ; ấy vậy Cựu Luật thì Ngọc Hư Cung đã biếm bác, còn Cổ Pháp thì Lôi Âm Tự đã phá tiêu, vậy thì ngày nay Cựu Luật và Cổ Pháp chẳng còn ý vị chi hết. Những bực tu hành mà tưởng lầm phải tùng Cựu Luật hay là Cổ Pháp thì trái hẵn với Thiên Điều của Đ.Đ.T.K.P.Đ. thể Thiên hành chánh.
    Bởi cớ ấy nên CHÍ TÔN đã cấm ngũ chi phái Ngọc, dùng Cổ Luật mà mê hoặc nhơn sanh nữa.
    Hễ tùng Cựu Luật tức phải tùng Thiên Điều, mà hễ tùng Thiên Điều thì khó lập vị cho mình đặng”.
    Xin xem tiếp đây, thì thấy rõ Thầy đã quyết định điều ấy.
    PHÁP CHÁNH TRUYỀN: Vậy thì một thành ba, mà ba cũng như một.
    CHÚ GIẢI: Ấy vậy Tân Luật đã gồm trọn Tam Giáo, tức là một thành ba, mà ba Cựu Luật của Tam Giáo hiệp nhau thì cũng như một, nghĩa là: “Tân Luật”.
    Như vậy Đức Chí Tôn đã làm tất cả, Người đã mở lối cho chúng ta cứ đó mà đi. Nên Đức Chí Tôn đã nói : Thầy khuyên các con theo sau Thầy mà đến phẩm-vị mình thì hay hơn tuông bờ lướt bụi, đi quanh kiếm quất nghe à. [TNHT - 21-7-1926]
    Người chép : Cao Quỳnh Tuệ Lâm
    Phụng Thánh sưu tầm

  2. Tam Duyen says:

    Từ khai đạo mười hai chi phái,

    Rồi các con gẫm lại mà xem,

    Mỗi chi phải đúng chơn truyền,

    Ấy là thống nhứt trọn niềm đạo Cha.

    Con trước phải vẹn hòa vẹn thuận,

    Sự tương thân phải vẹn hòa nhau,

    Tương ái tương trợ một màu,

    Giáo dân vi thiện làm đầu cho xong.

    Chữ yêu thương một lòng sau trước,

    Con thi hành cho được vẹn thân,

    Thống nhứt nội bộ an toàn,

    Chơn truyền đi đúng tạo đoan định phần.

    Mỗi chi phái là thoàn bát nhã,

    Để độ người biết trả nghiệp căn,

    Độ người thoát cảnh nguy nàn,

    Đến nơi cực lạc thiên đàng nhàn thanh.

    Thống nhứt rồi sự lành sự phải,

    Đó là con tiến mãi sự tu,

    Dù cho bão tố mịt mù,

    Lòng con vững chắc khư khư mới là.

    Trước uy lực con mà tâm vững,

    Đem chánh chơn nhân nhượng vẹn toàn,

    Dù cho uy vũ [2] thế gian,

    Thì con cũng được vẹn thân buổi cùng.

    Được tự do sống chung đạo đức,

    Nếu chở che với sức của người,

    Như vầy khả ố thân người,

    Như vầy không vẹn thân thời hậu lai.

    Trước sự khổ không nài sự khổ,

    Trước khó khăn mọi chỗ gian nguy,

    Liều thân hành đạo Tam Kỳ,

    Không nài khổ khó bước đi theo Thầy.

    Trước sự sang trần ai quí quá,

    Con cũng đừng cho cả là sang,

    Nếu con vững chắc chèo thoàn,

    Lâm nguy khổ khó đừng màng sá thân.

    Thà chết đặng ngôi vàng quí trọng,

    Còn sướng hơn kiếp sống bùn nhơ,

    Cúi lòn khổ nhục từng giờ,

    Như vầy đâu được tự do đạo Thầy.

    Thầy đã vạch đường ngay ngỏ thẳng,

    Là chánh chơn cay đắng không sờn,

    Chánh chơn mới được bảo tồn,

    Con làm sự sái khó tròn đâu con.

    Dù che lấp bao niềm bao nỗi,

    Cũng có người biết tới lòng con,

    Sự tu lương thiện cho tròn,

    Thì con sẽ đặng bảo tồn hậu lai.

    Thống nhứt Thầy định ngày đã sẵn,

    Đúng chơn truyền mới đặng vẹn toàn,

    Đợi ngày lai hậu sắc ban,

    Thì con mới rõ mọi đàng qui nguyên.

    Hiện giờ đây chơn truyền nắm vững,

    Để độ người biết chữ tu thân,

    Đem về quê vị thanh nhàn,

    Thoát nơi ngục khổ đến đàng tân dân.

    Trích: Huấn từ của Đức CHÍ TÔN
    Thánh tịnh Bửu Quang Cảnh, ngày 21 tháng 4 năm Đại Đạo 34 Kỷ Hợi (28-5-1959)

  3. Thái Dương thanh says:

    Đạo nào cũng do Thầy chuyễn hóa.
    Thì các Con tất cả chung Cha.
    Sống sao giữ trọn chữ hòa.
    Thương yêu,nhẫn nhịn đó là chơn tu.
    Muốn thoát khỏi ngục tù trần tục.
    Về Thiên Đường hạnh phúc bình an.
    Ngày nay gian khổ chớ màng.
    Năng tri giác thế Niết Bàn cao ngai.
    Mười hai phái Cao Đài khai mở.
    Tùy các Con muốn ở phái nào.
    Phái nào thích hợp thì vào.
    Chơn truyền có Một đâu cao thấp gì.
    Đâu cũng gọi Tam Kỳ Phổ Độ.
    Đâu cũng Thầy danh ngộ Cao Đài.
    Bởi do mình lỡ lầm sai.
    Cho nên phải bị đọa đày xác thân.
    Lời Thầy dạy đâu cần lưu ý.
    Bởi mê trần con nghĩ lợi danh.
    Tu mà còn thích đua tranh.
    Có tiền có chức Con giành Con ham.
    Bởi do chỗ lòng tham không đáy.
    Con đâu tường lẽ phải điều hay.
    Cho nên tu mãi tu hoài.
    Mà không thấy được ngày mai huy hoàng.

Leave a Reply