AN THỌ KHỔ NHẪN

Dec 29, 09 | Tâm Duyên | 2,483 views | No Comments



Share |




(trong tình anh em, nghĩa bạn, an tự thân)


nhanNhẫn với bằng hữu nên danh tốt, nhẫn với anh em nhà phú quí, tự thân nhẫn khỏi hoạn họa.

1. Nhẫn với bằng hữu và anh em là nhẫn lợi nhẫn danh, nhẫn tự thân là nhẫn sắc, tửu, phiến, nhẫn chịu thời tiết, nắng mưa, an bần lạc đạo và vui nhẫn với những cái khổ về sanh, lão, bệnh, tử. Những cái khổ có thân là có khổ, không sao tránh được phải vui chịu sẽ có sự yên ổn và an lạc được.

2. Nhẫn với bằng hữu và anh em như nhẫn về danh thì ví như ta cùng bạn và anh em cùng nhau chung làm việc gì hễ nên thì ta nói là nhờ anh, em, bạn ta, thường phần tốt, ta lãnh tiếng xấu, trái lại cùng nhau làm mà hư hỏng thì ta lãnh chịu phần lỗi, lãnh tiếng xấu về mình. Về tài lợi danh cũng nhẫn thế. Việc nhẫn rất nhiều dễ hiểu nhưng khó nhẫn. Tự thân tác tám thứ khổ không ai tránh được, nếu không nhẫn thì buồn rầu bực tức khóc than, rồi cũng phải lãnh lấy, trái lại thì cứ vui chịu vì nó như vậy, nó đến và cứ đã thầm đến không sao tránh được.

Tám thứ khổ: Đó là 4 thứ khổ về thân: (1) Sanh, (2) Lão, (3) Bệnh, (4) Tử; còn bốn thứ khổ về Tâm là: (5) Cầu bất đắc khổ, (6) Ái biệt ly khổ, (7) Oán tằng hội khổ, (8) Ngũ ấm xí thạnh khổ

(1) SANH KHỔ

Có thân là khi thọ sanh trong bào thai sanh ra khổ, còn bé tắm măng phải nhờ mẹ che đậy đùm bọc bú mớm, phải nhờ cha dưỡng nuôi, lớn lên phải tảo tần tranh đua bôn nam tẩu bắc, trăm phương, ngàn kế sanh sống là khổ.

“Chào đời bằng tiếng khóc tu oa
Vừa thấy trần gian biết khổ a!
Nuôi miệng lây quây lo tráo chác
Gìn thân lẩn quẩn sợ oan gia
Bận thêm con, vợ, nghèo, đau, đói
Còn nỗi quốc gia lại địch nha
Mãn tháng cùng năm lòng nơm nớp
Lo còn lo mất khổ cho ta.”

(2) BỆNH KHỔ

Có thân là có bệnh đau đớn nhức mỏi tê liệt, bại xụi, tật nguyền, đui điếc, ô uế.

“Hỡi này phải chịu khổ cho ta.
Mưa gió phong sương thể bất hòa
Đau ốm thanh niên đành bó gối
Liệt mê tuổi trẻ phải làm ra
Trể chơn sự nghiệp vì lâm bệnh
Lỡ bước công danh bởi sởi da
Đau nhức nỗi niềm ngồi rũ riệt
Nợ nần nghèo thiếu nghĩ không ra”

(3) LÃO KHỔ

Già nua, da nhăn, má hóp, mắt lòa, tai điếc, chân run, khó ăn, khó ngủ, lẫn lộn.

“Da nhăn, đầu bạc, tính không ra
Tứ hải, non sông phải giữ nhà.
Tai điếc, mắt lòa, còn sợ chết
Lưng còm gối mỏi có như ma.
Nghẹn ngào ăn uống ngon thành đắng.
Lếu láo rượu trà quí hóa nhòa
Còn xác không hồn, đèn trước gió
Thì ra biết khổ tuổi nua già.”

(4) TỬ KHỔ

Khi sắp chết thật là ngặt mình đau bức, đau khổ nào ai biết, chỉ có người chết biết thôi, lòng kinh sợ ghê tởm mang theo đó không nói với ai được.

Cái khổ khi sắp chết thật bức bách đau đớn rùng rợn: Khổ như con cua rang trong chảo, như con heo bị trói cùm thọc tiết, như con gà bị cắt cổ như xử gião từ miếng thịt. Khổ thống thiết mà miệng không nói được, tay chơn không dãy dụa được. Không có gì đau khổ hơn ngặt mình chết.

“Mong manh còn mất tuổi nua già
Xảy đến vô thường khổ quá ta
Như gỗ nằm trơ hồn vía dại
Khóc than van dội vợ con là,
Quan tài một cỗ ghì neo sát
Tang chủ đầy đàng tiễn xác ma
Dương thế âm ty đôi nẻo biệt
Đêm đen nấm mộ tuyết sương pha”

(5) CẦU BẤT ĐẮC KHỔ

Là sự mong muốn không đặng, khổ, nếu “An thọ khổ nhẫn” thì bớt khổ.

(6) ÁI BIỆT LY KHỔ

Là người yêu mà xa lìa, khổ.

(7) OÁN TẮNG HỘI KHỔ

Kẻ thù oán mà cứ gặp, khổ. Từ cái khổ thứ năm đến thứ bảy, chỉ dùng pháp “an thọ khổ nhẫn” là hơn.

(8) NGŨ ẤM XÍ THẠNH KHỔ

Ngũ ấm là chứa năm thứ:

(a) Sắc thân thạnh (mập quá, ốm quá khổ)
(b) Tho.
(c) Tưởng
(d) Hành
(e) Thức

Những khổ là do không an nhẫn được mới sanh ra khổ, an nhẫn thì nhẹ nhàng bớt khổ và hết khổ.

An nhẫn là vui chịu với nó. Ví như ta có con cháu đông nó làm ồn khó chịu quá, bực tức khổ sở quá, nó là con cháu ta đuổi nó đi đâu được, nếu an nhẫn lấy sự ồn ào của nó làm vui thì cũng vui được.

Cũng như ta đã lỡ trồng cây chanh kết quả có trái chanh chua quá, giờ ta biết làm ly nước chanh chút đường là ngon, lại biết thưởng thức mùi thơm khỏe của chanh nữa. Chớ không thể bỏ trái chanh mà có trái chanh được vì phần ta có trái chanh mà thôi.

Có người nói thí dụ khác biệt quá! Không khác biệt đâu, thí dụ rất xác thực. Như khi ta đau, lẽ tất nhiên phải chịu, nó là cái thân của ta làm sao từ chối được, nên ta vui chịu với nó, cứ thản nhiên. Đói ăn rau đau uống thuốc, còn chết sống mặc tình ta không nghĩ tới, như phần chết thì chết ta vẫn yên vui mà chết – mà không vui cũng không khỏi còn bịnh thì sẽ hết ta cũng không nghì gì. Được như vậy tuy cũng đau cũng chết như mọi người, nhưng ta thấy nhẹ nhàng hơn.

Nói thế không phải vô vị đâu, mà thật tế và khoa học, nếu “an thọ khổ nhẫn” là nhẹ nhàng lắm vậy. Đây: Cơ thể con người bên trong những tế bào là vi trùng thủ thành, bên ngoài là vi trùng giặc xâm nhập vào theo miếng ăn, nước uống, hơi thở và theo lỗ chơn lông mà vào cơ thể ta. Bên trong vi trùng thủ thành luôn luôn phải chiến đấu, trong thân ta là một bãi chiến trường giữa tế bào và vi trùng. Khi tế bào chiến bại là ta đau, bại luôn là ta chết, tế bào chiến thắng là ta mạnh, và không nhiều thì ít lúc nào tế bào cũng phải chiến luôn với vi trùng không ngừng. Còn tâm ta là chủ xúc động của tế bào, cũng như chủ soái của muôn binh. Chủ soái mà buồn rầu lo sợ thì muôn binh nãn chí phải thất trận, chủ soái tươi cười hăng hái thì muôn binh hứng chí phấn đấu thắng trận. Cũng thế nếu ta buồn rầu lo sợ thì tế bào rũ rượi chiến bại, nếu ta bình tỉnh vui tươi thì tế bào hăng hái chiến thắng. Đó là lấy tinh thần mà trị bệnh bằng cách “an thọ khổ nhẫn” cho cơn bệnh mau hết và nhẹ nhàng, còn số phần chết thì cũng nhẹ nhàng mà trút linh hồn không thống khổ như cái chết khổ nói trên.

Tâm thức chuyên chú đến đâu thì thấy rõ rệt đến đó, cho nên chuyên chú đến bệnh lo lắng đến chỗ bệnh chỗ đau, thì thấy cái đau rất khổ, nhức nhối mệt nhọc, nếu lo sợ thì bệnh tăng thêm lên, nếu thản nhiên kiên nhẫn, quên nó đi thì bệnh sẽ nhẹ bớt, nếu bệnh nhẹ sẽ hết ngay.

Ví như ta lỡ đứt tay thấy đau rất khó chịu, bỗng nghe đằng xóm có nhà cháy, vụt chạy chữa lửa khi đó tức nhiên quên vết thương và quên đau.

Cái bệnh đau không tránh được phải chấp nhận và an nhẫn vui chịu, mặc dầu bệnh nặng không ăn, không ngủ, cứ nghĩ rằng: “sống cũng được mà chết cũng xong,” thuốc thì cứ trị cho đúng pháp, không lo không sợ. Hẳn như vậy là sẽ nhẹ nhàng, bớt đau đớn, bệnh mau mạnh, bệnh nặng sẽ chết cũng nhẹ nhàng mà chết. “An thọ khổ nhẫn” là pháp thiền trị bệnh rất hay.

Đến như sự sanh sống ai cũng cần sanh hoạt làm lụng để nuôi sống, nhưng biết an nhẫn dù nghèo cực chỉ khổ thân, chớ không khổ tâm, lúc nào cũng vui chịu với số phần mình. Như trên đã nói người giàu cũng như có trái cam ngọt, còn nghèo như chỉ có trái chanh, bây giờ ta vui với trái chanh, làm ly nước chanh ngon.

Như già nua ta cũng vui vẻ vì đã hơn những người chết yểu, còn chết lẽ tất nhiên nó sẽ đến cho tất cả mọi người phải chấp nhận. Không chấp nhận, dầu có buồn lo sợ sệt cũng không khỏi. Cái chết hẳn là quyết định còn gì lo sợ.

Cứ mỗi khi bệnh ta cứ nghĩ ngay rằng: Chết cũng được, tùy nó ta không nghĩ ngợi lo tính gì cả. Hơn nữa ngay khi mạnh khỏe cứ mỗi đêm đến ngủ, ta cứ tưởng chừng như đêm nay ngủ luôn một giấc ngàn thu cũng được. Có nhiều người ngủ luôn như vậy rồi.

“Dép dưới giường, lên giường vội biệt.
Sống ngày nay dễ biết ngày mai!”

Nhưng khi sáng ta lại tỏ ra chưng hửng! Ờ như vậy là ta sống thêm một ngày nữa. Thế là khỏe quá vì đời sống ta cắt đứt từng ngày một thôi.

Người ta bảo: “không lo xa ắt có hại gần” (nhơn vô viễn lự tất hữu cận ưu) nhưng xét cho kỹ lo xa nhiều khi vô lý, vì lo mà chuyện chưa tới, biết xảy ra sao mà lo. Câu khéo nói: “Kiến cơ nhi tác“, tức là gặp việc sẽ tính vậy.

Công việc làm ăn của ta có chương trình sắp đặt rồi, cứ theo đó mà làm, tùy thời cơ thay đổi thế nào thì uyển chuyển thay đổi theo thế ấy, việc thay đổi biết ra sao mà lo tính trước.

Không lo xa ắt có hại gần là: lo tu tạo phước đức để dành tương lai là lo xa, còn như không tu tạo phước đức cứ thấy lợi làm càng, đó là không lo xa sẽ có hại gần vậy. Chớ nào phải nói lo lắng tính toán cho công việc làm ăn hơn thua lợi hại mà được.

An nhẫn là hơn, an nhẫn là lo xa vì nhẫn không tham danh lợi, an nhẫn làm điều thiện là không có họa gần.

Có hai việc lớn là chết và sống (sanh tử sự đại) nhưng ta cố quên bệnh, chết và sự sanh sống đối với ta rất nhẹ nhàng. Bây giờ sanh tử như người khách, đến thì đến, đi thì đi, nó không còn là sự đại nữa, mà nó là một cỏn con thôi.

Thiền gia có thí dụ: “Ông già nuôi một con khỉ rất khôn, hôm nọ ông mua mười lăm cái bánh cam và lấy cái dao ra dấu bảo khỉ làm rồi sân cỏ sẽ được ăn hết mười lăm bánh cam.

Khi lãnh dao ra nhìn thấy sân cỏ nhiều quá, ngán không làm liệng dao chạy vô ngồi rầu rũ rượi. Thấy vậy ông già liền phân ra mười lăm ô cỏ, rồi bảo khỉ cứ làm rồi một ô là ăn một cái bánh. Khỉ ta thấy ô cỏ nhỏ thích quá liền vui làm hăng hái làm mau rồi chạy vô ăn một cái bánh cam, ăn xong chạy ra làm nữa, làm xong vô ăn. Cứ như thế khỉ ta làm và ăn luôn một hơi xong hết sân cỏ và ăn hết mười lăm bánh cam.

Đời sống và việc làm của ta cũng vậy đó, cắt thời gian ra từng ngày, cứ nghĩ cho làm xong ngày nay thôi và ăn hai bữa cơm, mai sẽ hay. Như vậy cứ ngày lại ngày qua, ngày nào lại không làm, ngày nào lại không ăn, thế mà nó khỏe tâm. Còn giàu nghèo đắc thất thì tùy theo nghiệp nó đến, người ta nói: “tận nhẫn lực tri thiên mạng” (đó là đạo Nho nói, còn đạo Phật dạy là do nhân quả mình tạo, không phải mạng trời) như vậy là ta đã tận nhơn lực rồi bởi ngày nào cũng làm. Trái lại, lo xa quá mà ngày nào cũng làm bao nhiêu đó thôi. Cắt đứt thời gian ra từng ngày, ngày nào cũng làm không lo, không khổ, tâm ắt khỏe, tâm có thể làm tăng năng xuất hơn người lo lắng mệt nhọc kia. Khổ thân mà khỏe tâm, nhưng khỏe tâm thì thân nhẹ nhàng. Cũng mỗi ngày mỗi làm mà tâm cứ lo lắng cho suốt đời khổ quá! Khổ quá! Rồi thân xác rũ rượi đau ốm bệnh tật làm không bằng ai, càng ngày càng thất bại, càng khổ đau chồng chất.

Không phải lo mà giàu, không lo mà nghèo, chỉ có ảnh hưởng phần nào siêng hay làm biếng mà thôi, cũng không phải khôn sống dại chết, chỉ có ảnh hưởng phần nào của sự thiện hay ác mà thôi, còn phần là do nghiệp. Ta không đồng ý với câu “thiên mạng” (thời trời). Không! Thời là do nhân tạo đời trước thời nay đến. Thế nên do nhân quả mà ra. Còn khôn chỉ làm thiện, dại thì làm ác tạo nhân quả cho đời sau.

Chỉ “an thọ khổ nhẫn” để trả nghiệp trước và tạo nhân lành cho đời sau. Khôn với dại thông qua nghiệp trước được. Thế thì đối với nghiệp trước sẽ đến thì khôn sẽ không sao khỏi, dại cũng thế thôi!

Ta rất thán phục Nho nói: “Họa lai thần ám, phước chí tâm linh” nghĩa là: Họa đến thần thức mê tối nói gì cũng trật, làm gì cũng hư, nghĩ gì cũng sai, còn phước đến thì thần thức sáng suốt, nói là trúng, làm là nên, nghĩ là hay.

Đối với nghiệp trước nay nó đến thì khôn cũng không chi, dại cũng không chi, chỉ có thời mà thôi, thời tiết là do “an thọ khổ nhẫn“, làm thiện đời trước, không phải khôn đời nay mà được, thời xấu là do thời trước phóng túng làm ác mà đến nay, không phải thời nay dại mà ra.

Khôn với dại thời nay ảnh hưởng cho đời sau.

Ta thử bàn Hàn Tín khôn hay dại?

Hẳn ai cũng cho rằng Hàn Tín là khôn. Tín lãnh ấn nguyên nhung cả phá Tam Tần, đuổi bức Hạng Võ chạy đến Ô Giang cắt đầu giao cho Đình Trường. Thật Hàn Tín mưu lược thần tài đâu phải dại nhưng cũng vẫn là thời “phước chí tâm linh” làm chi được nấy, nói đâu trúng đó, nào phải hoàn toàn là khôn mà được sao? Thử hỏi khi thời xấu đến “họa lai thần ám”. Khoái Triệt đã biết Hán Bái Công là người mà Hàn Tín không thể chung sống được, nên khuyên Tín giữ đức Tam Tần mà xưng Vương, lúc bấy giờ Hạng Võ còn ở Cối Kê rất sợ Hàn Tín không dám động đến, còn Hán Bái Công cũng chịu nhường không dám đánh, được giữ thế vững như đỉnh Ba Chơn mà yên thân. Thế mà Hàn Tín không nghe theo, Khoái Triệt chỉ thương thầm mà thôi. Để rồi Hàn Tín đem cơ nghiệp thống nhất về cho Hán Bái Công, sau bị hiềm nghi Hán Bái Công nhốt Hàn Tín ở cung Vị Vương mà chết dưới tay Lữ Hậu. Thế là cái khôn của Hàn Tín là xài được khi thời tốt, nên đến thời hư thì thần ám mê muội không còn xài cái khôn được nữa.

Bởi biết là thời trước nên nay nên an nhẫn không buồn tức không đau khổ cứ thản nhiên, đó cũng là sáng suốt, cứ an vui là thoát ngoài vòng khôn dại.

“Khuyên chớ so đo dại với khôn
Có chi dại, có chi khôn
Khôn trong việc ác là khôn dại
Dại biết làm lành ấy dại khôn
Nếu biết có khôn là có dại
Thế là đừng dại cũng đừng khôn
Nhẫn sao khỏi vương vòng khôn dại
Mới thoát ngoài vòng dại mới khôn.”

Và khổ với vui cũng thế:

“Khuyên chớ so đo khổ với vui,
Có chi là khổ có chi vui,
Vui trong tham dục là vui khổ,
Khổ để tu hành khổ hóa vui
Nếu biết có vui là có khổ
Thà là đừng khổ cũng đừng vui
Nhẫn sao cho khỏi vòng vui khổ
Mới thoát ngoài vòng khổ với vui.”

Không phải an nhẫn là buông bỏ hết bổn phận và công ăn việc làm, mà vẫn làm trong bình tỉnh yên vui, nhọc thân không nhọc tâm.

Đời người nhiều nỗi đa đoan không khác cuồn chỉ rối, nếu biết an phận, bình tĩnh gỡ lần nó ra sẽ ra mối dễ dàng, không kham những bực tức bức xé lung tung rối càng rối thêm thôi.

An nhẫn mà nên cả muôn việc, không những chỉ gây thêm thù hận. Tự thân an nhẫn vô hoạn họa.

“Tự thân ta nhẫn cho hay,
Thà tiêu của cải nhẫn này đừng quên.
Ai ơi: Có chí thì nên
Có gì hơn nhẫn cho bền chí ta .”



*******************************************************************************

VỀ CHỮ NHẪN TRONG ĐẠO PHẬT
AN THỌ KHỔ THÂN
TRÒN BỔN PHẬN NGƯỜI CHA
AN THỌ KHỔ NHẪN – TRỌN ĐẠO HIẾU
AN THỌ KHỔ NHẪN LÀM TRÒN PHẬN MẸ
AN THỌ KHỔ NHẪN – trong tình Mẹ chồng Nàng dâu
NÀNG SAN HÔ
AN THỌ KHỔ NHẪN – Vợ Chồng Chung Thủy
AN THỌ KHỔ NHẪN TRỊ DÂN
AN THỌ KHỔ NHẪN LÀM QUAN
AN THỌ KHỔ NHẪN
ĐẾ SÁT PHÁP NHẪN
MỘT VÀI PHƯƠNG PHÁP TU NHẪN.


Leave a Reply