NỮ TRUNG TÙNG PHẬN – ĐOÀN THỊ ĐIỂM

Mar 7, 10 | Tam Duyen | 2,003 views | No Comments



Share |





LỜI VÀNG MẸ DẠY



nutrungtungphan

Nữ Trung Tùng Phận
Ðoàn Thị Ðiểm



Dụng văn-hóa trau-tria nữ phách,
Lấy kinh-luân thúc-thách quần hồng,
Gươm thư giúp sức gươm hùng,
Ðiễm tô nghiệp cả con rồng cháu tiên.

Bởi rẻ-rúng thuyền-quyên thiếu học,
Dầu chí thân tơ-tóc cũng khi.
Tinh-thần cao-thấp nhờ thi
Giục tài nữ-sĩ sánh bì cùng nam.

Chinh-phụ trước treo nên giá guí
Áng văn làm nhuệ-khí cầu vinh
Thêm duyên chước quí giao tình
Mỹ-ngôn nương ý gia-đình an vui.

Nấu kinh-sử ra mùi son phấn
Cầm bút nghiên đặng thấm má đào
Quần xoa đỡ ngọn binh-đao
Lấy hình thục-nữ dậm màu nước non.

Cửa thánh-miếu hỡi còn thiếu gái,
Chốn quyền-môn nữ lại vẫn không
Vật chơi ở chốn khuê-phòng
Ðã cam phận vợ để chồng cầm duyên.

Phần nội-trợ trăm phiền đeo đẳng
Ðạo phụ cơ đã nặng cho mình
Duyên may chồng đã nghĩ tình
Còn cha, còn mẹ có đành phận đâu?

Nỗi em chị bởi đâu chẳng thuận
Nỗi nhi-tôn lẩn-bẩn bên lưng
Nỗi nhà, nỗi bếp, nỗi lân,
Nỗi trong thân tộc, nỗi gần nỗi xa.

Trên lo thảo, giữa hòa, dưới thuận
Ngoài nên danh trong vững mối giềng
Nỗi trông hương-hỏa giữ bền
Giúp nên chồng có phẩm quyền cao sang.

Mảng lo-lắng chữ nhàn nào rõ
Huống để công đến ngõ Khổng-trình
Rừng nho biển thánh thinh-thinh
Nữ lưu nào thấu muôn nghìn thi-thơ.

Kĩnh tổ-tiên, nỗi thờ, nỗi phụng
Tế tông-đường, lo cúng lo đơm
Kiến thân, viếng sớm thăm hôm
Chua cay rõ miếng, cơm ngon, cá bùi.

Lưỡi lừa miếng nhai cơm lũ trẻ
Kiêng vật ăn đặng để nuôi con.
Còn con nòi giống chồng còn,
Mảnh thân đành chịu hao-mòn với ai?

Còn gặp thủa xanh mày lịch sắc
Dâng hình hoa treo mắt bướm ong
Nào là hương đượm lửa nồng
Nết khuôn giữ vẹn chữ đồng lương nhân.

Muốn trau-chuốt mặt ngần thân dịu.
Vẽ cho hay mày liễu má đào
Thương gìn lúc ốm khi đau,
Sợ chê xấu phận, cây màu phấn-son.

Mình mỏng-mảnh, sức non-nớt yếu
Ðỡ-nâng chồng vốn thiếu tay co
Không toan sớm đói chiều no,
Lựa là tứ hải ngũ hồ giúp nhau.

Cứ tựa cửa phòng đào giấu dạng
Ngoài nước non nào hẳn vơi chênh.
Mảng trong thấm nghĩa năm tình
Ðể công bẻ liễu bắn bình trượng phu.

Dầu không mấy giả ngu cho thuận
Phải bao nhiêu cũng nhận lỗi lầm.
Phòng đào giữ rủi rơi trâm,
Sợ lơi hơi sắt, tiếng cầm lạc cung.

Thử từ nết khi chung lúc chạ,
Gióng từ hơi, hòa-nhã tơ loan,
Chì vui dưới trướng ngoài màn.
Nhẫng lo ngại nỗi phụ-phàn ái-ân.

Nghe từ lịnh, cúi vâng từ mạng
Nhọc lòng chi nào dám dỉ hơi!
Sợ cơn dông gió tơi-bời.
Trà-mi xơ-xảy hoa rời rã bông.

Che đậy kín, tường đông ong bướm,
Giấu nhặt nghiêm, nhụy tướng hương bình.
E khi vách có âm thinh,
Ðể gương lỗi đạo, lỗi tình phu-thê,

Giao thân cứ gần kể kẻ thiết,
Ép nhớ thương làm điếc làm đui.
Mặc người cha dể mẹ duôi
Ngoại tông nương phận, nếm mùi trân cam.

Hiểu thương ghét giả cam phận dại.
Biết nên hư chẳng cãi cho cùng
Nên thì an phận kiếm cung,
Hư thì khổ vợ tội chồng chung nhau.

Ngoài mặt phép, chàng sao thiếp vậy,
Giữa cửa công phải quấy đồng thân .
Vinh thì chàng mão thiếp cân,
Hèn thì chàng váy thiếp quần đổi thay.

Lấy khổ-cực làm bài thuốc mến,
Dụng đau thương rù-quến thâm tình
Dầu chàng đổi dạ én anh,
Tề-mi vẹn Ðạo giữ gìn phép khuôn,

Nâng khăn-trắp giải buồn quân-tử
Hầu tửu trà giấc ngủ không an
Chàng vui thiếp cũng vui càng
Chàng buồn thiếp tựa bên màn khóc theo,

Dòng tương chảy thân bèo trôi-nổi
Chẳng ai thương chửa lỗi bình lời
Chàng thì biển cả vơi-vơi
Thiếp thân bóng bọt giữa vời linh đinh.

Nếu gặp phước bố kình đánh khách,
Biết yêu hoa dưới ngạch phòng thu
Rủi duyên, gặp phải thường phu,
Nhành xuân thì trọng, gương thu dở cầm.

Khi lịch sắc, trao trâm đáng giá
Cơn tàn hoa, keo rã sơn rời.
Vẻ hồng mắt mỏ bao mươi,
Ðưa cho quân-tử trọn đời chủ-trương.

Nhụy đương nở mùi thơm ngào-ngọt
Dâng hình hoa lo lót con ong
Trăm năm kim cải cũng chồng
Trái duyên cũng vẹn đạo tùng mà thôi.

Thân lòn cúi, vợ tôi chồng chúa,
Ðạo phu thê như đũa nên đôi.
Dầu cho lúc đứng, khi ngồi,
Chàng là chúa cả, thiếp thời gia-nô.

May quan cả rủi cho lê-thứ
Trong gia-tộc cũng cứ phép nhà
Hèn người sang ấy của ta
Chê người, ta lại cho là đáng khen.

Chồng sang đặng ta hèn chẳng quản,
Chồng đẹp hình ta mảng lo-âu.
E ra nhiều thiếp nhiều hầu,
Rồi tham bẻ lựu, bỏ đào bơ-vơ.

Hễ xấu dạng, thì nhơ phận thiếp
Còn đẹp hình nhác kiếp phù-dung .
Mình thương người cũng thương cùng
Còn như chê bỏ, lại dùng vào đâu?

Kiếm xứng mặt mày râu dưới thế
E không mưu đủ kế gìn duyên.
Còn theo tham ván bán thuyền.
Trông chi giữ mảnh hương nguyền cùng nhau,

Lỡ lối cũ động-đào lạc bước,
Khó cầm duyên đợi ngọc cầu lam
Thân tiên dầu lỡ gót phàm,
gương xưa lỗi ráp ai cầm làm chi.

Nhẹ là bức, nặng thì tình nghĩa
Ðể dụng riêng cho phiá nữ-lưu.
Thung-dung quân-tử hảo-cừu,
Năm thê bảy thiếp mặc dầu trăng hoa.

Nào có tưởng vợ nhà đau-đớn,
Ôm tình-si, muôn lượng sầu than.
Máu ghen chăn gối dẫy tràn,
Hình mai ủ-đột, sắc càn héo-don.

Hễ càng ngắm hao mòn đá ngọc
Càng riêng lo tơ-tóc không bền.
Chàng vui cung nguyệt trao duyên
Thiếp sầu sợ nén hương huyền bớt thơm.

Lo rồi ngại ra cơn mất nết
Vì ghen tương hết biết thân mình
Dám toan tử-tiết với tình
Còn chi kể đến gia-đình hư nên.

Nếu ôm-ấp một bên thương nhớ,
Bịnh tương-tư khó gỡ cho kham.
Nên toan đập nát cung cầm,
Vô duyên đành phận, sống làm chi đây?

Thương ra giận khó khuây nỗi nhớ
Mối tơ duyên ai gỡ cho đang
Hỡi người cỡi phụng ngừa loan,
Phải như vợ dám phụ-phàng mới sao.

Tả nỗi thảm, thêm đau mấy đoạn,
Mượn bút hoa đắp cạn thành sầu.
Tiếng tiêu dấu lọt phụng-lầu,
Hoặc may gỡ đặng giây sầu nữ-nhi.

Cầm bút ngọc đề thi tự thuật
Một kiếp sanh của bậc văn-tài
Nêu gương tuyết giá hậu lai,
Gỡ trong muôn một những bài sanh lý.

Khi đầu ấp cùng khi tay gối
Thân-thiết nhau sớm tối quen hơi.
Chừ sao chong ngọn đèn ngồi,
Cô-đăng giỡn bóng, ghẹo người thương tâm.

Nào là thuở âm-thầm dan-díu,
vịnh bóng trăng dặng níu hoa đào.
Chừ sao bỏ cảnh úa xào,
Nhụy phai, hương lợt khuôn rào tả-tơi?

Nào khi đứng lúc ngồi đủ mặt.
Qua tường đông lóng bậc tơ-đồng.
Chừ sao chăn-chiếu lạnh-lùng
Phím loan nín bặt, tranh tòng đứt dây.

Nào khi lén vẽ mày thục-nữ
Nào khi lo gìn-giữ hương thề.
Chừ sao bướm cũ lìa huê,
Vườn thu vắng khách, ủ-ê canh tàn.

Nào khi tựa bên màn canh lụn
Nào khi ngồi ngó bóng Hằng-Nga
Chừ sao để lụn canh gà,
Vắng hoe gối phụng, nguyệt tà, hoa thưa.

Nào khi đổ mây mưa đảnh giáp
Nào khi lo ấm-áp cung thiềm
Chừ sao vắng dạng, tàn đêm
Gia cư rách cửa, ven thềm cỏ chen.

Nào khi ước giữ niềm son-sắt
Nào thề non nắm chặt dải đồng
Chừ sao đổi dạ thay lòng
Hẹn xưa bỏ chảy theo dòng tương-giang.

Nào khi đứng giữa đàng trông ngọc
Nào khi ngồi dưới bọc trông dâu
Chừ sao phụ nghĩa sơ-giao
Phòng toan ném gánh tâm đầu sông Ngân.

Nào khi đến cầu lam chưởng ngọc
Nào khi lo giả thuốc trường sanh.
Chừ sao bỏ nghĩa én anh,
Tham lê, bỏ lựu, phụ tình trước mai.

Nào khi cửa then gài mấy lớp
Cấm vườn xuân nườm-nượp én anh
Chừ hoang cây cỏ xủ mành,
Gần cây chim lánh, đến cành gió day.

Nào khi sắc so tài đẹp dạ,
Nào khi nhen hương-hỏa ba sinh
Chừ toan bứt mảnh tơ-tình,
Trà ngâu chê chớ, rượu quỳnh chối thương.

Nào khi hỏi thăm hạng Từ-Thức
Nào khi dò mấy bực cầu ô
Chừ sao kẻ hớn, người Hồ
Ðể cho phòng hạnh ra mồ quạt duyên.

Nào là lúc ngửa-nghiêng đêm quạnh
Nào là khi thức tỉnh đêm khuya
Chừ sao loan-phụng chia lìa
Con trông, vợ nhớ mắt kề ngó song.

Càng thấy con khờ không đủ trí
Càng thêm lo huyết-khí bên chồng
Nâng niu lúc ẵm khi bồng,
Phụ thân thế phận cho chồng dạy khuyên.

Càng sợ hở thung-huyên phiền-muộn.
Thảm bao nhiêu gắng gượng làm vui
Tảo-tần sớm dưỡng chiều nuôi,
Thế chàng thiếp lãnh vai người hiếu nam.

Thấy em dại không ham đèm sách
Càng để lòng hỏi-hạch kinh luân
Thay chàng thiếp trả nghĩa thâm
Dạy em văn-hóa thiếp làm trưởng-huynh.

Càng nghĩ đến linh-đinh phận thiếp,
Càng ngại lo tội-nghiệp thân con.
Những ngờ nước thấm đầu non
Nào hay trăng khuyết hoa-mòn nhơn-duyên.

Càng đeo-đẳng nỗi phiền nỗi thảm
Càng thương thân chích bạn lìa đôi
Phận sao phận bạc như vôi
Nước lưng đáy gáo, hương trôi dong là.

Càng ngắm đến cỏ hoa vật loại
Càng thẹn vì vắn-vỏi tơ tình
Chim kết cánh, cây liền cành
Còn thân thiếp chịu một mình đơn côi!

Kìa cá giỡn vẩn vơ đáy nước,
Nọ kết đôi cưu thước ven trời
Còn thân thiếp chịu cút-côi
Ðèn khuya nhắc thảm, gió mơi ghẹo sầu.

Kìa oan-ương ấp nhau chẳng hở
Nọ én-anh rỉ-rả kêu thương
Còn ta luống những đoạn-trường -tanh!

Kìa cầm điểu bẻ cành kết ổ
Nọ thú trùng moi lỗ làm hang
Này thân thiếp chịu gian-nan,
Linh-đinh đất chiếu, trời màn không nơi!

Kìa ong kiến tha mồi dành để,
Cơn khốn cùng có thể nuôi thân.
Còn thân thiếp chịu khốn-nàn
Tả-tơi nỗi mẹ, trần truồng nỗi con!

Thôi đành kiếp nớt-non gượng sống
Sống vì con chẳng sống vì thân
Ðòi phen đỗi thảm ra mầng
Nâng-niu trẻ dại cho gần đặng cha!

Ðưa giọt sữa ra hoà giọt lụy
Trong tình chung huyết-khí đúc hình.
Còn con may đặng giữ tình
Khối chung tình ở nơi mình ấu-nhi.

Nghe trẻ khóc như chì dần dạ
Thấy con đau như đá đập đầu
Còn con ô-thước bắc cầu
Mất con là cửa vô lầu lãnh-cung.

Thấy xuân đến vẻ hồng khắp chốn
Nương con thơ sống rốn cùng xuân.
Ru con giọng hát ngập-ngừng,
Xuân ôi! xuân biết mấy lần đau thương?

Ve kêu như dường trêu thảm,
Mưa sầu tuôn mấy dặm biệt-ly
Dỗ con lệ ngọc li-bì,
Hạ ôi, hạ có biết nghì phu-thê?

Chiều thu nhắc, ủ-ê cảnh hạn,
Nhấp-nhô xem cánh nhạn về non
Trông thu rầu ngó thân con,
Thu ôi,thu biết hao-mòn tấm duyên?

Ðông lạnh ngắt, mảnh mền úm trẻ.
Ngồi đêm trường quạnh-quẽ phòng không
Nhờ chồng thấy trẻ não-nồng,
Ðông ôi, đông biết tấm lòng kiên-trinh?

Vắng mặt chồng cân hình của trẻ
Ngó thấy con đặng vẽ tượng chồng
Cân thương trẻ ấy mà đong,
Thì trong thương ấy của chồng tám phân.

Kìa máu huyết, cành xuân nhụy nở
Khối ái-ân đành ở nơi con.
Dầu cho biển cạn non mòn
Tơ-duyên khắn-khít chỉ còn bấy nhiêu.

Trẻ nhỏ-dại lắm điều học-hỏi,
Thường kiếm cha mong mỏi thấy nhau.
Dỗ con chỉ bóng giải sầu
Rằng: khuya đèn thắp cha hầu về thăm.

Hơi mảnh áo còn cầm đặng ngữi
Gối loan gìn từ buổi kết duyên
Ba sanh dầu toại thửa nguyền
Họa trong giấc mộng giải phiền giao hoan.

Càng bạc phước càng than con dại,
Lo tảo-tần mãi-mại dưỡng nuôi.
Còn cha con tỷ như côi
Chít-chiu trẻ khó, bồi hồi mẹ đơn.

Nhịn ăn mặc ngừa cơn thiếu thốn,
Màm lụng nhiều nuôi dưỡng sắp con.
Nại chi xác yếu thịt mòn
Gia tư miễn đặng vuông tròn giữ duyên.

Lớn một tuổi mẹ thêm một khổ,
Hiểu một điều mẹ hổ cho thân
Trí con lần mở nẻo gần
Hỏi cha sao phụ, tố-tần làm răng.

Chẳng lẽ nói cho chàng đen bạc
Chẳng lẽ cho cỡi hạc quên nha
Không đành nói thác ra ma.
Không đành nói ngụ nơi nhà lầu xanh.

Không lẽ nói mến anh quên én
Không lẽ rằng trộm nén hương thừa
Nói chi tìm vợ dâng dưa,
Lẽ nào nói rượt theo vừa Hằng-Nga.

Không lẽ nói đi qua Ðông-Ðộ
Không lẽ rằng vô số chinh-phu.
Lẽ nào nói bị tội tù
Lẽ nào nói trấn Tây-Âu làm hoàng.

Còn nói thiệt rằng chàng phụ thiếp
Cũng vì mê theo kiếp làng chơi
E con đến lớn nên người.
Gương cha để thẹn những lời bợm hoang.

Riêng chịu thảm không than với trẻ
Ðổ lụy rơi theo khóe miệng cười
Vui là gắng-gượng làm vui
Cái vui cùng trẻ là hồi ai-bi.

Ngàn dâu ngó ngày chầy, thăm thẳm,
Bận lòng con lại vấn nô-y
Xem chừng coi mảnh anh-nhi
Co tay đếm tuổi, bấy chày không cha.

Hột cơm tẻ, nhai ra như cát
Gan còn nguyên như nát bao chừ
Nuôi con từ lúc đòa thư
Bao nhiêu máu thịt công chờ bấy nhiêu.

Chàng đâu rõ khúc-khiu cực nhọc
Lớn khôn-ngoan biết học biết hành
Biết ơn nuôi dưỡng sanh thành
Tìm cha lại bỏ một mình thiếp côi.

Càng thấy lớn mầng rồi lại sợ
Mầng nên hình còn sợ theo cha
Dường như con vịt mẹ gà,
Trẻ thơ vội phản mụ già kinh tâm.

Làm lụng té bao lăm của-cải,
Ðể cho con làm ngãi cùng con.
Nỗi lo đôi lứa vuông tròn,
Còn lo gia-thất vĩnh-tồn hậu lai.

Ðịnh hương hỏa, hằng ngày qui tế,
Lập pháp-gia, tự kế phụng thờ
Con chàng thiếp trả khi thơ,
Dòng chàng thiếp dạy phụng thờ tổ-tông.

Lựa cho học các công các nghệ
Tính cho hay mọi vẻ văn tài.
Sĩ, nông ,công ,cổ sanh nhai
Ngư, tiều, canh, mục làm bài bảo thân.

Hễ phải mặt văn-nhân tài-tử,
Dạy con nên vẹn giữ nhơn-luân,
Văn là thượng-sĩ danh thần
Võ thì bạt-tụy siêu-quần quân trung.

Quan thì phải tận trung vì chúa
Dân thì hay tập búa Lỗ-Ban,
Sang thì giữ vững ngai vàng
Hèn thì trừ đảng bạo-tàn hại dân.

Trọng thì lấy đai-cân làm lịnh
Khinh thì lo trừ nghịch làm duyên
Nước non để tuổi cùng tên,
Quốc-gia khinh-trọng bở-bền nơi dân.

Con thương mẹ dầu vâng lịnh dạy,
Thương quê-hương trọng ngãi quân thần
Ngọn rau tấc đất là ân
Một dòng một giống lo cần ích chung.

Nếu đề đặng tinh-trung hai chữ
Vạch lưng con viết chữ dể dành
Rủi cơn loạn quốc khuynh thành
Tấm gan liệt-sĩ cũng đành độ dân.

Dầu rủi phận nợ thân chẳng vẹn
Ðạo cần-vương nêu tiếng thanh cao
Trung-thành giữ cõi Nam-Trào
Hùng-anh trước đặng Ngụy-Tào khiếp oai.

Trước quốc-chánh chia hai tộc chủng
Núi Hoàng-Sơn định phỏng biên cương
Bắc-Nam hiệp tổ Hùng-Vương,
Xúm nhau nâng nổi miếu-đường Việt-Nam.

Giang-san bốn nghìn năm tổ-nghiệp
Văn-hóa so cùng kịp tha-bang
Xa-thơ nay gãy giữa đàng
Con tua giữ dạ cứu nàn giúp nguy.

Nào quốc-thể người thi kẻ thị
Nào dân đem phép quỉ hớp hồn
Nấu sôi cái máu anh-phong.
An-bang tế-thế một lòng lo âu.

Ðấng quân-tử đâu đâu cũng nợ
Khắp năm châu khai mở qui-mô
Châu-lưu tứ-hải ngũ-hồ
Thơ hương đắc-vận cậy nhờ dân sanh.

Vùng Nam-hải, uy-linh nhứt quốc,
Cỏ rẽ hai, chia đất ráp ranh,
Trời còn roi nước hùng-anh,
Giang-sơn là đấy, còn mình ở đâu?

Con cũng đứng mày râu dưới thế,
Nếu kém phương, thiếu thế vận-trù
Dầu khôn mẹ cũng cho ngu,
Tài chi trong kiếp tội-tù dã-man.

Con phải nhớ da vàng máu đỏ
Cõi Nam-Châu rỡ-rỡ quốc triều
Con Hồng cháu Lạc bao nhiêu,
Thiếu tài kém đức, định triều an bang.

Mẹ dầu phải suối vàng nhắm mắt,
Vui thấy con đáng mặt làm trai.
Nhục con, con chịu chớ nài
Nhục cho Quốc-thể ra tài hi-sinh.

Thất xã-tắc dân mình nghịch chủng
Quen nghề tham lại nhũng quan gian
Sâu dân mọt nước bạo-tàn
Mua quan, bán chức nhộn-nhàng cân đai.

Ðem chơn chánh phô-bày trừ mị
Nâng-niu cho dân-khí lẫy-lừng
Dân thì biết phận làm dân,
Chúa cho đáng chúa, đình-thần đáng quan.

Trừ đảng dữ tham gian bạo ngược
Diệt những phường mưu chước cầu vinh.
Xem dường cuồng khấu biên-đình
Cung dâu tên cỏ, nước mình chấn-hưng.

Xem lịch-sử vĩ-nhân mấy mặt
Ðại trượng-phu trước giặc vong thân.
Nên danh khai quốc công-thần
Nêu tên hậu thế xa gần tặng phong.

Muốn hiểu tổ vinh tông báo hiếu
Học cho hay trọng yếu Miếu-đường.
Tầng quen cỡi ngựa cầm cương
Trận trung quyết thắng, chiến trường đoạt binh.

Lựa những mặt tài-tình thọ giáo,
Học cho thông mối Ðạo quân thần
Trương-Lương dâng dép ba lần,
Chút công ấy định Hớn Tần nên hư.

Trọng-Ni nhận vi sư Hang-Thác
Học tinh-thần khai thác nho-tông
Gẩm coi tổn bấy nhiêu công
Làm cho thiên-hạ đại-đồng tri-trí.

Tôn kỉnh thầy cũng bì cha trẻ
Mới đắc-truyền mọi lẽ cao siêu.
Học hay kế nhiệm mưu mầu
Học nên tài đặng giải sầu quốc-gia

Học đặng định chánh tà giả thiệt
Học cho thông đặc-biệt hư nên
Học gan sắc đá cứng bền
Học cho đủ chước xay nền Nam-Phong.

Học cho rộng giao-thông tứ xứ
Học cho cùng xử sự ngoại-lâ
Học cho đúng bậc tài thần
Ưu quân ái quốc vui cần dân nghinh.

Học cho thấu máy linh cơ tạo
Học cho toàn trí xảo văn-minh.
Thâu tài hay, nhập nước mình,
Làm cho dân hưởng thái-bình giàu sang.

Công dạy dỗ muôn ngàn khó nhọc
Ơn của thầy con học nên người
Tài hay tom góp một đời,
Cho con chẳng kể vốn lời hơn thua.

Thầy lao-lực tùy vừa trí trẻ
Dạy cho thông mọi lẽ gần xa.
Tuổi xanh con đặng trí già
Còn thơ con học hóa ra lão thành.

Con nhờ thầy công-danh mới toại.
Như nhờ cha mới giỏi hình-dung
Hai ơn ấy gẫm so đồng
Nghĩa kia như hiếu, mặn-nồng cả hai.

Xưa ruộng Thuấn voi cày chim cấy
Vì hiếu thân nỗi dậy tuổi tên.
Ðế-Nghiêu tìm hiếu truyền hiền,
Nương nơi gương ấy vẫn bền đạo con.

Mẫn-Tử-Khiên tích còn roi dấu,
Dẫy xe cha áo xấu mặt dơ,
Sợ đàn em dạy u-ơ,
Khổ thà cam khổ cũng thờ dưỡng-nghi.

Con ví biết trọng nghì phu-tử
Hiển-tông-môn khá giữ nơi lòng.
Ðừng làm nhục tổ hổ tông,
Lập thân trả hiếu nối dòng truyền hương.

Nhìn trung-đường đền ơn cúc-dục,
Nhớ công-sanh giữ chút hình-hài.
Dưỡng-nuôi lao-khổ đắng cay,
Lửa hương chính ước có ngày nối xa.

Còn em-út trong nhà thơ bé,
Trai dạy khuyên gái để khép khuôn.
Con đừng quen tánh luông-tuồng,
Các em hư nết gièo buồn song-thân.

Một cục máu chia phân mấy mảnh
Hình-hài em tượng ảnh thân con.
Chữ rằng huyết-mạch đồng-môn,
Riêng chưng thân thể, tâm hồn cũng con.

Ngoài gia-tộc nước-non vầy bạn
Lựa tài danh giao cạn tâm-tình
Ðời như trận giặc đua tranh
Dầu tài một ngựa một mình khó nên.

Coi gượng trước Thánh-Hiền ghi lại
Kết bạn nhau đạo ngãi làm sao
Tuy là khác thửa Ðồng-bào,
Mà trong sanh-tử một màu sắt-son.

Lưu, Quan, Trương giữ còn nghiệp Hớn?
Gìn trọn thề chết sống có nhau.
Dầu cơn độc-mã đơn đao,
Tâm trung nghiã-khí Ngô, Tào cũng kiêng.

Sài, Triệu, Trịnh cũng quyền như thế
Mà nên mưu đủ kế đồ vương
Tống thâu thiên-hạ Ðại-đường
Cũng do bởi học nơi trường hữu-giao.

Trong vũ trụ hiệp hòa là mạnh,
Phận đồ-thơ phải gánh non sông.
Anh em bạn tác vần đông.
Xô thành cũng ngã, lấp sông cũng bằng.

Trai nam-tử gió trăn là phận
Ðạp nước-non đặng tấn khí hùng.
Ði con đường thế gai chông,
Lớn gan hiu-quanh thì lòng cũng nao.

Tình phu-phụ biết bao nghĩa trọng,
Ðạo nhơn-luân gầy sống của đời
Dầu cho non-nước đổi dời
Còn niềm chồng vợ, còn người, còn ta.

Bạn trăm tuổi thân hòa làm một
Dầu sang hèn xấu tốt cũng duyên
Cùng nhau giữ vẹn hương nguyền
Cái duyên kình-bố là duyên Châu-Trần.

Con đường thấy phụ-nhân nan hòa
Cầm hồn hoa vày-vã thân hoa
Vợ con thay phận mẹ già
Nuôi con mẹ cậy bóng ngà nữ-dung.

Khi tối sớm lạnh-nồng có kẻ
Thân-mật con đặng dễ giữ con
Mẹ lo trong lúc còn non
Vợ con lo lúc thân mòn gối run.

Nếu khổ-cực chung cùng chia sớt,
Dầu sang vinh đừng bớt tình nồng.
Hễ là vào đạo vợ chồng,
Hư nên đều có của ông công bà.

Con chớ ỷ mình là nam-tử
Chiếm chủ-gia hẹp xử thê-nhi.
Ðừng xem ra phận tiện-tì,
Quyền trong nội-trợ cũng bì đồng nhau.

Ai nâng-đỡ khi đau lúc ốm
Ai vù tròn nắng sớm mưa mơi
Tình chung bền giữ một đới
Chia cơm cắn muối không dới lòng thương.

Áo trâu đắp đông sương lạnh-lẽo
Cửa hấp gà mở nẻo tiễn phu.
Lập thân đừng để danh lưu,
Cũng như Bá-Lý-Hề âu lạc tình.

Chém vợ để cầu vinh thuở trước
Ngô-Khởi còn gian-ngược chi danh.
Con đừng mượn nét khuynh thành
Lợi thân mà hại đến mình hồng-nhan.

Ðừng sang-trọng phụ-phàng nghèo khó.
Gặp hầu xinh vội bỏ thê hèn.
Cá kia chung chậu hơi quen,
Ái-ân đầm-thấm bởi bền nghĩa nhân.

Gương đẹp-đẽ Mãi-Thần thuở trước
Trọng nhơn luân sau trước nên quan.
Hiền-danh ghi tạc giang-san,
Nghĩa-trung đi cặp con đàng trựơng-phu.

Tống-Hoằng chí trượng-phu không đổi
Giữ nhơn-luân sợ lỗi đạo hằng
Từ duyên công-chuá giao thân,
Ðứt cơn vợ quáng ân-cần dưỡng nuôi.

Biết tình nghiã biết mùi ân-ái,
Chia đau thương cột dải đồng tâm
Kìa ai đã gọi ân thâm
Hơn niềm chồng vợ âm-thầm giúp nhau.

Ðừng đến lúc ốm đau chẳng ngó
Hương sắc xinh lại bỏ hoa tàn
Những là anh é nhộn nhàng
Buôn duyên bán nợ như hàng chợ đông.

Có chi trọng đàn ông cánh bướm
Nơi phồn-ba đậm nhượm màu gian
Ðừng quen kết lũ vầy đòan
Cửa thanh lâu những rộn-ràng gío trăng.

Giấc phong-nguyệt xem bằng túy-mộng
Vợ cùng hầu so-sóng đồng thương
Nhỏ thì trọng,lớn thì nhường
Noi cân quân-tử ra trường đánh ghen.

Coi thân vợ như em nhỏ dại
Ðem lòng yêu phận gái đơn cô
Ðặng chồng dường thể đặng mồ
Chôn thây cửa lạ cậy nhờ ở ai.

Phải tôn khí cành mai đương nở,
Ðừng xa-hoa làm mớ hàng chơi.
Sánh mình mỏng-mảnh thương người,
Rủi sanh phận gaí khó cười với thân.

Gái mẹ dạy ân-cần cho lắm
Ðừng để mình lụy đến sông tương
Bông dầu đẹp khá gìn hương
Quí chi liễu ngõ hoa tường trao duyên.

Ðóng chặt cửa giữ nguyên trinh tiết
Trọng thân danh bền nét đào yêu.
Phụng lầu gác uyển chờ tiêu
Giao cầu cho đáng nhiễu điều giá gương.

Ðừng đứng dựa sông tương nhắn khách
Ðừng trông trăng hỏi ngạch cung thiềm
Ðừng đề thi lá thơ chim
Cầu hôn để phụng đến tìm cung loan.

Con khá nhớ hồng-nhan phận mỏng
Ðừng làm cho thẹn bóng trăng xuân.
Hồng-quần tài sắc đa-truân,
Vào vòng bạc phận, chi mong trọn nguyền.

Hoa phong nhụy cung Tiên cũng nếm?
Gấm lót đường trọng tiếng cũng nhơ
Nhà vàng phận quí khi thơ
Gót sen dầu lịch cũng nhờ vẻ xuân.

Ðừng cho nhiễm lấm thân thục-nữ
Chốn phòng the cứ xủ rèm là
Vườn thu giấu dạng Hằng-Nga
Hải-Ðường nở muộn mặn-mà ái-phong.

Phàm phận gaí đứng hàng khuê-các,
Phải trau-tria tướng hạc hình mai.
Chín tầng cửa đóng then gài,
Ra ngoài nghiêm-nghị trong bày đoan-trang.

Ðối với khách đồng bàn đồng tuổi,
Nhớ cho hay lời nói giọng cười.
Ngôn từ ngọt dịu thanh tươi,
Tiếng tiêu khải phụng phục người mới ngoan.

Gặp cơn rảnh nhà lang vắng khách.
Cổng chỉ kim đèn sách học hay.
Trăm nghề dầu chẳng đủ tài,
Dệt văn Tô-Huệ gỡ dày chinh-phu.

Sửa từ nết ngày thậu tập tánh,
Trăm hạnh hay bởi tránh đều thô.
Xấu-xa rách-rưới lõa-lồ,
Ðoan-nghiêm tánh-đức cũng cho gái lành.

Còn đương thuở tuổi xanh thơ bé,
Rán theo cha học lễ học văn.
Phép xưa tùng phụ đã rằng,
Dựa thân cội-tử đợi hàng trượng-phu.

Thánh xưa dạy từ câu nói hiếu,
Ðạo thờ thân chầm khíu nên kinh.
Tích xưa nhắc đến Ðề-Oanh,
Thương cha nên phải bán mình kêu oan.

Bến nước gái mơ-màng trong đục,
Ðếm mười hai hoạ phúc khó lừa.
Xem cha cư-xử mà ngưà,
Phòng sau cho khỏi đổ thừa lở duyên.

Cao niên biết tuyển hiền đáng mặt,
Khỏi lầm mưu kẻ giặc phong tình.
Sự đời thấu rõ dạng hình.
Trá ngôn lánh chước gia-đình pháp nghiêm.

Ðợi nơi cửa khách tìm thức ngọc,
Ðừng đổ đường rời bốc đóa hoa
Trong người so sánh với ta.
Lường tài cận sắc hiệp hòa mới nên.

Ai nam tử giữ bền tơ-tóc,
Nhiều người hay lừa lọc câu thề.
Trước khen sau ắt có chê,
Ghi tâm tánh đức kiếm bề phụ nhau.

Rủi để khách tóm thâu tiết-hạnh,
Tránh không qua nhẹ tánh nghi ngờ.
So mình nắm dễ tóc-tơ,
Ngoài ra còn lắm hẫng-hờ lứa đôi.

Nét xuân sắc mấy hồi là trọng,
Xuân lỡ rồi khó mộng xuân nguyên.
Thà cho đáng mặt thuyền-quyên,
Ðừng làm cầm sắt ra duyên bẽ-bàng.

Khi gặp đặng phải trang tài-mạo,
Họăc trao trâm đắp áo làm tin
Thì toan giữ vẹn chung tình,
Ðưa thoi đừng để lỗi mình nữ trung.

Ðến lúc đã chung phòng hòa-hiệp
Phải tùng phu là phép xưa nay.
Mạnh-Quang tích trước ghi tài.
Tề-Mi vẹn đạo chẳng nài khổ-thân.

Vợ Châu-Công đình-thần mạng phụ,
Ở thôn-quê lam-lụ làm ăn.
Chồng thì triều nội cao-sang
Vợ lo canh-cửi cơ-hàn tấm thân.

Giúp chồng trọn ân-cần nhiếp-chánh,
Mới nên trang chúa Thánh tôi hiền.
Vợ không tham nhũng kim tiền
Chồng lo trọn đạo nắm quyền chăn dân.

Phạm-Trọng-yêm mấy lần xa vợ,
Nợ quân-vương nhiều thuở truân-chuyên.
May duyên gặp đặng vợ hiền,
Thanh-liêm chánh-trực giữ bền lòng son.

Phải căn nợ cách non cũng gặp,
Lỡ trái duyên vội gắp ra hư.
Con xem từ trước đến chừ.
Ðấng anh-hùng gặp anh-thư mấy người.

Dầu đẹp xấu để đời luận biện,
Vui duyên con thân miễn an vui.
Ðừng chê chồng phân thiệt-thòi,
Ðáng danh quân-tử phải người lang-quân.

Chữ hằng dạy thanh-xuân bất tái,
Vợi người rồi danh gái hết kêu,
Noi gương đức hạnh Nhị-kiều,
Dở dang Du-Sách giữ điều tiết-trinh.

Hễ thất nghĩa rẻ khinh Kim-Cải,
Khó tưới hoa trở lại thanh tươi.
Hư nên cũng có một đời,
Hay chi thay đổi nhành mai sái mùa.

Tri-âm vì đáng dây cầm nguyệt,
Ðừng đem tình chí-thiết giao-hoan.
Căn duyên dầu có phụ-phàng,
Cũng do tiết giá mở đàng ngại lo.

Trai bảy thiếp cũng cho chẳng hại,
Gái lộn chồng đã hoai tánh danh,
Con coi phận mẹ mỏng mành,
Chánh thê nay lại sánh mình thứ thê.

Muốn còn phước dựa kề quân-tử.
Phải hạ mình đặng xử vuông tròn.
Chia chồng vì dạ sắt-son,
Nhịn chồng bởi chút sắp con cái nhà.

May tiểu-thiếp biết hòa biết thuận,
An thân chồng đẹpxứng nợ duyên.
Rủi ro gặp gaí bán thuyền,
Loạn gia phải chịu thảm phiền lắm cơn.

Thà thấy dạng còn hơn hiu-quạnh,
Nên cắn răng nhịn nhín tình thương.
Ai đời thắt dạ mà lường,
Bưởi bòng bụng gaí vẫn thường giống nhau.

Cội thung thấy càng cao tuổi hạc,
Nhớ liễu mai chếch mác mà đau.
Trường-Ðình giục thảm canh thâu,
Gối còn nữa nguyệt đối đầu phòng thu.

Con quốc quốc chưa âu đổi bạn,
Máu đổ-quyên đợi mãn kiếp sanh.
Trượng-phu hà-hải đã đành,
Nỡ nào đày thiếp một mình tương-tư.

Chiêu-Quân chịu gĩa từ đất Hớn
Thân cống Hồ ngất-ngưởng tha bang.
Thiếp nay cũng giống như nàng.
Thân Hồ tâm Hớn đôi đàng khó nguyên.

Còn Tinh-Vệ lấp phiền biển ái,
Ðòi trả chồng hà-hải sóng chôn.
Thiếp thân như ốc mượn hồn,
Sống không thiết sống chết còn ngậm đau.

Nơi Phiên-Quốc xôn-xao lượng thảm,
Hạnh-Ngươn xưa đã dám hi-sinh.
Cũng như thiếp nặng khối tình,
Gãy trâm Lương-Ngọc bễ bình Lý-Uyên.

Dầu chàng có vui riêng quên thiếp,
Thiếp cũng lo tội-nghiệp thân chàng.
Ðậm hương cho toại hồng-nhan.
Gẫm thân có lúc khốn-nàn ốm-o.

Thương chi thật con đò đưa khách,
Nghĩa chi nồng những cách bán duyên.
Còn thân còn mến còn quyền,
Hết ưa hết chuộng thì duyên hết nồng.

Ðây còn nổi bế bồng thêm trẻ,
Hễ giao tình chẳng lẽ không con.
Hai vai gánh nặng thân mòn,
Cơn đau thất nghiã hầu hờn giảm thương.

Chẳng như thiếp nhớ ơn giải cấu,
Mến từ khi mở nụ đào yêu.
Trăm cay ngàn đắng cũng chiều,
Quí thân quân-tử dám liều với thân.

Rẻ rúng bấy hễ cân cũng trọng,
Quí bao nhiêu hờ-hững cũng khinh.
Chàng thì nhẹ thể vì tình,
Thiềp thì lo sợ lụy mình trượng-phu.

Niềm âu-yếm ai đâu rõ giá,
Vui trăn hoa dối trá là thường.
Ăn nhờ, ở tam mua thương,
Tiếc chi những thói hoa tường buôn ong.

Trông tin nhạn về đông mòn-mỏi,
Thả lá hồng biết hỏi nơi ai.
Khối sầu càng chất càng cay,
Chờ năm, năm lụn, đợi ngày ,ngày qua.

Soi kính cũ mặt hoa đã nhíu,
Tóc hoa râm mày liễu ướm sương.
Mùi chê dưới mắt chán chường,
Còn duyên chi mộng đến đường tái hôn.

Thôi đành gởi tâm-hồn gió tuyết,
Theo nương con cho hết tam tùng.
Hoặc là tròn nghĩa thủy chung,
Hoặc là chia dạ não-nùng với con.

Ngắm đường thế đã mòn vinh-nhục,
Ðổi thay duyên đặng phúc hạnh gì.
Lánh buồn lại lạc lối bi,
Rẽ duyên kim cải đem bì phấn hương.

Liếc mắt ngó vào trường phong-nguyệt,
Mua trận cười nào tiếc ngàn vàng.
Chừng cơn phấn lợt hương tàn,
Núm mồ bạc-mệnh bên đàng cỏ chôn.

Nào những khách đoạn-trường kim cổ
Bởi trái duyên nên lỡ gót trần
Bán xuân khi đắt giá xuân,
Thu qua để thẹn hồng-quần biết bao.

Hỏi đến khách sớm đào tối mận
Ðọn những trang ngọc cận hương thân.
Tầng nghe giá tuyết trong ngần,
Cớ sao bị nhiễm phong-trần bởi đâu.

Bởi thuyền bá sóng xao biển ái,
Bởi non thề sương trải lạnh lùng.
Bởi chàng phụ tấm tình chung,
Bởi tơ-duyên cũ, tơ-hồng hết xe.

Bởi nhan-sắc không khóc không mặn,
Bởi hơi đồng không thẳng không kiêu.
Bởi quen mùi vị phòng tiêu,
Bướm ong kiếm dựa vườn điều đổi hướng.

Bởi hoa chạ bên đường dễ hái
Bởi buôn hương nặng ngãi nhiều nhơn.
Ðờn hay vặn lắm trục lờn,
Ðổi hơi cầm sắt ra trường ca xang.

Bởi vào trướng ra màn hết vị,
Bởi ngồi lơn lên kỷ hết nồng.
Nên ưa mèo mả gà đồng,
Bỏ hình loan-phụng, dựa lồng chim xanh.

Bởi mến cảnh đôi cành đài liểu,
Bởi ưa hoa, bận-bịu đài hoa
Bởi ham nguyệt rạng lánh nhà,
Ðèn chong buồn-bực, lập lòa rèm thư.

Bởi quen mặt đào châu bớt đẹp
Bởi nhìn thường hoa ép liễu nài.
Chê vành xuân hết bịu mai,
Kiếm đường hỏi liễu-chương-đài bao mươi.

Bởi cửa tiá bóng trời nồng-nực
Bởi thiên thu, gió chặt đường ong.
Cánh hồng quen với cuồng-phong,
Nước non thế-giới vẫy-vùng tinh trăng.

Bởi cung quảng, bóng hồng nhấp-nhoá
Bởi đến Ngô, nghe gã Tây-Thi.
Bởi ham bóng sắc hơn chì,
Mỹ-nhân thấy dạng kể gì đến duyên.

Quen xa-mã chê thuyền là chặm,
Ðã mùi chàm, gọi thấm là hơn
Ca hay quên hẳn giọng đàn,
Một đêm tùy-mộng sánh hơn gặp vàng.

Nơi tửu-điếm, nhà lang khác hẳn,
Vợ chồng thường ít sẳn chiều thương.
Trà-mi kém sắc hơn hường,
Tiếng cười Bao-Tỷ hơn hờn Phan-Vương.

Thiếp biết phận cánh bườm dưới gió,
Ðã khổ đời chiụ khổ cùng đời
Thuyền nan sợ sóng dòng khơi.
Khúc quanh eo hẹp, chìu thời khúc quanh.

Soi dòng nước đặng nhìn thấy dạng,
Thấy nghi-dung hết mặn nét ngài.
Chẳng còn yểu điệu hình mai,
Da mồi tóc đã ướm thay nửa vàng.

Mảng gượng vui cùng đàn cháu dại,
Chỉ lời hay sự phải khuyên răn.
Tóc xanh là bạn mày nhăn,
Nên ba dạy cháu biết bằng năm mươi.

Khóc của mụ pha cười của trẻ,
Chậm của già đổi lẹ của tơ,
Ngắm coi cái nhỏ bây giờ,
Nhớ trong cái lớn mịt-mờ chiêm-bao.

Nương con gậy ra vào lụm-cụm,
Lưng gối dùn lững-thững bước đi.
Thôi gần hết kiếp làm gì,
Co tay đếm tuổi quá kỳ tri thiên.

Bổng tiếng sấm gần bên tai nổ,
Nghe tin chàng mệnh số du tiên.
Ôi thôi trời động đất nghiêng!
Chết chàng hồn thiếp chơi miền âm-cung.

Khi tỉnh giấc còn trong vòng tục,
Mới biết thân ít phúc hơn chàng.
Giá chi một mảnh xương tàn,
Ðày cho thêm nỗi đoạn tràng tử-ly.

Một thân goá than-ly lại mặc,
Chống gậy lê, nhúc-nhắc đưa linh.
Ðầu sương chất trắng khối tình,
Bao nhiêu ân-ái trong mình tử thi.

Ngó vạn-vật cũng kỳ lẽ chết,
Nghe non sông như hết khí sinh.
Hỏi ta có sống thật tình,
Hay là giấc mộng Diêm-đình đưa nhau.

Xem cây-cỏ như màu thảm-đạm,
Ngó thú-cầm dường cảm đau thương.
Ðất nhà cảnh vật ruộng vườn,
Hình chàng như gắn nẻo, đường vô xa.

Kìa đào lý, tàn già đã cổi,
Nhắc tượng chàng dựa cội trông hoa.
Nào là trời lặn bóng tà,
Ðèn khuya chớ lụn canh gà thăm em.

Kìa cụm liễu, gió đêm xao-xác,
Ðám chim chiều tìm mát nghỉ ngơi.
Ấy là nơi thiếp trao lời,
Trăm năm khi hứa nửa dời buổi nay.

Kìa đầu rừng chòm mai đua nở
Trước xem màu hớn-hở như nay.
Cớ sao như ủ như vày,
Hay là nhắc thiếp những ngày trao tơ.

Kìa lũ én dật-dờ cánh liệng,
Dựa chơn mây kêu tiếng nỉ-non,
Cớ sao ngươi cũng vẫn còn,
Chồng ta thân mất hình chôn cớ nào.

Bầy hồng nhạn lao-xao vịnh liễu,
Ðám cò ngà bận-bịu gành khơi.
Là nơi lúc đứng khi ngồi,
Trông trăng hẹn biển, ngó trời thề non.

Kìa đường cũ bước mòn lãng-tử,
Ðám thú nhà dụ-dự bước chiều.
Ấy là nẻo thiếp đến kêu,
Chàng về kẻo trể quá chiều bửa cơm.

Kìa bến nước dập-dồn sóng dợn,
Chỗ đôi ta vui giỡn khi thơ.
Cũng cây, cũng bải, cũng bờ,
Mà sao buổi ấy bây giờ khác nhau?

Kìa nhịp cầu bên đầu khe nhỏ,
Ðông chòm cây tây có triền bưng.
Ấy nơi đôi lứa gặp mừng,
Mà nay như nhắc mấy từng tương-tư.

Kìa chùa cũ nóc như muốn sập,
Nơi đôi ta lén gặp gỡ nhau.
Cớ sao cảnh tịnh úa xàu,
Hay là thấy thiếp mà sầu lẻ-loi.

Bóng hải-đường ta ngồi buổi nọ,
Bồng con thơ tìm ngõ nhà thầy.
Còn am-tự, còn chuà mây,
Mà chàng đâu vắng, chốn này lặng trang.

Kìa cuối xóm mấy hàng trước tử,
Nọ đầu làng, chài lữ phơi sương.
Ấy là nơi thiếp đến thường,
Thăm chàng đang học nơi trường sân Ngô.

Kìa xóm rẫy nắm mồ lố-xố,
Nơi đôi ta tảo-mộ đạp thanh.
Gò đâu phút nỗi thình-lình,
Nào dè chàng cũng đến giành một nơi.

Ðể thân thiếp mình ngồi hiu-quạnh,
Còn thây chồng quyết lạnh nắng hồng.
Ðã đành bẻ gãy chử đồng,
Chia đôi thiếp xóm, chàng đồng không hay.

Tiếng oan-ương bên tai dan-díu,
Gió đẩy-đưa bờ liễu lao-xao.
Lạ nghe lời vật thế nào,
Mà ra như tiếng chàng chào buổi xưa.

Nhành dâu khuất bóng dưa mờ-mệnh,
C.i tà dương như hết reo chiều.
Hương tàn gió tối hiu-hiu,
Dở chơn hỏi nợ buổi chiều nghỉ đâu.

Ai sau gót giây lâu như nói,
Xin người thương tha lỗi khi xưa.
Giận đem đổi nhớ cũng vừa,
Trách mình nào có đỗ thừa phụ duyên?

Phải buổi trước đừng phiền đừng oán,
Ðể nguyên tình uống cạn chén tình.
Làm chi sĩ nợ ba sinh,
Mà nay phải chịu một mình riêng thương.

Tội chàng trước, tiêu dường tuyết-giá,
Còn thiếp mang trọn cả lỗi chàng.
Lời phiền đổi lại tiếng than,
Thương kia bao nã lại càng thêm thương.

Ðời vắn ngủn, huỳnh-lương in giấc,
Kiếp phù-sanh đặng thất nơi thân.
Còn thân sống chịu phong-trần,
Dức hơi dầu muốn trọn gần cũng xa.

Nếu thiếp trước biết hòa biết thuận,
Nhẫn ghen tương nhịn lẫn ân-tình.
Chia thương ơn ấy đã đành.
Thứ thê chánh-thiếp giựt-giành chi duyên.

Giọt lệ thiếp vì phiền mà chảy,
Gẫm thương người chia dải đồng tâm.
Ta than lỗi bậc cung cầm,
Nàng sầu nhạn lạc ngư trầm biển mê.

Vắng mặt chàng thiếp về kiếm kẻ,
Chia tương-tư đặng để nên tình.
Vì chàng thiếp kế bố kình,
Giữ câu hải-thệ sơn-tinh với nàng.

Mảng sầu muộn ngổn-ngang trăm mối,
Chùa thu-không bóng tối mịt-mờ.
Oanh về tổ, dế reo tơ,
Ðường về vắng bước như tờ canh khuya.

Tiếng u-minh tía-lia gợi thảm,
Giọng kình khua cửa Phạm dập-dồn.
Câu kinh tiếng kệ gọi hồn,
Kêu thương khách tục, giải lòng người nhân.

Rồn để bước đến gần điện thánh,
Nhìn tượng thờ lại ngảnh thân mình.
Sao đó hiển, sao đó linh?
Phải chăng trước cũng lụy tình như ta?

Ðau-đớn thế nắn ra tượng Phật,
Lánh khổ nên vụ tất cửa Không.
Biết chăng cái thảm mất chồng,
Xin cho thiếp dựa nơi lòng từ-bi.

Hay sợ khổ sanh ly tử biệt,
Nên tìm phương dứt tuyệt nợ đời.
Biết chăng tình aí của người,
Xin cho thiếp hiểu ít lời chơn-ngôn.

Hay đã sợ thân mòn gối mỏi,
Mến ngày xuân mà tuổi không chờ.
Linh-đinh bể khổ dật-dờ,
Xin cho thiếp gởi thân nhờ cửa Không.

Hay đã sợ nắng nồng tuyết lạnh?
Cảng đau thương khó lánh thân phàm.
Thuyền tình chịu sóng không kham,
Xin cho phận thiếp biến làm ni-cô.

Buồn tình lóng nam-mô câu tụng,
Nhìn tượng cây rồi khủng cho thân.
Thân còn nương giữa phong-trần,
Khổ kia còn đếm mấy lần mới thôi?

Rón-rén trước Phật ngồi cúi gật,
Mấy lạy trình mấy nấc tương-tư.
Mảnh tâm xin gởi bấy chừ,
Nương theo thuyền huệ vào bờ tương giang.

Lui chơn kiếm con đường nhà nội,
Lửa đốm nhen dẫn lối thảm trang.
Mắt xem cái cảnh điêu-tàn,
Lòng thương dường đổ dãy tràng khắp nơi.

Tiếng dế giống như lời chia thảm,
Ngọn đèn khuya nhấp-nhoáng mùi thương.
Thương vì trong kiếp đoạn-trường,
Cùng căn là chết ấy đường xưa nay.

Một ngày sống là bày bước chết,
Sợ chết nên không tiếc sống thừa.
Ðời không mến thế không ưa,
Lòng thương nảy-nở cho vừa tốt-tươi.

Vì sợ chết mà người kiếm sống,
Trong căn oan lại mộng tầm duyên.
Giá hay sợ thế nên hiền,
Khuyên đau giải thảm đổi phiền của ai.

Một vật nhỏ cũng mài cũng gọt,
Của dầu hèn cũng mót cũng cằn.
Giá kia nào kể nên chăng,
Tay chân chàng để cũng bằng báu châu.

Thấy ai thảm lòng đau ái ngại,
Nghe kẻ sầu như cháy lòng thương.
Lau giọt lệ giải tan-ương,
Chia cơm nhịn muối đỡ đường khó-khăn.

Thấy ai thảm lòng vàng xót-xáy,
Nghe kẻ sầu như cháy tâm can.
Lau giọt thảm, giúp tai-nàn,
Nâng hình quân-tử với hàng lụy chung.

Khi ghen ghét không cùng gặp mặt,
Nay thấy nhau mà bắt động tình.
Hơn chi giành én giựt anh,
Thước cưu khuất bóng dựa cành chung nhau.

Học cho thấu máy linh cơ tạo
Xem nét thảm nàng đau như thiếp,
Trông tình chung mòn kiếp hồng-nhan.
Phăng tâm dòm mảnh đoạn-tràng,
Thì trong mấy khúc của nàng như ta.

Sầu đã cháy mặt hoa ủ-dột,
Thảm đã tràn hình cốt héo-don.
Xuân mai ba bảy đã mòn.
Cội thu thêm nảy mấy hườn anh nhi.

Tay bồng con tay thì dìu trẻ,
Cảnh gia-đình quạnh quẻ không ai.
Hương thề để trước vị bài,
Châm đề thấy rõ những ngày biệt phu.

Cặp liễn tang còn câu long-ám,
Hạc qui hồi lãnh đạm trần ai.
Quả như chàng có chốn này,
Tưởng khi đổ lụy châu mày với duyên.

Hỏi đon thử lời nguyền khi trước,
Gẫm thân nàng bạc phước như ta.
Oán hình liễu, ghét mày hoa,
Kiếp tu mỏng mãng mới là nữ-nhi.

Giọt lụy đổ không chi ngăn nổi,
Thương thân nàng chung với thân mình.
Thượng chàng đầy-dẩy mông-mênh,
Khối thương khó lấy gaó tình đem đong.

Ðôi mặt cách, mà lòng vẫn một,
Khác tông-môn hài-cốt hòa chung.
Thề nhau trọn kết dải đồng,
Cám ơn chàng giúp mặn-nồng nghĩa-nhân.

Chia gia-nghiệp trong cơn khốn-khó,
Hiệp đôi nhà con nhỏ làm chung.
Này là vẹn giống trọn dòng,
Nàng sanh thiếp dưỡng cũng đồng như nhau.

Lập gia-thất làm giàu con trẻ,
Ðịnh lứa đôi đủ thế cùng đời.
Nàng thì an phận, an nơi,
Con thì đáng mặt, đáng người với ai.

Khi thong-thả đặt bài trẻ học,
Lấy gương già gợi chọc sắp con.
Nhìn non chỉ nước làm hơn,
Mượn bầu tuế nguyệt, giải hờn căn sanh.

Cỏ huyên cắm kềnh-kềnh đầu tuyết,
Con gậy lê mòn khuyết nửa cây.
Mắt mờ thêm nỗi lãng tai,
Thất tuần đã quá từ ngày ấu-xuân.

Dò đon hỏi bước rừng thiền cũ,
Rằng Phật còn ở ngụ Lôi-Âm.
Tính niên rồi lại tủi thầm,
Con đường cực-lạc biết tầm sao ra.

Nhẫng vơ-vẩn vào ra bến khổ,
Trước mặt xem những chỗ sầu than.
Này là hình ảnh của chàng,
Này là tiếng khóc của đàn trẻ con.

Này là chỗ thiếp còn niên thiếu,
Này là nơi chàng níu thiếp trì.
Này là buổi hiệp hồi ly,
Này là khi khóc khi thì cười mơn.

Này là chỗ lời hơn tiếng thiệt,
Này là nơi cách biệt sanh-ly.
Này là chỗ thiếp chẳng vì,
Này nơi chàng giận ra đi bỏ nhà.

Nầy là chỗ đôi ta tái hiệp,
Nầy là nơi vừa hiệp vừa vui.
Nầy là chỗ thiếp đang ngồi,
Tin nghe chàng đã qui hồi tiên-bang.

Các chỗ ấy dẫy tràn thảm tín,
Càng ở gần khó nhìn sầu than.
Cam tâm nín-nẫm gia đàng,
Vì con chưa giữ vững-vàng qui-mô.

Nay tuyết đóng song hồ đông lãnh,
Dành cửa không gởi mảnh tâm hồn.
Tiếng chuông thức giấc huỳnh-lương,
Toan nương thuyền huệ, vào đường vĩnh sanh.

Bước cảnh tịnh đã đành để cẳng,
Tóc qui-y nửa trắng nửa vàng.
Phồn-hoa xa mã rộn-ràng,
Vinh-vinh nhục-nhục dãy-tràn kiếp-căn.

Ngắm thế cuộc chẵng bằng một giấc,
Kiếp phù-du đặng thất là bao.
Nhẫng là đeo thảm chác sầu,
Tóc xanh cho tới bạc đầu cũng tin.

Nào là phép giựt-giành quyền lợi,
Nào là phương chuộng với cầu vinh.
Thử đem sánh khổ kiếp sanh,
Chưa ai thấy đặng phước dành phần hơn.

Nào vui gượng, do cơn khóc lỡ,
Nào là khi chịu tớ làm thầy.
Quyền là chi lợi là chi?
Dứt hơi ba tấc có gì gọi hay.

Nào là lúc ăn cay uống đắng,
Nào là khen rồi mắng bao phen.
Tuồng đời trọng-trọng hèn-hèn,
Chẳng qua bướm tối, mến đèn xôn-xao.

Nào chữa đẻ biết bao khổ nhọc,
Nào hơn thua theo học sách đời.
Tang thương lúc biến khi dời,
Trăm năm e cũng một đời thế thôi.

Nào tranh đấu thắng rồi lại thất,
Của phù-du chứa chất gọi giàu.
Thân còn đã quí là bao.
Dứt hơi của cải thế nào không hay.

Thiệt thì bỏ,giả vay nên nợ,
Mãn căn xưa chưa mở dây oan.
Kia là vua,nọ là quan
Cũng như bọn hát, hí tràng bán vui.

Sống thấy chết miệng cười mắt khóc,
Nịnh lừa trung lưỡi thọc tay đâm.
Cũng như ác thú nhốt hầm,
Ăn nhau cho đã nào cần mệnh nhau.

Muốn lấy đạo làm đao hai thế,
Toan dùng văn, gọi kế sanh nhai.
Ðường hung ác, nẻo chông gai,
Lấn chen vào chốn nghiệt-đài gọi ngoan.

Mạnh hiệp yếu lấy gan hung bạo,
Dữ lấn hiền gươm giáo là hơn.
Nhẫng lo chác oán mua hờn,
Hại nhau chẵng biết nghĩa nhơn thế nào.

Thấy cảnh thế mà đau với thế,
Biết thương đời mấy kẻ vì đời.
Ngán thay cái kiếp con người,
Thôi đành bến Phạn để lời phật răn.

Thay đạo-phục bước xăng lánh thế,
Mơi thì kinh, tối kệ giải lòng.
Từ-bi hứng giọt nhành-dương,
Lau thanh trái chủ, lấp đường nghiệp căn.

Ðoạn tình ái đem quăng bể khổ,
Bứt hồng-duyên tính bỏ non thề.
Nầy bờ tục, nọ bến mơ,
Từ đây không trở lộn về thấy ngươi.

Vì thấy đó phải cười lộn khóc,
Sách của ngươi chẳng học mà say.
Của ngươi, của đoạ, của đày,
Ghét ngươi ta dứt từ ngày buổi ni.

Lần chuỗi hột từ-bi cửa khổ,
Nương gió thanh trăng tỏ là nhà.
Nước non để bước ta-bà,
Sô liêm đem nhuộm màu dà gọi duyên.

Trương thẳng cánh con thuyền Bát-Nhã,
Cỗi đau thương giải quả trừ khiên.
Lấy thân rửa thảm lau phiền,
Ðem công chuộc khách thuyền-quyên lụy tình.

Túi gió trăng thinh-thinh rộng mở,
Vui hạc cầm hay dở thú riêng.
Khi động Thánh, lúc non Tiên,
Sớm thì Hải-Ðảo tối miền Thiên-thai.

Ðạp giày cỏ nương cây gậy bá,
Mặc áo tơi nón lá che thân.
Trừ trần-cấu, xũ phất-trần,
Quen bờ biển trí, dựa gần non nhân.

Ðến phồn-hoa thân gần tục-lự,
Chơi lầu hồng hỏi thử trái căn.
Chuỗi bồ trừ nghiệt gió trăng,
Linh-đơn cứu kẻ khổ phần liễu hoa.

Gót nhân-ái đế nhà kẻ bịnh,
Giọng từ-bi thức-tỉnh hung tâm.
Giữa cơn náo-loạn trổi cầm,
Lấy hơi hòa-nhã dẹp lần bỉ-thô.

Giúp những kẻ ôm mồ thủ hiếu,
Dỗ những trang bận-bịu khối tình.
Dọ đường phước giúp mày xanh,
Ðưa con thuyền hạc đến gành thiên-lương.

Tưới hoa chạ bên đường vô chủ,
Ðậy giậu thưa cúc xủ mai xàu.
Bỏ lòng thảm, dệt tâm đau,
Nâu-sồng cậy phép đổi màu anh hoa.

Câu tư biến ra bác-ái,
Nghiệp oan khiên đổi lại hồng-ân.
Khi kinh Thánh,lúc kệ Thần,
Ðọan-trường diệt dứt nợ-nần nữ-lưu.

Lầu xanh dậm màu tu trở vẻ,
Cửa không môn mở hé chơn hồng.
Thu-phòng học chước thu không,
Ðốt hương cho ấm cho nồng phòng tiêu.

Ðưa tuổi hạc quen chìu non-nước,
Mượn bút nghiên làm chước chê đời.
Nâng hầu nhựt-nguyệt lưng vơi,
Dành gương liệt-nữ để lời trinh-phu.

Nắm huệ-kiếm định thâu trái chủ,
Mặc đạo y, sạch giũ phồn-hoa.
Nơi bến khổ, để bước già,
Xuân xanh noi dấu xây tòa anh-phong.

Cột thân-ái cây lòng đạo đức,
Gầy từ-tâm gắng sức ôn-nhu.
Nung trang trí-thức nữ-lưu,
Biết thân giữ mặt hảo-cừu giai-nhân.

Giồi trí-thức tinh thần đẹp-đẽ,
Trao tài-ba vẹn vẻ anh thư.
Vinh thì chuộng, nhục thì từ,
Cân cao tính thấp đặng trừ thiệt hơn.

Nước ma-ha rửa hờn nhi-nữ,
Chuỗi bồ-đề gìn giữ hồng-nhan.
Cây trăm thước, đổi hương tàn,
Treo y bá-nạp làm màn phòng the.

Ðể chuông mõ dựa kề son phấn,
Chất nhơn-tình chồng cận kệ-kinh.
Tâm ẩn ái giúp chí-linh,
Biển mê chèo thuyền tình độ nhân.

Lấy tâm chánh làm cân đong thế,
Cậy lòng lành làm kế dìu đời.
Chông gai, vạch bước thảnh-thơi,
Cầm phương cứu khổ, độ người trầm-luân.

Vẹn nhân-đạo đi lần nẻo chánh,
Ðến vô-ưu, đặng lánh nhơn-luân.
Thuyền con mệnh-mệnh như rừng,
Ðọn đường thánh-đức hỏi chừng Như-Lai.

Am-tự đóng, chặt gài bước tục,
Nước Cam-Lồ, cho phước tiêu-diêu.
Oan-trái dứt, nghiệp chướng tiêu,
Cảnh vui Cực-lạc mỹ-miều vẻ-tâm.

Lánh bợm tục, tình thâm cũng tránh,
Trốn đau thương, xa cảnh trần-gian.
Biến thân hạc nội mây ngàn,
Nắm phan tiếp dẫn, mở đàng Lôi-Âm.

Nơi cảnh tịnh, âm-thầm vui thú,
Ðem tâm tình để ngụ đài sen.
Thông-dong quạt gió trăng đèn,
Nhành dương làm bạn, sách hiền gợi quen.

Bế ngũ-quan không kiêng tục tánh,
Diệt tục trần, xa lánh phàm tâm.
Mệnh thiên giữ vững tay cầm,
Ðoạt phương tự-diệt, giải phần hữu sinh.

Linh linh hiển hiển, khinh khinh khứ,
Sắc sắc, không không, sự sự tiêu.
Chơn-linh đẹp-đẽ mỹ-miều,
Xuất dương sớm đã đến triều cung-hư.

Ngũ khí thanh diệt trừ quả kiếp,
Linh quang đầy đặng tiếp hồng-ân.
Xác tại thế, đã nên Thần,
Ba mươi sáu cõi, đặng gần linh thiên.

Hiệp tạo-hóa cầm quyền chuyển thế,
Dạy vạn-linh dụng thế từ-bi.
Sanh ấy ký, tử là qui,
Diệu-huyền cơ tạo, chẳng gì gọi hơn.

Chừ mới rõ nguồn cơn kiếp sống,
Tấc thây phàm rất mỏng số căn.
Ham phương cứu thế độ nhân,
Giải mê khách tục, cõi trần lánh xa.

Lấy bác-ái làm hòa vạn-vật,
Ðem thiện-duyên xây nấc thang hồng.
Ðọan căn đóng chặt âm-cung,
Tòa sen chín phẩm, để cùng Phật tâm.

Trăm tuổi sống chẳng lầm tuổi sống,
Một kiếp sanh, chưa trọng kiếp sanh.
Thay thân tạo-hóa là mình,
Nâng-niu sanh chúng mới đành chữ nhơn.

Ngối mà lóng tiếng đờn vô cực,
Phước siêu thăng đặng thất nơi ta.
Biết coi thế giới như nhà
Sống nên chí Thánh, thác là Thần Tiên.

Thiếp nhờ Ðạo giải phiền diệt khổ,
Biết may duyên, lựa chỗ gởi tâm.
Tìm đâu đặng kẻ tri-âm,
Ôm thương đem gởi cảnh thần cửa không.

Càng ngó trái lại miền thế tục,
Lụy nhỏ dầm, đôi khúc lòng đau.
Ái-ân, ân-ái là sao,
Ðày thân lắm khách má đào gian-truân.

Chịu mòn-mỏi mảnh thân nhi-nữ,
Cũng toan lo gìn-giữ khối tình.
Trăm năm dầu sống mảnh hình,
Thì trong tâm-lý đã đành tiêu tan.

Nào những mộng mơ chàng duyên thiếp,
Nào những mơ ý hiệp tâm đầu.
Duyên là đâu, nợ là đâu,
Chẳng qua biển khổ bắc cầu sống mê.

Khối thảm chất tràn-trề bể hẹn,
Giọt đau thương quá chén hiệp phu.
Hễ là trí, ấy là ngu,
Càng say âu-yếm, càng sầu nhớ thương.

Khách má phấn môi son đậm sắc,
Ðặng đem mồi trêu mặt ác-phong.
Ðâu chữ tiết gọi là đồng,
Lời than tiếng thiết để lòng trăm năm.

Chẳng qua khách ăn nằm quán tục,
Vắng một ngày lâu chút trọn đời.
Hỏi ai thỏa chí ai ôi,
Tra phòng hiệp-cẩn, boa hồi khóc riêng.

Một câu mến gieo phiền muôn tiếng,
Ðôi lời phân, ngàn miệng xa-xôi.
Hỏi ai trộm đứng lén ngồi,
Những cay, những đắng cái mùi ra sao?

Tính để viết khuyên rào thiết ngọc,
Thì sợ e ghẹo chọc si-tình.
Còn không để trọn lời lành,
Lại e cho gái nhẹ mình nữ trung.

Toan để bút, ngăn vòng chồng vợ,
Thì lại e nghịch nợ tiền khiên.
Còn khổng lưu lại lời hiền,
Mưu chi gỡ nổi, thảm phiền đạo thê.

Thấy trẻ gái dầm-dề lụy đổ,
E cho sau chịu số như già.
Muốn khuyên đầu Phật xuất gia,
Lại e để hại nước nhà khuyết dân.

Thấy nhi-nữ kiếp căn mỏng-mảnh,
Muốn binh lời làm mạnh đỡ nâng.
Lại e lỗi đạo nhơn-luân,
Dở-dang gia-pháp vương-thần loạn ngôi.

Gẫm thân gái, trọn đời cực nhọc,
Tính buông câu gọi chút nghỉ-ngơi.
Lại e sái thế lỡ thời,
Giúp nam-nhân, chẳng có người trọn tâm.

Nghĩ phận vợ ngàn trăm đau-đớn,
Sanh đẻ con nuôi-dưỡng nhọc-nhằn.
Muốn khuyên giảm bớt ái-ân,
Lại e giục kẻ Tấn-Tần chia phôi.

Nên ngậm thảm, đặng ngồi nuốt thảm,
Toan buông lời, chẳng dám hở môi.
Lén xem sự thế ngậm-ngùi,
Nguyền trông chỉ đợi phép trời dạy khuyên.

Tay lịch-sự tự nhiên chê sự,
Lòng đa tình vẫn cứ vị tình.
Biết tùng quyền, hiểu chấp kinh,
Tìm phương hay gởi lấy mình cửa tu.

Nhẫng thảng mãn tháng thâu năm lụn,
Sớm công-phu, tối tụng vãng-sanh.
Ðã quen cảnh phạm lánh mình,
Nên phương nhờ bởi đoạn tình ái yêu.

Nghe một sự hiểu điều khác nghĩ,
Trong thất tình, tiêu-hủy không không.
Hết ham danh, chẳng mến công,
Xem hình lẫn lộ, bùi nồng thế gian.

Cây trăm thước bắc thang bến khổ,
Hoa bốn mùa thơm chỗ nhớp-nhơ.
Vui đọc truyện, buồn ngâm thơ,
Non vu lấp nẻo đàn tơ dở mùi.

Ðếm thử tuổi tám mươi đã quá,
Giấc Nam-kha giục-giã tỉnh mê.
Tâm-thần mỏi-mệt ủ-ê,
Khối sanh khi đã gần kề dứt hơi.

Khổ bịnh thấy trêu người đã quá,
Buổi vãng sinh giục-giã kêu hồn.
Tỉnh say trong kiếp dương-môn,
Nữ thì thấy cảnh hoàng-hôn mộng hình.

Muốn gặp mặt thâm tình gởi trối,
Những lỡ bề vì buổi đoạn từ.
Không nhan tín, khó hồng thư,
Viết quơ chẳng nỗi, giấy như tránh đề.

Muốn nhắm mắt một bề cho khoẻ,
Những tình hình mọi vẻ trêu ngươi.
Khi thì khóc, lúc thì cười,
Bao nhiêu tình nghiã, một đời thoáng qua.

Tám chục năm lâu xa cách mấy,
Trong giấc mê xem thấy ngắn thay!
Ba vạn sáu ngàn ngày.
Cõi dương-gian với thuyền-đài gần nhau.

Nhớ con cháu còn lâu kiếp sống,
Dầu gặp hình như bóng sá chi.
Dỡ hồ-phách, yếu thây thi,
Dậy ngồi chẳng nổi, bước đi không rồi.

Gắng cầm viết, nín hơi sống rốt,
Ðề năm vần, khắc cốt nữ-lưu.
Dứt tình ái, giải sầu ưu,
Hễ thương thì cũng lo mưu giữ mình.

THI:

Giữ mình dầu vẹn tấm tình chung.
Danh tiết nữ-lưu ở phụ tùng.
Mặt biển khổ dồi-dào ái thủy,
Ðầu non thế hoại-hủy hương nồng.

Mày xanh khá nhớ cơn đầu bạc
Ngọc trắng đừng cho nhiễm bợn bùn.
Khí tượng anh-thư gìn lẩn giá.
Giúp đoàn nhi-nữ mở non sông.

Rán quá sức cẩn phong thi nhan.
Dường say mê, lơ lảng tinh thần.
Sấn tay thêm một chữ thân.
Ðể dành gỡ khổ, đoạn-tràng hồng-nhan.

Buông ngọn viết vào làn mây trắng,
Hễ có thương nhớ dạng là hơn.
Cảnh thiên gởi tấc hương hồn,
Ðể câu tiết nghĩa vĩnh-tồn hậu-lai.

Ðời đời danh chói CAO-ÐÀI.

YouTube Preview Image


LỜI VÀNG MẸ DẠY




Leave a Reply