TU PHÁP NÀO CHO KỊP HỘI LONG HOA

Mar 12, 10 | Tâm Duyên | 23,064 views | 15 Comments



Share |






Hinh Phat 11Phật Thích Ca và chư vị Bồ Tát đều công nhận pháp môn niệm Phật là một phương pháp dễ tu, dễ chứng hơn tất cả các pháp môn tu hành khác.

Dễ nhất là vì chỉ cần trì niệm sáu chữ “NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT” là đủ.

Thân tâm của Đức Thế Tôn khi nói pháp này là muốn cứu rỗi chúng sanh trong đời mạt pháp, phúc tuệ đã mỏng manh, nghiệp chướng lại sâu dày, vì quá mê nhiễm lạc thú của trần thế. Mặc dù dễ tu, dễ học, nhưng cứu cánh cũng là giải thoát khỏi nẻo sanh tử luân hồi. Song thử hỏi, có bao nhiêu người thực hành chơn chánh pháp tu quý báu ấy.

Có người hỏi, tụng kinh lễ bái, tụng niệm, ngồi thiền đủ thứ, mà còn ít thấy ai thành Phật được thay, nay niệm có sáu chữ, mà nói thành Phật rất dễ là sao?

Tôi xin thưa: Tụng niệm, lễ bái, gõ mõ, tụng kinh là hình thức bề ngoài, làm sao thành Phật cho được. Bất quá trong lúc ở trước cảnh trang nghiêm nơi bàn Phật, thì ba nghiệp (thân, khẩu, ý) của ta được thanh tịnh lúc đó mà thôi, chớ khi buông dùi mỏ, chuông ra rồi, thì đâu vẫn hườn đó. Vậy gõ mõ, tụng kinh là để buộc trói cái tâm lại, đừng cho nó buông lung phóng túng trong lúc đó mà thôi, chớ không phải cứu cánh để thành Phật.

Cũng có nhiều người chuyên ròng niệm Phật, mà cả đời vẫn không thấy Phật là tại sao?

Xin thưa:

Pháp môn niệm Phật hay pháp môn nào khác, nếu chỉ tu trong bốn thời (Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu) thì tôi dám quả quyết rằng không thành chi hết.

Bất luận pháp môn nào, muốn tu cho thành, ngoài công phu tứ thời ra, phải áp dụng luôn cả trong bốn oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi) trừ khi làm việc bằng trí óc mà thôi.

Những bậc tu rốt ráo, dù tiếp khách, làm việc, ngủ nghê, đạo tâm của họ cũng không rời sự tu hành.

Tu như vậy mới có cơ thành Phật.

Vậy niệm Phật không có tứ thời, niệm Phật phải đi, đứng, nằm, ngồi lúc nào cũng niệm hoài trong tâm không sơ hở. Trừ khi làm việc bằng trí óc, hoặc ngủ nghê, mỗi ngày ngưng niệm một lát trong lúc đó thôi. Nhưng sau này khi niệm Phật quen rồi, lúc ngủ tiềm thức của ta vẫn niệm như thường.

Chúng ta niệm Phật như thế, có cái lợi rất lớn, là lúc nào cũng ngăn liền tức khắc lòng tà của ta vừa chớm dậy, chớ không để cho nó bộc lộ ra ngoài cử chỉ và hành vi của ta.

Thí dụ: Khi ta đi ngang qua một cây ớt, một cây cà, cậy mận v.v… Ta thấy trái chín bóng lưỡng coi ngon quá, nên ta muốn hái về ăn. Nhưng khi ta vừa thò tay để hái, thì bổng nghe văng vẳng tiếng niệm Phật ở trong tâm ta đưa ra, ta vội rụt tay lại liền. Trong lúc ấy tâm ta nói với ta: “Phật không làm như vậy đa. Muốn ăn hãy trồng mà ăn, hoặc mua mà ăn, cùng chẳng đã hãy xin, chứ không được hái lén như vậy đâu”.

Khi ta thấy người đi đường làm rớt cái bóp, ta muốn nhặt lấy để xài, liền nghe văng vẳng tiếng niệm Phật trong tâm ta vọng ra, thì ta liền nghĩ: “Phật không lấy của cải ai cả, phải gọi người trở lại lượm đi”. Tức thì ta lên tiếng gọi người làm rớt cái bóp để cho họ hay.

Khi có người đạp nhầm chân ta đau quá, ta vụt nổi sân, định la lên cho hả cơn giận. Nhưng văng vẳng nghe tiếng niệm Phật trong lòng ta vang ra, tâm ta liền nói: “Phật phải từ bi, hỷ xả, chứ không biết giận ai”. Ta liền mỉm cười vui vẻ, vì ta biết đó là do sự rủi ro, chớ không ai muốn như thế.

Khi ta muốn giết một con vật để ăn thịt, bỗng tai ta nghe tiếng niệm Phật, khiến ta nhớ: “Phật từ bi thương xót tất cả chúng sanh, từ loài người cho đến loài vật. Loài vật cũng biết đau đớn rên la, tham sống sợ chết như ta”. Khiến cho lòng muốn ăn của ta tiêu tan, nên ta không thể giết nó được.

Khi ta thấy một người đẹp đi ngang qua, dâm ý của ta mống lên, liền bị tiếng niệm Phật như nhắc nhở ta: Phật không mê sắc đâu, Phật phải trang nghiêm minh chánh. Tiếng nói của lương tri (nhà Phật gọi kiến tánh) khiến cho lòng dục của ta phải tiêu tan ngay.

Khi ta muốn nói láo, hay nói lời đâm thọc, rủa sả, cộc cằn, hoặc nói điều chi có hại cho ai, thì tiếng niệm Phật ngăn ta lại liền, không cho ta thốt điều chi bất chánh.

Niệm Phật, trước một người đau, một kẻ đói, ta không thể làm ngơ mà bỏ đi luôn được. Thế nào ta cũng phải tìm cách giúp đỡ cho họ một ít tiền nong, hoặc gạo thuốc v.v…

Vậy tiếng niệm Phật rất nhiệm mầu, nếu hành đúng phương pháp, nó sẽ làm cho người dữ hoá hiền, kẻ xấu thành tốt, kẻ nóng thành nguội. Tiếng niệm Phật gợi nơi Phật tử lòng từ bi hỷ xả, khiến cho kẻ đói được no, kẻ rách được lành, kẻ đau được mạnh, kẻ thù hoá bạn v.v…

Tiếng niệm Phật như cây gươm linh: Gươm ấy chực sẵn, lúc nào cũng rình tà niệm vừa tượng trứng, là chém liền chớ không để nó có thì giờ sinh nở.

Bởi vậy, người niệm Phật không tranh hơn thua, cao thấp, không chấp ngã nhơn, thân hòa đồng trụ, khẩu hòa vô tranh, chia cơm xẻ áo, thuận thảo thương yêu, lúc nào cũng hòa mình với bá tánh, chớ không sống ích kỷ riêng tư cho mình.

Tiếng niệm Phật ngăn chận vô số hành vi và tư tưởng xấu thuộc thân, khẩu, ý không cho phát sanh.

Pháp môn niệm Phật có kết quả phi thường, nên chư Phật, chư Bồ tát đều công nhận là pháp môn cao nhất trong tất cả pháp môn. Nhưng cần phải niệm niệm không dứt, phải niệm tối ngày không nghỉ, trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi chớ không như các pháp môn khác, phải đợi tới chiều mới tham thiền quán tưởng, xét nét lại công chuyện của mình đã làm từ sáng tới tối, coi được bao nhiêu điều thiện, để ngày mai tiếp tục làm thêm, còn điều ác phải chừa bỏ.

Bởi vậy, có nhiều khi chiều ngồi lại, để tham thiền quán tưởng lại những điều phải quấy trong ngày đó, thì con gà bị ta cắt cổ ban sáng, bây giờ nó cũng không sống lại được. Có khi mình đã được mời vào ngồi trong khám, để quán tưởng lại sự lỗi lầm của mình đã làm lúc trưa thì đã muộn rồi.

Trái lại, đối với pháp môn niệm Phật, hễ tà niệm trong tâm vừa chớm nở là bị ta trừ liền, không cho nó kịp xúi bảo ta đem ra hành động. Nhưng ta phải niệm Phật cho liên tục, đừng cho đứt khoảng. Vì nếu đứt khoảng sẽ bị giặc thất tình, lục dục nó xâm chiếm ngay, cũng như ta làm hàng rào phải cậm cây cho liên tiếp, chớ chỗ cậm chỗ không, thì gà vịt sẽ do lỗ trống đó vô bươi phá tiêu hết rẩy bái.

Vậy tôi xin lập lại một lần nữa, là đối với pháp môn niệm Phật, ta phải niệm luôn trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi, chớ không được chỉ dùng về tứ thời để niệm Phật, vì làm như vậy tu không thấy kết quả đâu.

Ban đầu ta thấy niệm rất khó khăn, quên tới quên lui, khi niệm khi không, nhưng ráng trì chí riết rồi nó sẽ quen. Trong lúc ăn, lúc uống, rửa chén, quét nhà, tắm rửa, chặt cây, cuốc đất, hoặc bất cứ làm công chuyện chi, cho đến lúc đi tiểu, đi đại gì cũng cứ niệm luôn.

Niệm Phật là tâm niệm chớ chẳng phải miệng niệm. Thế nên đừng niệm ra tiếng và ta cứ niệm mãi, niệm hoài để tống khứ cho hết các thứ Ma Vương yêu quỉ. Chừng nào Ma Vương thất tình, lục dục không còn, chừng đó sẽ thấy Phật tới liền. Bởi vì Phật và Ma Vương không thể ở chung được đâu: hễ ta đuổi Ma Vương đi hết thì Phật đến. Trong kinh có câu:

Tam nghiệp tịnh thì Phật xuất thế,

Tam nghiệp bất tịnh, Phật nhập diệt. (1)

Chú thích: (1) Ba nghiệp (thân, khẩu, ý) được trong sạch thì Phật đến. Ba nghiệp không trong sạch thì Phật đi.

Tiếng niệm Phật sẽ nhắc nhở cho ta luôn: thấy việc ác đừng làm, thấy việc thiện chớ bỏ qua, tâm ta lúc nào cũng thanh tịnh sáng suốt, ngoại cảnh sẽ không chi phối ta được, thất tình lục dục sẽ không còn xâm chiếm để sai khiến ta. Niệm Phật như vậy là ngoài thiền trong định.

Ngoài không nhiễm cảnh là thiền,

Trong không rối loạn là định.

Vậy đối với pháp môn niệm Phật, đi, đứng, nằm, ngồi gì ta cũng đều thiền định cả, chớ không chấp tướng ngồi mới thiền định được. Lại nữa, ta chung đụng với thiên hạ mà ta thiền được, định được, đó mới là cái thiền định chắc chắn, lo gì trí huệ không sanh, lo gì không thành Phật.

Với pháp môn niệm Phật, lúc nào ta cũng quán xét, lúc nào ta cũng phân biệt thiện ác, lúc nào ta cũng làm chủ tâm mình, đó là một tiếng chuông, một tiếng nói vô hình của Đức Phật A Di Đà nhắc nhở, giữ gìn ta luôn. Đến một ngày kia, tâm ta được chùi lau sáng sủa, chừng đó lòng hằng sanh trí huệ, lại thắm nhuần đức Bác Ái, Từ Bi, Hỉ Xả, thì chừng đó niệm Phật tưởng cũng bằng thừa. Bởi vì mỗi ý chí, mỗi hành vi, mỗi lời nói đều tương ưng với Phật. Tương ưng với Phật là hiệp nhứt với Phật, là đồng thể với Phật. Tánh Phật là tánh chơn không bát nhã, tức là sáng suốt chẳng mê luyến, chẳng ái trước sắc trần. Nếu ta thi thố chuyện chi đi nữa, cũng là tuỳ duyên chớ chẳng hề ô nhiễm. Duyên qua rồi thì trở lại như như, không chấp nê, không dính mắc. Lúc đó là lúc không còn niệm nữa, lúc đó là cảnh Tây Phương hiện ra trước mắt. Chừng ấy thì nhứt cú Di Đà vô biệt niệm bất lao đàn chỉ đáo Tây Phương. (Một câu Di Đà không tướng khác, chẳng nhọc khảy tay đến Tây Phương).

Vậy hành pháp môn niệm Phật, y như tôi vừa kể trên, thì chắc chắn thành Phật, mười người đủ mười. Trái lại, không niệm như thế, thì niệm Phật đến hết đời này, qua đến vô số kiếp sau cũng không sao thành Phật được.

Đời mạt pháp này, không có pháp môn nào hơn pháp môn niệm Phật hết, chư Phật đều nói như thế, vì rất dễ hành lại rất dễ chứng. Nếu ta niệm đúng cách, nghĩa là phải dùng câu niệm Phật để trau tâm sửa tánh, tà niệm không còn phát sanh, tham sân si diệt được, thì thất tình lục dục cũng phải tiêu theo, sẽ đắc quả thành Phật.

Pháp môn niệm Phật thực hiện “Phước huệ song tu”, vì vừa sửa mình vừa giúp đời, thử hỏi còn pháp môn nào cao hơn.

Bởi thế gian phần nhiều niệm Phật ngoài miệng, cho nên ít ai thành Phật là vậy.

Niệm Phật ngoài miệng đẩy đưa,

Tật hư chẳng bỏ tương dưa ích gì.

Niệm Phật diệt tham sân si,

Thất tình lục dục tống đi cho rồi.

Niệm thế mới đúng ai ôi,

Niệm ngoài cửa miệng lôi thôi thêm rầy.

Miệng tâm hòa một mới hay,

Trong ngoài tu cả Phật rày mới linh.

Niệm sao dứt nghiệp sát sinh,

Để cho thế giới thái bình an vui.

Niệm sao cứu khổ ban vui,

Chớ không phải để ngược xuôi bao giờ.

Niệm Phật không kể thân sơ,

Thấy người đau đói làm ngơ sao đành.

Niệm Phật lánh dữ làm lành,

Chớ đừng mê lợi, mê danh, mê tình.

Niệm Phật quyết đặng vãng sinh,

Ăn chay, giữ giới tội tình lánh xa.

Niệm Phật giữ một chữ hòa,

Không tranh hơn kém nhà nhà vui tươi.

Niệm Phật thuận thảo ai ơi,

Bỏ đi những chuyện tranh ngôi tranh quyền.

Niệm Phật lòng dạ cho chuyên,

Quyền cao lợi lớn là thuyền mong manh.

Niệm Phật phải dứt tương tranh,

Mê đời cặn bã hôi tanh làm gì.

Niệm Phật chớ có hồ nghi,

Tín tâm bền chặt nguyện ghi vào lòng.

Niệm Phật chớ có ghi công, (1)

Phật nào gian lận mà hòng kể ra.

Niệm Phật việc ác tránh xa,

Việc lành cố gắng hiện ra bề ngoài.

Thực hành từ thiện không sai,

Liên đài để sẵn chờ ngày vãng sanh.

Chú thích: (1) Ghi công cứ

Đời mỏng manh lắm rồi, anh chị em hãy ráng:

Đi đứng niệm Di Đà , nằm ngồi trì lục tự,

Thức cũng tưởng A Di, ngủ cũng ghi sáu chữ.

Nói cũng tưởng Nam Mô, nín cũng ôn Phật sự,

Cực lạc muốn vãng sanh, cứ y hành như thử.

Ở chỗ vắng người, cũng như nơi đô hội,

Bình tĩnh niệm A Di, chăm nom Bồ đề cội,

Nếu tà ý còn sanh, bởi nội tâm còn rối,

Khéo điều khiển lòng mình, đường Tây Phương một lối.


Tâm Duyên chân thành cảm ơn Cư sĩ Giác Ngộ


TU MAU KẺO TRỄ


HoiLongHoa


Comments (15)

 

  1. Một Cao Đài says:

    CHÚNG SANH NÀO? NÓ Ở NƠI ĐÂU?

    Chúng Sanh nào phải nơi đâu?
    Nó là: Tâm Ý đang ngồi thở than.
    Chúng sanh suy nghĩ muôn ngàn,
    Phân phân biệt biệt lỡ làng đường tu.
    Chúng sanh than nặng nghiệp mù,
    Tự sinh uể oải công phu không chừng.
    Chúng Sanh so tính không ngừng,
    Nhìn trên Tự Ngã thêm lừng hiên ngang.
    Lười biếng mong Phật khải hoàn,
    Sớm chiều hoài vọng, ngang hàng Thế Tôn.
    Vì còn lưu nghiệp căn tồn,
    Bậc tu Soi Sửa liền mòn chúng sanh,
    Đạo Tràng bảo pháp dịu lành,
    Bản năng lìa muốn, vạn ngành viên thông.

    TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN ( 20-02-1971 )

  2. Long Hoa Hội says:

    Công Thức tính ra ngày Tận Thế , Ngày Hội Long Hoa , Ngày Cứu Thế của nhân loại 21 tây tháng 12 năm 2012:
    ( Đệ Tam Thế Chiến , Đại Hồng Thủy , Động Đất . Địa Cầu Đổi Trục , Ngày Hội Long Hoa).

    A) Tính theo thái ất :

    1) Trong Bát quái có 8 quẻ ( càn khản cấn chấn tốn ly khôn đoài) biến ra 8 x 8 = 64 quẻ căn bản của thái ất .
    2) mỗi quẻ có 6 hào = 64 x 6 = 384 ngày = 1 năm 29 ngày .
    3) 384 x 64 quẻ biến hóa = 24576 ngày = 67 năm 3 tháng
    4) ngày 21-tháng 12 năm 2012 – ngày 5 tây tháng 9 năm 1945 ( đệ nhị thế chiến chết hơn 50 triệu người) = 67 năm 3 tháng.

    B) Tính Theo Sấm Giảng Người đời trước năm 1975 :

    Năm nhâm thìn có sử thay đổi địa hình của nước Việt Nam và của thế giới.

    1) Năm mẹo tháng mẹo chưa giàu ( năm mẹo 1975 , tháng mẹo tháng 4 = 30 – 4 -1975 ngày mất nước)
    2) Năm mẹo tháng hợi lệ tuôn đầm đề ( năm mẹo 1975 , tháng hợi tháng 12, = ngày đổi tiền chế độ cũ
    3) Ấy mà chưa mấy ủ ê ( nhưng chưa phải là yên ổn đâu )
    4) Đến khi Rồng lộn ê hề tây thi( năm rồng = 2012 sự thay đổi địa hình của nước Việt Nam )
    ( 2009 kỷ sửu , 2010 canh dần , 2011 tân mão , 2012 nhâm thìn ( rồng nước)

    C) Sấm Giảng Ngưòi Đời trước 1975 :

    1) Hồ ẩn sơn trung Mao Tận bạch ( sau khi Hồ ( Hồ Chí Minh mất) Mao ( Mao Trạch Động mất)
    2) Kình ngư hải ngoại huyết lưu hồng ( trận chiến về biển)
    3) Kê minh Ngọc thụ thiên khuynh bắc ( Kê là gà là tháng 8 trời làm sập đất bắc)
    4) Ngưu xuất lam điền nhập chính đông ( Phía đông có thánh vương ra đời )

    D) Sấm giảng của GS Kim 1982:

    1) Hiện nay có cửu long đuôi tại miền nam nước Việt
    2) Đầu rồng đội phía bắc Tây Tạng nơi Đức Phật Sanh ra .
    3) Đến khi rồng lộn chín đuôi rồng của nam việt nam trở thành 9 đầu rồng
    4) Thánh Địa sẽ có cung vàng điện ngọc trồi lên tại thất sơn, là nơi khai hội Long Hoa

    E) Hội Long hoa tại Việt nam 2012

    1) Năm 2012 là năm con rồng ( Long )
    2) Một năm vun sới tâm điền nở Hoa ( Hoa)
    3) Một nơi các bật chân tu qui Hội ( Hội )
    4) Long Hoa Hội khai mở tại Việt Nam 2012

  3. Người Hữu Duyên says:

    Trong kinh “Ðại Thừa Chơn Giáo,” phẩm “Dưỡng Sanh Tánh Mạng,” Thầy, tức Ngọc Hoàng Thượng Ðế, đã có dạy như sau:

    Các con khá biết:

    Ðạo có ba ngươn, ba ngươn ấy là cái số cuối cùng của Trời, Ðất. Trước hết mở đầu là Thượng Ngươn. Thượng ngươn đây chính là Ngươn Tạo Hóa, là ngươn đã gầy dựng cả Càn Khôn Võ Trụ.

    Vậy khi mới tạo Thiên lập Ðịa, nhơn loại sanh ra thì tánh chất con người rất đổi hồn hồn ngạc ngạc, còn đang thuần phát thiện lương, nên chi cứ thuận tùng Thiên lý mà hòa hiệp dưới trên, tương thân tương ái. Thời kỳ ấy người người đồng hấp thụ khí thiên nhiên, nên hằng cộng hưởng thanh nhàn khoái lạc mà vui say mùi Ðạo tháng ngày. Bởi đó đời thượng cổ mới có danh là đời Thượng Ðức, mà Thượng Ngươn ấy cũng kêu là ngươn Thánh Ðức nữa.

    Kế đó bước qua Trung Ngươn thì nhơn tâm bất nhứt, tập quán theo thói đời, thâm nhiễm những nết xấu mới làm cho xa mất điểm thiện lương, bèn cậy ở sức mình mà hiếp bức lấy nhau, chém giết lẫn nhau, tương sát, tương tàn, mạnh còn yếu mất thì mới sanh ra biết bao trường huyết chiến, không còn kể đồng loại, đồng chủng, đã lợt tình đồng nghĩa, đồng bào. Bởi đó đời trung cổ mới có danh là đời Thượng Lực, mà Trung Ngươn ấy cũng kêu là ngươn Tranh Ðấu nữa.

    Tiếp đến Hạ Ngươn, sự tranh đấu ngày càng ráo riết, dữ tợn, gớm ghê thì nhơn loại lại chê sức mạnh mà dùng não cân nên mới bày ra chước quỉ, mưu tà, kế sâu, bẩy độc, thiệt là khốc liệt phi thường. Song đó cũng lẽ tự nhiên, càng tranh đấu mới càng tấn hóa. Ngặt càng tranh đấu lắm lại càng ác liệt lắm, nên tranh đấu thét phải đến ngay thời kỳ tiêu diệt. Bởi đó đời hiện tại là đời Mạt Kiếp, còn Hạ Ngươn này là ngươn Ðiêu Tàn.

    Nhưng hễ loạn là tới trị, vong tất phục hưng, nên ngươn tiêu diệt tất sẽ bước đến ngươn bảo tồn là ngươn Ðạo đức phục hưng, để sắp lập lại như đời thượng cổ, thế nên cũng gọi là ngươn Tái Tạo.

    Vậy nhơn loại bước qua thời kỳ này là thời kỳ qui nhứt thống, đại luân hồi của Thiên Ðịa đó. Mà ngày nay đã đúng số nhứt định của Tạo Ðoan, đã tới ngươn cuối cùng của Thiên Ðịa, vì tính ra thì đã mười hai muôn chín ngàn sáu trăm năm, nên đã tới thời kỳ tạo Thiên lập Ðịa một lần nữa.

    Các con, ngày nay Thầy đã đến đây rồi là Thầy muốn ngửa tay ra mà tế độ các con. Vậy các con phải nương níu lấy Ðạo mầu, rán luyện chơn tánh cho thuần dương thì ắt tránh khỏi cuộc dinh hư tiêu trưởng của đời sắp đến, nghe các con!

    “Ðại Thừa Chơn Giáo” phẩm “Dưỡng Sanh Tánh Mạng”

  4. Cao Quỳnh Tuệ Lâm says:

    Kính thưa chư Hiền !
    Theo suy gẫm bản thân, Long Hoa Hội đã mở ra sau ngày đất nươc Việt Nam thống nhứt .

    Chư Hiền thử nhớ lại, biết bao chuyện diễn ra để chúng ta suy gẫm : người tu nhiều hơn, nhiều giàu hiện nay lo làm từ thiện, lo vui chơi đủ trò . . . tất cả như là ” trăm hoa đua nở” .

    Có điều, đa phần huynh đệ mong Long Hoa tới, mà lại sợ Long Hoa ?! Tìm phưong tu là sợ rồi .

    Hãy bình an. Nếu ai là tín đồ Cao Đài, là học trò Đức Thượng Đế, xin hãy dâng hiến như khi dâng Tam Bửu :

    “Con xin dâng mảnh hình hài, trí thức tinh thần và linh hồn của con cho Đức Chí Tôn dùng phương nào thì dùng.
    Cả linh hồn, trí não và hình hài do Thầy đào tạo, đó là của Thầy, thì do quyền độc đoán của Thấy định”.

    Nếu tuyệt tin thì bao nhiêu nhiêu Long Hoa cũng có quan trọng gì đâu ! Là tín đồ Đạo Cao Đài huynh tỷ muốn làm con yêu Thầy Mẹ Vạn Linh hay muốn sống lâu dài nơi địa cầu 68 này . Không sợ Long Hoa thì đâu cần tu pháp này, pháp nọ. Đã giao trọn cho Đức Chí Tôn dùng quyền “độc đoàn định” .

    Nếu trả lời câu ” Tu pháp môn nào cho kịp Long Hoa ? . Xin thưa, tạm gọi là Pháp môn : DÂNG HIẾN vậy .

  5. Phuong Nguyen says:

    Lão: THÁI BẠCH KIM TINH kiêm GIÁO TÔNG ÐẠI ÐẠO.

    Nay Lão xin sơ lược mấy lời diễn tả qua các nội dung của công cuộc Long Hoa Ðại Hội: Thời nhiệm ấy khởi đầu khai mạc từ Nhứt ngoạt, Thập Ngũ nhựt, Kỷ Mùi niên (15-1-1979). Cuộc Ðại Hội sẽ còn tiếp diễn đến Thập ngoạt, Thập Ngũ nhựt, Giáp Tý niên (15-10-1985), tức là lục niên thời nhiệm hội. Kể từ khi Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ Thiên Khai tức là Cao Ðài Ðại Ðạo Nam Phương Việt Nam sơ khai đúng vào Giáp Tý hiệu niên, tây lịch nhằm 1924, đến bây giờ đã ngũ thập lục (56) niên. Ðức Chí Tôn có dạy rằng: Mối Cao Ðài Ðại Ðạo Tam Kỳ khai môn độ thế. Vì đến cận thời kỳ tam ngươn mạt hậu, đại hội Long Hoa sẽ diễn hành nhằm vào cuối thế kỷ 20 tức là chu kỳ của mười ngàn (10000) năm thế hệ.

    Mục đích cuộc Ðại Hội Long Hoa, tức là một cuộc phán đoán đại đồng của Ðức Chúa Trời trong tất cả toàn cõi từ vô vi lẫn hữu hình không riêng biệt. Chung qui từ ba ngàn thế giái, thất thập nhị địa tức là 72 cõi hành tinh và 36 cõi trời gọi chung là Bộ Châu Tứ Ðại. Ðặc quyền ngự trị tối đại một Ðấng Tối Cao quản cai toàn thể tức là một Ðấng Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Ðế.

    … Nhiệm kỳ khai diễn Ðại Hội Long Hoa trong vòng lục niên. Thời gian ấy chia thành 3 giai đoạn:

    1) Giai đoạn thứ nhứt: Gồm có nhị niên. Thời gian ấy dành cho Tam Giáo Thượng Tòa sắp xếp các công cuộc đặc trách về qui nguyên, khai đường phổ độ truyền Ðạo khẩn thiết để vớt cứu sanh linh cho kịp kỳ thế diệt. Dụng máy huyền vi hạ điển Tiên Thiên mầu nhiệm tận cõi giái trung mà sáng soi mọi đường chơn lý…

    Vì nay là thời kỳ Ðại Ân Xá, nếu người thế tục đã hiểu rành mà bồi công lập đức thì chẳng có gì hơn. Long Hoa Ðại Hội vốn là một cơ hội thi đức, thi công, một thời kỳ phán xét chung mảy lông không hề lọt. Sau khi phán xét xong có thưởng phạt rồi thì các bộ sổ đều xóa bỏ để lập lại cái mới.

    2) Thời nhiệm thứ hai: Là thời nhiệm phán xét đến toàn cõi giái trung, các bộ sổ vô vi khắp 12 cõi trung thiên và thưởng phạt đến cõi thế giới hữu hình địa cầu thứ 67 nầy, tức là cõi thế giới hiện tại giữa nhân vật cõi trần xã hội của nhân loại ngày nay.

    3) Thời nhiệm thứ ba: Sẽ phán đoán đến 12 cõi Hạ Thiên Vương, Thập Ðiện Minh Vương khâm trình bộ sổ tại cõi địa ngục từ nhiệm thời mười ngàn (10000) năm đến nay. Sau khi cuộc phán đoán đã hoàn tất thì 10 cửa ngục môn sẽ bắt đầu bế tắc. Các linh hồn phạm tội sẽ bị đời đời khó mong giải thoát! Thượng Cổ lập đời mười ngàn (10000) năm tương lai sẽ có định kỳ cho thế hệ khác.

    Ngày 5, tháng 10, năm Kỷ Mùi (1979) tại Thiên Lý Bửu Tòa, San Jose, USA

  6. Tam Duyen says:

    Question: Tu Pháp Nào Cho Kịp Hội Long Hoa?
    Answer: Pháp Hít Thở

    Đạo: Động Tịnh, Âm Dương lên xuống,

    Đem vào người, bao cuốn Hậu-Thiên,

    Dẫn thông: xuất nhập liền liền,

    Hư-Vô Chi-Khí nơi miền hư không.

    Huyền-Khí hư-không thông nội thể,

    Huyền-Khí trong thân thể tiếp giao,

    Hậu-Thiên Chi-Khí nhập vào,

    Hạo-Nhiên, Huyền-Khí, khi nào rời xa.

    Mất Huyền-Khí ắt là phải thác,

    Làm làm sao cướp đoạt Đất Trời,

    Đem vào thân xác đều nơi,

    Ngưng Thần, tựu khí, dưỡng thời Hạo-Nhiên.

    Dụng Thần-Công: vận chuyền Hạo-Khí,

    Bát-Bửu Kim-Đơn: Quí, Nhâm Thành,

    Thánh-Thai hườn tựu dương sanh,

    Dương-Thần siêu xuất, bia danh bảng vàng.

    Khá Tịnh Luyện, mới an Thần, Khí,

    Ngoại Thận lai: chỉ thị Kim-Đơn,

    Đem vào Huyệt-Khí thiệt hơn,

    Không nhầm Huyệt-Khí, hiệp hườn lại tan.

    Kịp ngày giờ Kim-Đơn đắc Dược,

    Vận Châu-Thiên, tầm thước có chừng,

    Dược-Miêu: giữ đúng chớ đừng,

    Non, Già, quá sức, mau ngừng không nên!

    Tinh, Khí, Thần: ban đêm lại Cật,

    Bạch nhựt thì Ba Chất khác nhau,

    Lỗ Tai: Tinh ngự Âm hao,

    Khí nơi Lỗ-Miệng, Thần vào Nhãn-Quang.

    Dụng Chơn-Ý: thâu sang Ba Nhánh,

    Tinh, Khí, Thần, Kim-Đảnh tựu vào,

    Tam-Huê Tựu-Đảnh hiệp nhau,

    Triều-Ngươn Ngũ-Khí, phải nào khó sao?

    Ban ngày Kim-Khí vào nơi Mắt,

    Mộc-Khí toan cất đặt Lỗ-Tai,

    Thủy-Khí Lỗ-Miệng trấn rày,

    Ngoài Da Thổ-Khí, chẳng sai chẳng rời.

    Còn Hòa-Khí qui nơi Lỗ-Miệng,

    Ban đêm thì thay chuyển việc nhau,

    Phổi nơi Kim-Khí tựu vào,

    Gan do Mộc-Khí, Thủy bao Cật rành.

    Tâm: Hỏa-Khí, Thổ giành Bao-Tử,

    Ngũ-Khí luân, khó giữ cho tròn,

    Mỗi ngày phải kém phải mòn,

    Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận, còn chuyển xây.

    Nếu người được gặp Thầy chỉ biểu,

    Dụng Hồi-Quang, Phản-Chiếu, chỉ rành,

    Huyền-Quan-Khiếu, tựu Ngũ-Hành,

    Triều-Ngươn Ngũ-Khí: ắt thành người ôi!

    Khi Ngoại-Đơn: thành rồi Thể-Dược,

    Trung-Đơn-Điền: phục thực quá quang,

    Châu-Thiên dụng một rõ ràng,

    Quái-Hào Tam-Bá: thông tàng khá ghi.

    Linh-Thai kết, phải thì nên dụng,

    Hai Châu-Thiên, công dụng biến sanh,

    Hỏa-Hầu, Lục-Bá kết thành,

    Thai hoàn, Thần xuất, bỏ đành Châu-Thiên.

    Trái, Mặt, Đường: Tả truyền, Hữu chuyển,

    Tam-Thập-Lục Hầu luyện đúng, Sinh,

    Hữu truyền, Tả chuyển đinh ninh,

    Hầu, Hai-Mươi-Bốn, tua gìn lời phân.

    Tấn-Dương-Hỏa, năng cần gìn Tý,

    Tứ-Điệp tàn: thẳng chỉ Bốn-Giờ,

    Sửu, Dần, Thìn, Tị, ban sơ,

    Mùi, Thân, Tuất, Hợi, thờ ơ chuyển lần.

    Ấy phải gắng: giờ phân làm Sáu,

    Thể Mu-Ni, phải thạo Hai-Hầu,

    Qui-Lư, Thể-Dược, Một Hầu,

    Vân-Hành, Thể-Thủ, Một Hầu nữa xong.

    Tứ-Hầu dụng: Thần-Công biến chuyển,

    ”Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu” luyện Pháp-Xa,

    ”Pháp, Tài, Lữ, Địa” tỏ ra,

    Đơn-Điền Chơn-Huyết, Huỳnh-Hà Kim-Ô.

    Giữ Nhủ-Phòng: ly đồ Sanh-Khí,

    Trãm Xích-Long, chứng chỉ Pháp-Thông,

    Hống-Dương, Diên-Bị, để lòng,

    Song-Quan: Giáp Tích, Côn-Lôn: Khiếu Huyền.

    Chỉ Chơn-Quyết, Thiên truyền huyền diệu,

    Luyện Huyền-Cơ: rán hiểu, rán nghe,

    Minh minh, yểu yểu, dặt dè,

    Lặng êm Đại-Định, khắc khe với lòng.

    Thập-Ngoạt Hoài-Thai: ròng Thực-Khí,

    Trăm Mạch đều Định-Chỉ tựu ngưng,

    Tam-Niên Nhủ-Bộ lần lần,

    Cửu-Niên Diện-Bích, Dương-Thần xuất ra.

    Tam-Quan, Cửu-Khiếu là Kinh-Lộ,

    Sau Đơn-Điền, thật chỗ Luyện-Đơn,

    Huyền-Quan: Trung-Khiếu hiện Chơn,

    Phật Tiên sanh biến do đường Huyền-Quan.

    Khi Nhập-Định, lần sang bớt thở,

    Bế Tức là: bằng cớ trong Tư,

    Đem Tam-Bửu, nhập vào Lư,

    Phản-Quang đừng để chảy dư ra ngoài.

    Thâu nhập Khí-Huyệt ngay, ngưng rõ,

    Lửa quẻ Ly, lần nhỏ quẻ Khôn,

    Hỏa-Âm lần xuống Hạ-Đơn,

    Kim-Hành hỏa bức, Chánh-Chơn phép mầu.

    Hư-Cực Tịnh-Đốc, Châu-Thiên vận,

    Khí Dương sanh, định phận luyện Đơn,

    Giáp vòng: Đầu Linh qui hườn,

    Hạ-Đơn thâu Khí, Kim-Đơn kết thành!

    Thời Mẹo, Dậu: biến sanh Mộc-Dục,

    Trước Trúc-Cơ là lúc Huân-Chuân,

    Nhị-Trì, Khí minh Tịnh ngưng,

    Dưỡng Thai, diện bích, ôn thuần Đại-Châu.

    Âm-Tinh là: Tinh-Thần Ngũ-Cốc,

    Khí Tốn-Phong dùng lọc nấu ra,

    Ngưng Thần, Thác-Thược thổi qua,

    Đem Hơi trở lại, qui Nhà nghe con!

    Luyện Cốc-Tinh, phải tròn Hô-Hấp,

    Mồ-Thổ nơi Giáp-Tháp đều đều,

    Khí hồi Khí-Huyệt riu-riu,

    Thần-Tri Dược sản, dẫn đều Châu-Thiên.

    Huyền-Khí trong liền liền sanh dưỡng,

    Ra Ngươn-Tinh: Chơn-Chưởng thuốc hay,

    Tịnh là: Huyệt-Khí rõ thay,

    Ngươn-Tinh Thuốc đóng, chẳng sai ly hào.

    Nhứt-Dương sơ Động: vào Khí đóng,

    Chơn-Nhơn dụng ý, ngóng Quan-Ngươn,

    Hậu-Thiên: Hô-Hấp Tức-Chơn,

    Khôn-Trung, thật Tốn-Phong Sơn: ắt nguy.

    Điều Ngoại-Dược, Tâm tri vận luyện,

    Dìu đến Dương-Quan, chuyển lao xao,

    Nghịch hành ấy lúc đi vào,

    Vận hành Tiêu-Dược, rạt rào sanh sanh.

    Hào-Quang sẽ phóng Thanh nơi Mắt,

    Hai Lỗ-Tai gió hắt ào ào,

    Ót thì tiếng động phía sau,

    Hơi trong Huyệt-Khí khác nào nước sôi.

    Nội Đơn-Điền Khí-Hơi liên tiếp,

    Chạy vòng quanh, thẳng kịp Vĩ-Lư,

    Châu-Thiên vận nội chẳng trừ,

    Tịnh rồi, Tịnh nữa; Động như, Động hoài.

    Thuốc già quá: chẳng hay Khí tán,

    Át Kim-Đơn mất dạng, mất Tâm,

    Nấu non: Khí ít khá tầm,

    Chờ ra Đơn đặng: ngàn năm dã-tràng!

    Khí nóng phải hoàn toàn âm-ấm,

    Kiết Kim-Đơn, mấy dậm đó con,

    Đơn-Điền Chơn-Khí vẫn còn,

    Châu-Thiên luyện vận, cho tròn một ghi.

    Hậu-Thiên thổi đều thì Võ-Hỏa,

    Phải giữ tròn, vận Hỏa như xưa,

    Dưỡng-Ôn: Tịnh-Định sớm trưa,

    Dương-Quang xuất hiện, phất đưa hai lần.

    Vận cho Khí đầy Cân, đủ Lượng,

    Sống Mũi đem hình tượng cột cờ,

    Kim-Đơn thành tựu kịp giờ,

    Thuốc-Sanh chớ để bơ-thờ hiểm nguy.

    Tấn-Dương-Hỏa chẳng ghi tấc Lửa,

    Thối-Âm-Phù chẳng thửa Qui-Căn,

    Thuốc không lên đến Tam-Quan,

    Không thông Quan-Khiếu mọi đàng tất nguy.

    Quá-Quan phải hiểu khi tựu hiệp,

    Để tan e chẳng kịp trở tay,

    Quá-Quan, Thước-Kiều đặt bày,

    Huỳnh-Đình phục thực phải rày hư không.

    Xuất Dương-Thần trong vòng phiền lụy,

    Nhập, Xuất Định: lời chỉ Tôn-Sư,

    Châu-Thiên vận chuyển Chơn-Như,

    Tốn-Phong thổi đặng khắp từ Càn-Khôn.

    Lấy Thuốc chớ bôn-chôn khó được,

    Dụng ý mà giữ Thuốc Đơn-Điền,

    Mượn Hơi: hít thở Hậu-Thiên,

    Để tìm Hô-Hấp, ra liền Chơn-Nhơn.

    Thần Thở ra, Khí hườn về Khiếu,

    Khí qui căn, nên hiểu Khí-Hơi,

    Thở Hơi sâu lắm con ôi!

    Hậu-Thiên hô hấp, nương nơi Khí Thần.

    Chơn-Khí mạnh đi lần về gốc,

    Khôn-Hỏa dùng thổi tróc nóng ra,

    Tốn-Phong quạt lạnh đó mà,

    Thần qui Căn-Khí cũng là về Cung.

    Con khá giữ thung-dung Tâm Ý,

    Diệt thế trần, chớ nghĩ đừng suy,

    Mọi điều nhơn dục tránh đi,

    Lấy rồi Thuốc-Thánh, sau thì mới nên.

    Dụng Tốn-Phong, không nên ngưng thở,

    Nhập-Định thì chẳng hở ngưng Thần,

    Liễu Tâm, liễu Ý lâng-lâng,

    Định-Tâm, Khôn-Vị: Thuốc cân có chừng.

    Tầm Hơi-Thở chớ đừng chia rẽ,

    Chậm cũng không, quá lẹ chẳng nên,

    Dung hòa vận chuyển chớ quên,

    Cung Càn nơi ấy, làm nền đó nghe.

    Con khá nhớ dặt dè liên tiếp,

    Khí Âm Dương giao thiệp với nhau,

    Cung Khôn trở lại dồi dào,

    Huân chuân đôi Khí, dưỡng sao sanh thành?

    Huyền diệu thay! Sẵn dành người Đạo,

    Dưỡng Thai Tâm chẳng tráo, chẳng lay,

    Thánh-Thai chẳng xuất, Thần hay,

    Điều Thần, xuất Xác, nữ tài trẻ ôi!

    Thượng Đơn-Điền để rồi ôn dưỡng,

    Giữ Thần không, xuất tướng rất thông,

    Minh minh, yểu yểu một giòng,

    Đợi khi Khí đóng, trước mong Tịnh-Thoàn.

    Con chớ lo rộn ràng chuyện thế,

    Kềm Tâm con chớ để nhiễm trần,

    Thủy Động, Chơn-Thủy sanh lần,

    Dược-Miêu lấy được, muôn phần chơn thanh.

    Nếu trong khi sản sanh Dược-Thủy,

    Con còn lo, còn nghĩ thiệt hơn,

    Thủy-Nguyên chẳng đặng thanh chơn,

    Dùng Miêu-Dương ấy: Luyện Đơn khó thành.

    Lúc huân chuân, Dương-Sanh ấy Hỏa,

    Thể-Dược là: Hầu, lạ chi đâu,

    Tam-Quan, Đơn-Dược qua cầu,

    Dương lừng Âm-Khí, Hỏa-Hầu phát sanh.

    Hượt-Tý-Thời, ắt thành Chơn-Khí,

    Chơn-Chưởng sanh, Hượt-Tý dương lai,

    Ngươn-Tinh Quan-Khiếu rõ thay,

    Kể rằng Hượt-Tý-Thời rày nhiều công.

    Lúc Ngưng-Thần, vào thông Khí-Huyệt,

    Thần-Đảnh, mà Khí thiệt là: Lư,

    Trông trên Đảnh, thật dễ trừ,

    Dưới Ngoại-Thận gọi là: Lư, ấy: Lổ.

    Muốn luyện Đơn, trước lo cho đủ,

    Lập Tam-Điền, làm chủ thân mình,

    Hạ-Đơn-Điền, phải rán gìn,

    Trúc-Cơ Bá-Nhựt, luyện hình hườn Đơn.

    Trung-Đơn-Điền khác hơn chỗ trước,

    Mười tháng trường vận Dược dưỡng Thai,

    Thượng-Đơn-Điền gốc thật hay,

    Tam Niên Nhủ-Bộ, Thần rày xuất ngôi.

    Mạch Nhâm-Đốc: hai nơi Thần Khí,

    Thường lại qua, hai Chỉ xương thôi,

    Học thì phải nhớ con ôi!

    Nhớ lo luyện tập, được hồi cựu ngôi.

    Từ Con Mắt đến nơi Lỗ-Rún,

    Lằn Bạch-Quang thường dụng sáng lòa,

    Đại-Châu-Thiên rõ thật là,

    Trừ Diên, thêm Hống: Âm xa, Dương dồn.

    Khí-Dương sơ, lần tồn đầy đủ,

    Khí-Âm thì chẳng trụ đặng đâu,

    Thuần Dương, Âm tán, nhiệm mầu,

    Dương-Thần thành tựu, rõ câu Định Thần.

    Dương-Quang hiện trước Chơn-Mày đó,

    Coi chói như thiệt có Điển-Quang,

    Hỏa-Châu, Đại-Dược rõ ràng,

    Nơi hai Con Mắt Kim-Quang chói ngời.

    Hai Lỗ-Tai, con ôi nghe rõ,

    Thường có luồng tiếng gió vu-vu,

    Ót sau tiếng dội âm u,

    Hai bên Thanh-Cật, lù bù nóng rang.

    Phải lấy Ý, mở đàng dẫn Thuốc,

    Thượng-Đơn-Điền dìu tuốt nó lên,

    Hà-Xa liền dụng chớ quên,

    Lục-Căn không lậu, mới nên, mới thành.

    Đường Cốc-Đạo khá canh cho bít,

    Giữ Mũi đừng thở hít hơi ra,

    Trái Tim Đại-Dược ẩn qua,

    Nếu Tâm không chứa, sẽ hòa Vĩ-Lư.

    Nếu Vĩ-Lư tạp trừ chẳng tháo,

    Vượt theo đường Cốc-Đạo chảy ra,

    Rán kềm Thủ-Tịnh đặng mà,

    Đợi Chơn-Khí-Động, lại qua mới dùng.

    Từ Giáp-Tích, đi cùng Ngọc-Chẩm,

    Tới Minh-Đường, xuống chậm Trùng-Lầu,

    Quá-Quan nào có bao lâu,

    Dương-Thần, Thần-Thất, làm cầu bắc ngang.

    Lúc Nhập-Định hoàn toàn Ba Tháng,

    Nội-Khí thường, đừng rán Khí hay,

    Đó là: Hư-Cảnh rõ thay,

    Âm Dương ngưng hẳn, kết rày Thai Tiên.

    Thượng-Đơn-Điền: Môn-Thiên Thần xuất,

    Rõ ràng Càn: trừ diệt Tâm phàm,

    Cửu-Niên Diện-Bích rán làm,

    Thiên-Tiên chứng quả, để đam Đạo thành.

    Luyện Thuần-Dương tập tành sao được,

    Khí Hư-Vô, trở ngược Côn-Lư,

    Dương-Thần, đại định tịch trừ,

    Nê-Hườn, Thần ngự, chẳng dư phía ngoài.

    Tam-Quan ải, hiệp rày Cửu-Khiếu,

    Tả, Hữu-Quang, trắng phếu hai đường,

    Lọ-Vàng, Chơn-Chưởng Tữ thường,

    Gọi Huyền-Quan-Khiếu, rõ đường huyền vi.

    Trước Tịnh Luyện dụng thì Tân Dịch,

    Cửa Huyền-Ưng khiêu khích phía trên,

    Luyện hình Ngọc-Dịch chớ quên,

    Ngưng Thần, tựu Khí, Quan-Ngươn, Khí-Huyền.

    Sơ-Động, Nhứt-Dương truyền trở lại,

    Hiện Ngươn-Quan, đem phải Dương-Quan,

    Qui Căn Đơn-Dược rõ ràng,

    Ngươn-Môn-Khiếu, Tấn-Dương, sang Nê-Hườn.

    Huỳnh-Đình-Khiếu, nuôi Chơn-Đại-Dược,

    Ngươn-Khiếu nơi Tiểu-Dược sanh ra,

    Tam-Xoa-Lộ, khẩu phát ra,

    Các con ghi nhớ để mà Tu thân.

    Trich: Khuyến Nữ Hồi Tâm

  7. Cao Quỳnh Tuệ Lâm says:

    Thưa chư Huynh Tỷ Đệ Muội

    Tôi vừa nhận email của “Han Huynh” , thấy hay và hữu ích, nhưng Huynh Han không có post nơi đây, xin mạn phép cống hiến, xin HH. Han thông cảm cho !

    Hội Long Hoa, Ngày Phán Xét ect… là điều các Tôn Giáo đều đã nói .Trong Kinh sách Cao Đài cũng thường đề cập: “Long Hoa Tam Hội điểm công sau này” . Hai kỳ phổ độ đã qua, nay chính Thượng Đế lập Tam Kỳ Phổ Độ để tận độ tàn linh, thời kỳ Đại Ân Xá Lần Thứ Ba (ĐĐTKPĐ:The Third Amnesty of God) .

    Người tín đồ Cao Đài luôn xác tín rằng, giai đoạn này là thuộc Thời Pháp Cao Đài, không phải của cựu pháp, – theo Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. Do đó, mọi sự tu tập của mỗi tín đồ Cao Đài đều nhất thiết thực hiện theo bí yếu của nền tân pháp đã phổ truyền : Nội Giáo Vô Vi – phần Tịnh luyện-, và Ngoại Giáo Công Truyền – phần Phổ độ . Tùy theo cơ duyên và chí nguyện, mỗi người tự quyết định để sau cùng đạt đến cứu cánh phản bổn hoàn nguyên, trở về bản lai diện mục chơn tánh, từ Tiểu Linh Quang hội nhập vào Đại Linh Quang, hiệp một cùng Thầy, đấng Chí Tôn Tạo hoá càn khôn vũ trụ . Có sự xác quyết này, sẽ không bị băn khoăn khi gặp một số tài liệu pháp môn cựu giáo (Thiền tông, mật tông, Tịnh độ, cầu Bà Maria lần hạt Mân côi, Vô vi Pháp soi hồn của thiền sư Lương Sĩ Hằng, hoặc Tâm ấn Quán Thế Âm của Vô Thượng sư Thanh Hải ect… tất nhiên các phép này sẽ có môt số hiệu quả nhất định khi chuyên tâm thực hiện).

    Tín đồ Cao Đài hiểu rằng : Mục đích sau cùng của người tu là sự hoàn nguyên về cõi chí linh, chơn thiện, không phải để đạt thần thông huyền diệu, hô phong hoán võ mà một khi đã chứng đắc thì tự nhiên sẽ như những bậc Phật Thánh Tiên ở cõi Thiêng liêng hằng sống đã có những khả năng này.

    Người Cao Đài chuyên nhất câu chú của Thầy, mỗi khi hít vào và khi thở ra Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát, sẽ luôn có chư Thần hộ phò. Trong sinh hoạt đời sống làm việc học tập vẫn có thể thực hiện đi liền với pháp môn Tam Công áp dụng trợ đời giúp đạo .

    Xin có vài giòng góp ý .

  8. Tam Duyen says:

    Tệ Muội Tâm Duyên xin chân thành cảm ơn tất cả Quý Đạo Tâm Đạo Hữu gần xa đã đóng góp ý kiến.

    Kính chúc tất cả Quý Vị thân tâm an lạc, tu hành tinh tấn

    Kính

  9. dinh yen says:

    ai cung nghe nhieu ve HOI LONG HOA…nhung nao ai biet Long Hoa nay da khai Hoi, va Nui Cam nay da hoa Lau… mong cho nhung ai dang cho doi, dang tim kiem se mau tro ve…

  10. le cong quyet says:

    . Thời Thượng Ngươn Thánh Đức: 2017 trở đi
    Giờ đây, 2009, Hạ Ngươn cũ đang chấm dứt và Thượng Ngươn Thánh Đức mới sắp bắt đầu, 2012 Aquarius Golden Age, trái đất chúng ta hiện sống đang trải qua cơn thanh lọc để tiến lên; các tôn giáo bạn như Cao Đài gọi là cơ sàng sẩy kỳ ba. Điều này có nghĩa là gì? Đây là một đề tài khá rắc rối để giải thích và tôi xin được sơ lược tối đa.

    Vài định nghĩa về thời điểm của Ngươn Kỳ: Đức Vĩ Kiên dạy chúng tôi như sau.
    - Một chu Kỳ lớn là 13 ngàn năm và chia làm 4 kỳ nhỏ.
    - Một Kỳ dài 3250 năm và có đủ Thượng, Trung và Hạ Ngươn.
    - Một Ngươn dài 1083 năm.
    - Hạ Ngươn Kỳ 3 này có đủ Sanh, Trụ, Hoại, Diệt.
    Trụ thì dài khoảng 1000 năm. Hiện giờ đang ở giai đoạn Hoại. Diệt sẽ bắt đầu từ 2012 đến 2016.
    - Thượng Ngươn Kỳ 4 Sanh sẽ từ 2017 – 2028. Rồi sẽ trụ 1000 năm.
    Kỳ này nhân loại sẽ được hưởng thái bình hơn 1000 năm khi bước vào thời Thượng Ngươn Thánh Đức.

  11. le cong quyet says:

    TU MAU KẺO TRỄ

    Tu mau kẻo trể ráng tu mau.
    Hạ ngươn sàng sảy nước dâng cao
    Dâng cao,thế giới chìm lòng biển
    Nhân loại giờ đây,chạy đường nào…
    Thoát khỏi luân hồi lắm khổ đau

    Tu mau kẻo trể ráng tu mau
    Bão tố phong ba,nước dâng trào.
    Hai ngàn mười hai gần sắp đến
    Ráng chạy cho mau,không kịp nào.
    Di Đà sáu chử,thường ngày niệm
    Long Hoa Mở Hội gần sắp đến (2018 Tại núi CÂM ; AN GIANG)
    vui mừng hết thảy đều vãng sanh

    (trích kinh phật)

  12. le cong quyet says:

    Thơ Khuyến Tu

    Trang giấy trắng từng giờ in đậm
    Giọt máu đào chưa động lòng sao?
    Chiến tranh nguyên tử bắt đầu
    Vào năm Rồng Rắn máu đào chỉn ghê 4

    Kể từ khi Tần Quốc ta về
    Thấy đời khổ não lòng tái tê
    Thương cho lê thứ nay về
    Một thầy ba tớ quay về Nam Bang 8

    Bạch Y Sĩ mở màn ngươn thượng
    Dùng xác trần phò tá Minh Vương
    Một thầy ba tớ mở đường
    Long Hoa mở hội cho thường dân coi 12

    Ớ lê thứ còn chờ chi nữa
    Ba năm nữa máu lửa ngập trời
    Đến đó mới gọi chúa tôi
    Coi đà đã trễ dân ôi tan tành 16

    Đến lúc đó kham khổ chiếu manh
    Oán trách trời cũng đành phải chịu
    Tan hồn, thể nhục cháy thiêu
    Lửa trời thiêu đốt bao nhiêu mà còn 20

    Mau thức tỉnh mà còn sống thoát
    Gắng tu thân cho kịp thì giờ
    Cớ chi phải chịu thẫn thờMinh
    Vương tái thế từng giờ giục dân 24

    Đạo và đời chớ có cân phân
    Tuy hai mà một, lo tu thân
    Thể xác nặng trược nhiễm trần
    Vô Vi là pháp cho dân kỳ này 28

    Ớ dân hỡi, ba tớ một thầy
    Đường về cội, giờ đã kề đây
    Vô Vi đâu phải trên mây
    Pháp hành đúng pháp về Tây rõ ràng 32

    Hãy coi chừng bàng môn tả đạo
    Chúng rập rình khoe đạo chúng hay
    Toàn là lũ qủy tay sai
    Đợi dân sơ hở ra tay hại liền 36

    Nay cứu độ, Phật trao pháp thiền
    Khắp càn khôn Phật gọi liên miên
    Càn khôn vũ trụ gắn liền
    Mau mà tỉnh thức về miền Tây Phương 40

    Đời mạt kiếp khắp chốn phố phường
    Đời đã hết, Phật thấy mà thương
    Hạ ngươn nay đã hết đời
    Còn ba năm nữa ráng mà đợi coi 44

    Phật xuống thế lìa ngôi thượng đẳng
    Chọn người hiền mà đặng cứu ngay
    Thương dân trời phật ra tay
    Ban cho pháp quý cứu thì dân ôi 48

    Từng giây phút Di Đà Phật gọi
    Nẻo luân hồi Phật nói đừng theo
    Theo Phật đừng có theo ma
    Lỡ sau hấp hối Phật Bà độ cho 52

    Chốn Tây Phương mẹ lo dìu dắt
    Đàn con ngoan mau đắc lục thông
    Quan Âm tiếng mẹ khóc ròng
    Vì đàn con trẻ không tầm chơn như 56

    Thương lê thứ ta lìa Đài Ngự
    Chốn trần hồng ta dự Long Hoa
    Mới rõ máy trời can qua
    Tam chiến bùng nổ đó là đời tan 60

    Nay thừa lệnh của cõi Hồng Bàng
    Phật cho phép ta bàn chuyện ni
    Khuyên trong lê thứ từ ni
    Ăn cần ở kiệm mà thì lo tu 64

    Không có cần đi kiếm thầy tu
    Pháp lý Vô Vi tu tại gia
    Ba năm tu luyện ở nhà
    Ba năm hành pháp Phật Đà gắng ghi 68

    Tam công tứ lượng gắng công tri
    Ma Ha Bát Nhã lẽ nhiệm mầu
    Tu hành có khó chi đâu
    Cứ lo hành pháp ngày sau sẽ thành 72

    A-Di-Đà cứ thế nặc danh
    Lục tự khai minh sẽ đạt thành
    Niệm phật tâm tánh phải thành
    Thành tâm niệm Phật trở thành vô sanh 76

    Tịnh Độ, Thiền Tông phải cho rành
    Hai pháp hỗ trợ, rạng công danh
    Đến chừng đói khổ chiếu manh
    Phật sai thần thánh làm lành cho dân 80

    Khuyên trong lê thứ chốn hồng trần
    Giáp Ngọ máu đỏ gần kề bên
    Không tu bị loại, xóa tên
    Ngàn năm bị đọa không nên thân người 84

    Trong thiên hạ nhiều chuyện nực cười
    Không tu mà bày chuyện hại người
    Cướp giựt giết hại khắp nơi
    Mặc cho bổn đạo chiều mơi khuyên rày 88

    Nay ta được phép từ Phật Thầy
    Cùng với đấng Di-Đà phương Tây
    Biên chép bài vở ra ngay
    Nay năm Kỷ Sửu chọn mùa Vu Lan 92

    Khuyên tu khắp chốn, đời sắp tan
    Mau thức tỉnh mà bàn việc tu
    Năm năm đói khổ gắng tu
    Có Trời có Phật cho dù xác tan 96

    Một lòng nhớ Phật chớ có dang
    Siêu sanh Tịnh Độ cõi Tây Phang
    Hướng về thiên quốc thiên đàng
    Có Trời có Phật có đàng hẳn hoi 100

    Chớ có ngại xôi bắp với khoai
    Một lòng tưởng Phật hành pháp hoài
    Cho dù nghiệp lực nó đòi
    Bền chí niệm Phật trong ngoài an yên 104

    Chúc cho bá tánh lo tham thiền
    Đời rồi sẽ được gặp Phật Tiên
    Bạch Sĩ cảm tạ thánh hiền
    Cứu dân độ thế khắp miền Lục Châu 108

  13. le manh hung says:

    NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ CHO THƠ
    Này các con:
    Cuộc thế rồi đây ắt đảo điên
    Thử thách nhơn sanh chọn kẻ hiền
    Dự hội rồng mây Ngươn Thánh Đức
    Trần ai hội ngộ Phật cùng Tiên
    Phật cùng Tiên trần miền giáng hạ
    Giúp nhơn sanh tiến hóa kịp kỳ
    Con ơi ráng kịp khóa thi
    Chần chờ ắt lỡ chu kỳ đó con
    Rồi đây biển cạn non mòn
    Hoàn cầu biến động mất còn bể dâu
    Cha thương trần thế dãi dầu
    Tóc tang trải khắp năm châu lần này
    Cha thương, minh triết tỏ bày
    Vì thương, gánh chịu đắng cay cõi trần
    Vì thương, khổ nhục Kim Thân
    Vì thương, chua chát muôn phần lãnh mang
    Vì thương, giáng ngự trần gian
    Vì thương, quyết định lâm phàm kỳ ba
    Vì thương, điện ngọc lìa xa
    Vì thương, nhịn nhục quỷ ma ngu khờ
    Cha thương con trẻ bơ vơ
    Mê trần ngụp lặn cận giờ không hay
    Thiên cơ xoay chuyển gần ngày
    Mà con cứ mãi đắm say thế tình
    Cha thương vẹt lối u minh
    Ban lời minh triết, con khinh con ngờ
    Sao con cứ mãi lửng lơ?
    Tưởng Cơ Tiến Hóa đợi chờ con sao?
    Nhìn con Cha luống nghẹn ngào
    Thương con ngu muội lao đao cảnh trần
    Cạn lời Cha đã tỏ phân
    Mà con khinh rẻ chẳng cần lắng nghe
    Lại còn nặng tiếng khen chê
    Nghi ngờ thật giả, phán phê ông Trời
    Không tin cũng được con ơi!
    Không tin nhưng nhớ lo thời ráng tu
    Không tu ngu muội đui mù
    Không tu rớt cảnh âm u đọa đày
    Cộng đồng phán xét gần ngày
    Long Hoa biến thế hội khai cận kề
    Không tu là mất lối về
    Không tu rơi rớt bên lề Thiên Cơ
    Trống Long Hoa giục đến giờ
    Sao con cứ mãi chần chờ vậy con.
    Cha thương những đứa mỏi mòn
    Chồn chân gối mỏi chẳng còn đức tin
    Biếng công phu bỏ công trình
    Tam Công bê trễ hồn linh lu mờ
    Con gây trở ngại Thiên Cơ
    Rồi mong chóng đến ngày giờ được yên
    Sắp được yên, phải đảo điên
    Chắc gì con được phước duyên sống còn?
    Lòng Cha luống những héo hon
    Khóc con rơi rớt chẳng còn bao nhiêu
    Nhìn con ngu dại chắt chiu,
    Lệ Cha khóc cảnh tiêu điều chẳng vơi
    Thương con, Cha đã cạn lời
    Lời Cha đã cạn mong đời bớt mê
    Ráng tu ráng nhớ lối về
    Ráng sao bảng hổ tên đề kỳ ba
    Ráng sao dự hội Long Hoa
    Là con sưởi ấm lòng già đó con!
    (Ngọc Hoàng Thượng Đế)

  14. VÕ TÙNG LINH says:

    HỘI LONG HOA ĐÃ MỞ RỒI

    Chào toàn thể Huynh Đệ trong diễn đàn. Mình đã đọc qua các bài viết, thấy phần đông cũng đang chờ Hội Long Hoa trong các lời tiên tri từ lâu. Có nhiều bậc Thánh Hiền cũng có tiên tri ngày Hội Long Hoa. Nhưng do chúng ta thiếu tu, thiếu học nên chưa biết ngày Hội Long Hoa, đã mở ra chưa? Nếu mở rồi thì mở ra ở đâu? Tôi xin tóm tắt cho quý vị Đạo Tâm được rõ. Ai tin thì hay cho người đó, ai không tin thì ngày chung qui sẽ rõ.
    Hội Long Hoa của Đức Chí Tôn lập ra để thưởng lành, phạt dữ. Đó cũng là cơ lựa gạn để cứu vớt chúng sanh trong buổi Tam Kỳ Phổ Độ này.
    Hội Long Hoa được mở ra ngày rằm tháng 04 năm 1938. Có Phật Hàng Long giáng thế hiệp thân với ông Lê Văn Được tại Tòa Thánh Cao Đài Định Tường Chơn Lý. Đó là đúng với lời tiên tri về cơ vận Lục Long là “Thời Thừa Lục Long, du hành bất tức” hay “Lục Long cơ vận tên đề đã lâu” hay là “Hàng Long tuế hội bút hoa diệu truyền”. Từ đó, Phật Hàng Long dung diệu bút mà viết ra kinh sách hơn 3000 bài bằng tiếp điển Vô Vi, mỗi bài đều có để là Vô Vi Hiệp Thiên Đài, ngày, tháng, năm, giờ tiếp điển. Ngày Hội Long Hoa cũng là ngày Khánh Thành Châu Thiên Đài tại Tòa Thánh Cao Đài Định Tường Chơn Lý.
    Có nhiều bài thi của Đức Chí Tôn, Đức Chưởng Giáo Thiên Tôn (Nguyên Thủy Thiên Tôn), Đầu Sư Thượng Trung Nhựt liễu đạo tại Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh về cho thi bài.

    - Bài này của Đức Chí Tôn giáng điển cho ông Phật Hàng Long La Hán tá danh Lê Văn Được tiếp điển Vô Vi
    VÔ VI HIỆP THIÊN ĐÀI
    Ngày 24 tháng 3 Annam 1938 (5 giờ chiều)

    Lễ Khánh Thành Châu Thiên Đài là ngày LONG HOA HỘI
    (14-15 tháng 04 năm 1938)

    Châu Thiên nay đã Khánh thành
    Nam Bang hưởng đặng phước lành vui thay
    1.- Từ đây biết một Trời Chúa Tể
    Đặng chung lo phổ tế cho thành
    Khắp cùng cả thảy chúng sanh
    Đồng qui hiệp nhứt tập tành Lý Chơn
    2.- Tiếng đờn giọng cao sơn lưu thủy
    Người ngậm cơm suy nghĩ cuộc đời
    Có ai qua nỗi máy Trời
    Biến, an xây chuyển đổi dời rất mau
    3.- Phân rành rẻ, trước sau thứ, lớp
    Lập chương trình hòa hiệp Phái, Chi
    Anh em lớn, nhỏ trọn nghì
    Một lòng tuân Luật, từ bi dạy truyền
    4.- Ấy là cũng có duyên, có phước
    Nên ngày nay mới được thăng bường
    Lần lần mở rộng bốn phương
    Năm Châu qui hiệp một trường tại đây
    5.- Nhờ Đuốc Huệ, rẻ mây vén ngút
    Dẹp tà tâm thoát tục, siêu phàm
    Kể đà dư mấy muôn năm
    Đến nay mới đặng, thậm thâm diệu huyền
    6.- Từ đây hết, đảo điên trật tự
    Cứ an lòng lo giữ Luật Trời
    Bỏ điều tu giởn, tu chơi
    Tu cho đến chỗ, đến nơi của Thầy
    7.- Tuy đã biết một bầy con dại
    Biết sợ Thầy, cái dại là khôn
    Cũng nhờ có Xác, có Hồn
    Có Thầy ung đúc, bảo tồn Chơn Thân
    8.- Đừng có dạ phân vân như trước
    Ráng theo Thầy từ bước đi lần
    Ấy là mỗi nhựt, mỗi tân
    Nhựt Tân thì phải, ân cần thêm tân
    9.- Kẻ đặng hưởng Thiên Ân tước lộc
    Người thì lo Đạo học trau giồi
    Hiệp đồng được vậy mới vui
    Vui là cơ biến, biến rồi lại an
    10.- Nay mừng đặng Nam Bang gặp gỡ
    Gái, trai đều hớn hỡ vui lòng
    Trên nhờ có Chủ Nhơn Ông
    Tiếp dây liên lạc, vẫn thông Đạo Mầu
    11.- Gồm cả thảy một bầu Thế giái
    Nhờ Vô Vi quãng đại thông truyền
    Hiệp hòa Tiên, Hậu nhị Thiên
    Tam tam qui nhứt, mối giềng một tay
    12.- Đầu cúi lạy CAO ĐÀI NGỌC ĐẾ
    Ban ơn lành cứu tế sanh linh
    Chúc câu cọng hưởng thái bình
    Dưới trên hòa thuận, phải nhìn một Cha./.
    – THĂNG -

    - Bài này của Đức Chí Tôn giáng điển cho ông Phật Hàng Long La Hán tá danh Lê Văn Được tiếp điển Vô Vi
    VÔ VI HIỆP THIÊN ĐÀI
    Ngày 6 Tháng 4 Annam 1938 (6 giờ chiều)

    Thầy mừng các con. Các con cũng có lòng mộ Đạo nên mới đến đây làm lễ . Vậy Thầy cho bài đây, các con đọc đặng vui lòng.

    NGHE THI :
    Ngày nầy Đại-hội Long-hoa
    CHÂU THIÊN thành lập, Thánh Tòa vẻ vang
    1.- Trên Thầy ngự ban ơn các trẻ
    Dưới cúi đầu đãnh lễ Huyền Khung
    Từ đây chung thỉ một lòng
    Ráng lo giúp Đạo, cho cùng là hay
    2.- Các con biết rằng Thầy Chúa Tể
    Thì đừng lòng khi dễ nghe con
    Nhớ câu: biển cạn, non mòn
    Lời con Hồng Thệ, Thầy còn chép ghi
    3.- Khá gìn chữ: Từ bi – Bác ái
    Với Công bình khỏi hại nghe con
    Anh em, lớn nhỏ vuông, tròn
    Đừng lòng ganh ghét, dại khôn chia lìa
    4.- Nếu các trẻ, chẳng chia phe đảng
    Là các con chẳng phản với Thầy
    Khắp cùng Nam Bắc Đông Tây
    Trước đều một điễn của Thầy ban ra
    5.– Xuống trần thế khác cha, khác mẹ
    Là tại nơi sanh đẻ khác người
    Chia nhau một đứa, một nơi
    Đua theo thế tục, rã rời xa nhau
    6.- Thầy nhìn thấy quặn đau dạ Ngọc
    Sai Chư Thần chịu nhọc kêu về
    Các con còn tánh muội mê
    Vậy nên chẳng biết, cảnh quê là gì !
    7.- Nay Thầy lập Tam Kỳ ân xá
    Bổn thân Thầy giá hạ Nam Thiên
    Nhìn con giọt lụy liền liền
    Tội tình chất ngất, oan khiên dẩy đầy
    8.- Bởi tại đó, đọa đày dồn dập
    Nên các con chồng chập Nguơn Thần
    Đành quên bốn chữ Tứ Ân
    Ôi thôi ! nào biết Tân dân là gì
    9.- Thầy nhắc nhỡ nhiều khi cho nhớ
    Tại các con viện cớ cãi Thầy
    LONG HOA Thầy lập ra đây
    Đặng cho con biết kỳ nầy thưởng răn.
    10- Đứa nào biết có căn, có kiếp
    Thì ráng lo bước kịp theo Thầy
    Đứa nào ỷ giõi khoe hay
    Thì Thầy không thế nắm tay dắt dìu
    11.- Lời dạy trẻ bấy nhiêu là đủ
    Khuyên các con nhìn Chủ Tam Hồn
    Hoặc là biết trọng Tam Tôn
    Phải tua biết Xác, biết Hồn mới nên
    12.- Con nào được lòng bền, dạ vững
    Thì mới mong còn đứng Tam Kỳ
    Con nào còn tánh Tự Khi
    Thầy e cho nó phải đi đường tà
    13.- Đây Thầy dặn: nầy CA với ĐƯỢC
    Hai con coi gương trước của Phùng
    Anh em ráng trọn thỉ, chung
    Thầy trông hai trẻ, ngày cùng hiệp nhau
    14.- Còn các trẻ công lao khó nhọc
    Mấy năm chầy lo lập Châu Thiên
    Ngày nay đã đặng vẹn tuyền
    Thầy ban ân huệ, phĩ nguyền các con
    15.- Thầy giáng bút mừng con cả thảy
    Việc lỗi lầm, khờ dại Thầy tha
    Từ đây ráng Hiệp, ráng Hòa
    Thương nhau như một mới là phải con./.
    - THĂNG –
    - Bài này của Đức Chưởng Giáo Thiên Tôn (Nguyên Thủy Thiên Tôn) giáng điển cho ông Phật Hàng Long La Hán tá danh Lê Văn Được tiếp điển Vô Vi
    VÔ VI HIỆP THIÊN ĐÀI
    Ngày 13 Tháng 4 Annam 1938 (10 giờ trưa)

    ĐƯỢC, Thầy vui lòng mừng cho con. Vậy con phải đứng dậy mà đáp lễ với Chư Thiên Tôn. Vì có lòng ao ước chúc mừng cho con đó.
    Chư Vị Thiên Tôn đồng giáng lâm trong giờ Ngọ nầy. Vậy con phải biểu Vi Hộ cho Đạo hửu hay; mỗi người có cúng thời Ngọ nầy phải cho nghiêm tịnh, đặng Chư Thiên Tôn ghi công quả cho.
    Thầy lui cho Chưỡng Giáo Thiên Tôn giáng bút.
    CHƯỞNG quản Thiên môn thượng
    GIÁO Huấn Đạo Tam Kỳ
    THIÊN khai thành Đại Hội
    TÔN trưởng giá lâm thì
    Chào Chức Sắc Nam, Nữ có mặt trong giờ Ngọ nầy. Nghe Bổn Tôn dạy đây mà tự xét.

    NGHE THI :
    1.- Đời nhiều nỗi đua chen rộn rực
    Ỷ sức phàm quên Luật Thiêng Liêng
    Lo cho xác thịt phĩ nguyền
    Mà quên tội lỗi, Cửu Huyền phải sa
    2.- Thầy nói trước Kỳ Ba Đạo chuyển
    Luật chuyển là cơ biến u thâm
    Không tin nên phải chịu lầm
    Chịu lầm không sửa, đọa trầm xiết bao
    3.- Bổn Tôn đã thấp, cao khuyên giải
    Người dương trần canh cãi nhiều lời
    Tưởng rằng mình giõi hơn Trời
    Vậy nên phải chịu trọn đời đừng than
    4.- Mình làm tội, mình mang không ức
    Hại vợ, con phiền phức âu sầu
    Vì chưa rõ Lý cạn sâu
    Tưởng mình là đúng bực cao hơn rồi
    5.- LONG HOA HỘI Đạo Trời rộng mở
    Cả Thần Tiên hớn hỡ vui mừng
    Mấy năm đặng gặp một lần
    Là lần Ân Xá, Mậu Dần nầy đây
    6.- Ai sớm biết có Thầy mở Đạo
    Thì mau lo cãi tạo cho rành
    Lâu ngày tội ác lại sanh
    Sanh hoài khó dứt, ắt thành oan khiên
    7.- Bổn Tôn giáng Hiệp Thiên Đài nội
    Phân cho tường cuộc HỘI LONG HOA
    Từ đây yên vững Đạo nhà
    Nam Bang hưởng đặng âu ca thái bình./
    —–ooOoo—–

    - Bài này của Đức Chí Tôn giáng điển cho ông Phật Hàng Long La Hán tá danh Lê Văn Được tiếp điển Vô Vi
    VÔ VI HIỆP THIÊN ĐÀI
    Ngày 3 Tháng 5 Annam 1938 (5 giờ chiều)

    ĐƯỢC – con nghe Thầy dặn: Trong giờ nầy con phải mặc Thiên phục chứng đàn. Vì có Chơn Linh của Thượng TRUNG Nhựt giáng tại đây đặng hầu Thầy – Vậy con phải chứng đàn, cho nó rõ Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài là vậy.
    – THĂNG -
    —–ooOoo—–

    VÔ VI HIỆP THIÊN ĐÀI
    Ngày 3 Tháng 5 Annam 1938 (5 giờ chiều)

    1.- Thượng TRUNG Nhựt điển linh tiếp giáng
    Trước Bửu tòa Long án Lạy Thầy
    Sau mừng Chưởng Quản Thiên Đài
    Cùng là Huynh Trưởng Trùng Đài Bửu Thiên
    2.- Ngày trước cũng có duyên tìm Đạo
    Gặp đến hồi Cơ Tạo chuyển xây
    Tại tôi không rõ Luật Thầy
    Vậy nên mới có, đây vầy – đó kia
    3.- Vì tại đó phân chia huynh, đệ
    Mấy năm chầy xiết kể thở than
    Lớp thời sanh chúng phàn nàn
    Lớp Anh phiền trách, hai đàng xa nhau
    4.- Giờ mãn kiếp, em mau sám hối
    Thầy qúa thương, xá tội nửa phần
    Cho về giúp Đạo, cứu Dân
    Hiện nay đã đặng, Thiên Ân trọn phần
    5.- Vì cơ Đạo, chia phân nhiều ngả
    Cũng là do nhỉ, ngã tranh quyền
    Hiện giờ Tòa thánh Tây Ninh
    Còn gây ra sự bất bình chưa an
    6.- Tính mưu sự phòng toan chia reõ
    Làm cho Đời khi dễ xiết bao
    Đua chen kẻ khó, người giàu
    Bạc tiền nhiều, ít cãi nhau sanh rầy
    7.- Em trước cũng tại đây sanh rối
    Nay xét mình biết lỗi ăn năn
    Từ nay Thầy đã giao phần
    Hàng Long, Vi Hộ, Tinh Quân ra đời
    8.- LONG HOA HỘI là nơi Thầy định
    Bửu An Thiên chấp chánh mối giềng
    Hàng Long phận sự Thiêng Liêng
    Tinh Quân, Vi Hộ; giữ gìn ngoài trong
    9.- Em dòm thấy trong lòng vui đẹp
    Tại Thánh Tòa khuôn phép đành rành
    Một lời Em hứa cùng Anh
    Từ đây Em nguyện, giúp Anh trọn niềm
    10.- Lần lần sẽ độ thêm cho đủ
    Đặng chung lo giúp Chủ Tam Hồn
    Tới ngày Đại Hội TAM TÔN
    Lo qui các chỗ, để chung một nhà
    11.- Làm được vậy đạo Cha rộng mở
    Mới gọi rằng : Đạo sửa nên Đời
    Chung cùng có chỗ, có nơi
    Đạo cho bền vững, thì Đời mới an.
    Tôi xin kiếu – THĂNG -

    —–ooOoo—–

    Vậy ai đang mong chờ ngày Hội Long Hoa thì cũng biết ngày Hội Long Hoa đã qua rồi. Hằng năm, Tòa Thánh Cao Đài Định Tường Chơn Lý có ngày Đại Lễ Long Hoa (ngày 14 – 15 tháng 04). Vậy quý vị Đạo Tâm nào trước giờ trông chờ ngày này thì cũng cố gắng đến đó, trước lạy Thầy và chung hiệp cùng Huynh Đệ.
    TÒA THÁNH CAO ĐÀI CHƠN LÝ – ĐỊNH TƯỜNG
    Địa chỉ : 193, Nguyễn Trung Trực, TP Mỹ Tho, Tỉnh Tiền Giang
    Điện thoại : 0733.876.296 – Fax : 0733.977.841
    Website : http://hoithanhcaodaichonly.org
    E.mail : caodaichonly.tg@gmail.com

    Nếu ai ở TPHCM không biết đường đi thì chúng tôi sẽ dẫn về đó, xem như cũng có duyên trùng phùng
    Địa chỉ 1 : 48/10, Lê Cảnh Tuân, phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú, TPHCM
    Địa chỉ 2: 225/18, Thoại Ngọc Hầu, phường Phú Thạnh, quận Tân Phú, TPHCM
    Điện thoại: (+848)8610848 – 0937260532 gặp Bảy Thi
    0978867022 – gặp Tùng Linh
    Email: tunglinh270689@gmail.com

  15. hong nghia ky duyen says:

    Tu nhat kiep ngo nhat thoi, chi co thoi nay co Hoi Long Hoa, moi duoc cham dau. con neu niem phat ma thanh phat thi qua de vay sao ban, nhin xem the su the gioi niem phat ngay bay gio dang thanh gi day ? do chi la khai niem thoi cho den luc chung ta phai lam phat tat ca moi duoc kiaa ma.
    Con nguoi dang song vo than
    khong nhan khong nghia ,khong Than khong Tien
    Chi con tien tien,bac tien
    chi con tien bac bac tien ma thoi
    Con nguoi song bang mep moi
    Nguy danh nguy nghia,ma thoi nhan a
    Con nguoi ma nhu con ma
    Ro rang nhu the,ta ba oi oi
    Con nguoi ma khong con nguoi
    Moi lam nhan the choi voi vo cung
    Anh hung nhung cot thi bun
    Moi lam nhan the vo cung kho dau
    Con nguoi ay song guom dao
    Nhin chung nhan the, biet sao thoi ha
    Toan canh toan canh yeu ma
    Trong thoi cuong loan do ma nhan sanh
    Con nguoi moc guc moc nanh
    Long tranh ho dau nhan sanh oi a
    Thuong ai ma viet LONG HOA
    Dieu nay ta de ta ba hieu di
    Tu bi ta mai tu bi
    Kong ngoai muc dich tu bi vi doi
    LONG HOA the do loai nguoi….

Leave a Reply