ĐẾ SÁT PHÁP NHẪN

Dec 26, 09 | Tâm Duyên | 4,848 views | No Comments



Share |




(Hình nhi thượng học)


nhanDùng trí quán sát thật tướng của các pháp, thấy được thật tướng của pháp tâm hòa đồng, bất động là “Pháp Nhẫn.”

Chữ “ĐẾ” là chắc thật, “SÁT” là quan sát. Chữ “PHÁP” là nói chung cho tất cả là sắc, là tâm, không gì ngoài pháp. Tất cả thế giới, sự vật, núi, sông, đất, đá, phàm vật gì có hình tướng khuôn khổ của nó, người xem liền biết là vật gì (nhậm kỳ tự tánh quỷ sanh vật giải). Như cái ghế, nó có đủ hình thức của nó, người xem biết ngay là cái ghế, muôn vật khác, mây, nước, v.v… cũng vậy. Xem thấy thuộc về pháp tướng, còn tâm thức niệm gì, tưởng gì, nghĩ gì, nhớ nghĩ gì, nói năng gì, thuộc về pháp tánh. Chung tất cả gọi là PHÁP.

1. Tất cả pháp đều vô thường luân chuyển, sanh diệt, diệt rồi sanh, không có gì tồn tại, không có gì chắc thật. Các pháp cứ nối nhau sanh diệt, không biết khởi đầu từ nơi đâu và đến đâu là chung.

Thời gian vô thủy vô chung, so với đời một kiếp của con người thật là vô vị, không ra gì, nó ngắn ngủi làm sao! Nếu có vị chăng là tu nhẫn được sống ngoài cái sanh diệt mới là chân chơn lý, thế cho nên cần tu học nhẫn.

2. Những pháp sanh diệt theo thời gian từ có con người đến nay, lấy một đoạn phân tích thời gian ngắn theo kinh Địa Tạng, Phật đã nói: “Giả như có người lấy quả địa cầu này nghiền nát ra thành bụi và cứ như vậy mãi cho đến hết số bụi của quả địa cầu. Bây giờ trở lại người ấy gom hết những thế giới có rải bụi hoặc không rải bụi, gom hết nghiền nát ra thành bụi tất cả. Như vậy cứ, mỗi một hột bụi kể một kiếp, Ngài Địa Tạng, mới phát tâm tu hành tới nay số kiếp bằng ngàn lần số bụi đó. Và như vậy mà so với thời gian vô thủy vô chung nó chỉ là một khoảng ngắn cỏn con mà thôi! Kiếp sống con người đối với khoảng thời gian xem chừng như một tích tắc. Đó là nói trong khoảng ngắn ngủi kể từ Địa Tạng phát tâm tu cho đến nay, còn trước lâu xa không tưởng tượng được.

Ta, mỗi chúng sanh đều đồng có nhau lúc ban sơ đồng như Ngài Địa Tạng mới có đến nay, như vậy mà suy ra Ta với chúng sanh từ có cho đến nay, cứ sanh rồi chết, chết rồi sanh, lâu dài triền miên số kiếp nhiều quá nhiều! Nhiều không thể lấy số cát sông Hằng mà ví mấy vạn muôn lần cho được. Hết thể tưởng tượng, nhưng hẳn có như vậy.

Vì nhiều kiếp lâu xa như vậy ta cùng với chúng sanh kể cả côn trùng – đã cùng nhau thay nhau sanh làm cha con , chồng vợ, anh em, ông bà, đã nhiều lần cùng nhau là ruột thịt cùng máu huyết nhiều đời, nhiều kiếp thật nhiều lắm rồi!”

Vì lẽ trên nên ta suy ra mỗi một chúng sanh nam là cha ta nữ là mẹ ta, ngược lại mỗi chúng sanh đều có sanh làm con ta rồi. Ôi! Quán sát thấy đặng như vậy rồi Ta mới nghĩ sau đây? Nếu đã là cha là mẹ hay là con của ta, thì Ta nên cùng nhau nhẫn nhục không hờn giận mới phải lẽ, chỉ một lòng thương tha thiết (từ bi) xây dựng cho nhau mà kham nhẫn (hỷ xả). Dầu cho bực tức đến đâu mà quan sát ra lẽ rồi thì tức giận tiêu hủy đều tiêu tan còn lại là một tình thương vô hạn, như vậy gọi là “Đế Sát Pháp Nhẫn“.

3. Vô ngã: Không có Ta .

Thân người do nhân duyên tứ đại hiệp thành không có cái gì là ta cả. Tứ đại là bốn chất:

ĐẤT (thổ đại) là lông da, răng, móng, tóc, xương, thịt, gan, ruột v.v… Tất cả thuộc về ĐẤT.

NƯỚC (thủy đại) là mồ hôi, nước mắt, máu, nước miếng, nước tiểu thuộc về NƯỚC.

LỬA (hỏa đại) là sự ấm nóng trong cơ thể thuộc về LỬA

GIÓ (phong đại) là hơi thở, cử động thuộc về GIÓ .

ĐẤT, NƯỚC, GIÓ, LỬA hiệp lại thành thân này, nó vốn giả có, không có cái gì là TA mà nay lại chấp TA rồi khởi tham, sân, si ai cũng như vậy rồi thấy tất cả đều không, bao nhiêu tham, sân, si không còn, gọi là “ĐẾ SÁT PHÁP NHẪN“.

4. Nhân sanh vạn vật vũ trụ đều theo định luật: THÀNH, TRỤ, HOẠI, KHÔNG. Vũ trụ khi mới có là Thành, khi bền vững là Trụ, rồi lần đến Hoại, cuối cùng tan rã thành Không. Một món đồ mới làm ra là Thành, thời gian còn tốt là Trụ, đến lúc hư lần là Hoại, cuối cùng tiêu mất là Không. Con người sinh ra là Thành, còn đủ sức khỏe là Trụ, lần đến già bịnh là Hoại, chết mất là Không. Bốn định luật vô thường luôn luôn thay đổi không ngừng, có gì đâu mà tham, sân, si, thế nên vui lòng kham nhẫn cho qua để tạo thành một công đức tốt cho tương lai kiếp thành cho đời sau.

5. Đế Sát Pháp Nhẫn là Tu Thiền.

Tâm ta nghĩ gì, niệm gì, tưởng gì, hoặc niệm thiện niệm ác. Giờ đây kiên nhẫn dứt bặt vọng tưởng, để tâm nguội lạnh như cây tàn cỏ rụi, như mây khói. Tâm không như cây đá, không phải cây đá không tâm. Nói cho rõ là Ta có tâm mà không tâm ví như cây đá vậy thôi.

Kham nhẫn cho tâm thanh tịnh là Pháp Đại Thừa Thiền. Như trên đã nói Thiền là để tâm không vọng tưởng, tức là tâm vắng lặng, còn đây là kham nhẫn luyện tâm thanh tịnh.

Tịch tĩnh vắng lặng khác hơn thanh tịnh. Thanh tịnh là ở trong chỗ động mà tâm vẫn tịnh.
Vắng lặng là tâm không nghĩ gì, miệng không nói gì, tai không nghe gì, lại ở chỗ vắng lặng, là Tiểu Thừa Thiền.

Còn tâm thanh tịnh là tâm có nghĩ, miệng có nói, tai có nghe, thân có làm, gần gũi người để hóa đạo, mà trong tâm trong ngần không một mảy may nào vướng mắc. Đi, đứng, nằm, ngồi làm lụng nói năng hợp pháp, tùy duyên bất biến, bất biến mà vẫn tùy duyên, trọn không đắm nhiễm. Ví như Ngọc Minh Châu lăn trên đất không hề dính bụi . Đây là kham nhẫn cho đến căn cơ thuần thục. Tâm thoát tục hoàn toàn nhập vào “hình nhi thượng“.

Nhưng hiện là người tu chưa được thì cố gắng kham nhẫn để tâm không, khi thấy đặng tâm không (vô sở đắc) thì cố gắng cho được nhiều lần, nhiều lần. Như ban sơ để tâm không được, mười lăm phút liền vọng tưởng lần sau cố nhân thêm cho lâu hơn mười phút, mười lăm hai chục phút, nhiều lần hơn.

Kham nhẫn như thế gọi là “VÔ SANH PHÁP NHẪN” nghĩa là không sanh pháp nhẫn. Mỗi khi giận buồn phiền tức rồi dằn xuống gọi là nhẫn. Nhưng nhẫn cho được tâm không vọng tưởng là không còn sầu não, không tham si, thì đâu còn gọi là nhẫn (vô sanh pháp nhẫn) là vậy.

Nên biết khi nhẫn được vô sanh lúc bấy giờ rỗng không đó là “VÔ THỦY VÔ MINH” có cơ duyên làm cho nổ tung vô thủy vô minh, chừng đó mới thật chứng.

Một chữ nhẫn là đạo hạnh chung cho cả nhân loại, dầu người đạo nào mà thiếu chữ nhẫn thì không phải là đạo; người làm đúng đắn mà thiếu chữ nhẫn không nên người; tôn giáo mà thiếu nhẫn không phải tôn giáo.

Người tu nhẫn ví như trời trong mây tạnh, thế mà còn sân tham thì ví như trời trong mà có sấm sét là chuyện quái gỡ . Người không tu dầu có sân, tham là việc thường, vì họ không tu ví như mây mù có sấm chớp là việc thường. Còn người tu như trời trong thanh cao thượng hơn thì phải giữ đừng sân tham cho không quái gỡ . Nếu người tu mà con sân tham thì bị người ta nói: “Tu mà còn vậy!”, nói như vậy là phải lắm, mình phải kham nhẫn mà sửa mình.

Có một chữ Nhẫn mà nên người Hiền nhân quân tử .
Có một chữ Nhẫn mà nên sự nghiệp.
Có một chữ Nhẫn mà tu thành công đắc quả.

Chữ nhẫn hơn ngàn vàng, hơn tất cả báu vật, hơn cả đế vương, giang sơn gấm vóc. KHÔNG GÌ HƠN NHẪN ĐƯỢC!!!


*******************************************************************************

VỀ CHỮ NHẪN TRONG ĐẠO PHẬT
AN THỌ KHỔ THÂN
TRÒN BỔN PHẬN NGƯỜI CHA
AN THỌ KHỔ NHẪN – TRỌN ĐẠO HIẾU
AN THỌ KHỔ NHẪN LÀM TRÒN PHẬN MẸ
AN THỌ KHỔ NHẪN – trong tình Mẹ chồng Nàng dâu
NÀNG SAN HÔ
AN THỌ KHỔ NHẪN – Vợ Chồng Chung Thủy
AN THỌ KHỔ NHẪN TRỊ DÂN
AN THỌ KHỔ NHẪN LÀM QUAN
AN THỌ KHỔ NHẪN
ĐẾ SÁT PHÁP NHẪN
MỘT VÀI PHƯƠNG PHÁP TU NHẪN.


Leave a Reply